Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KIM BÔI

TỈNH HOÀ BÌNH


CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Số : 05/2025/DS-ST

Ngày 23/5/2025

Về việc : Tranh chấp hợp đồng đặt cọc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BÔI, TỈNH HÒA BÌNH

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

  • - Thẩm phán chủ toạ phiên toà : Bà Bùi Thị Mai Linh
  • - Các Hội thẩm nhân dân : Ông Quách Ngọc Ánh và ông Bùi Văn Mến
  • - Thư ký toà án ghi biên bản : Bà Bùi Hồng Duyên
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bôi tham gia phiên tòa : Bà Bùi Thanh Lương – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 06 năm 2025 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Kim Bôi, tỉnh Hoà Bình mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 16/2024/TLST-DS ngày 05 tháng 04 năm 2024 về việc : Tranh chấp hợp đồng đặt cọc theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2025/QĐXXST-DS ngày 6 tháng 06 năm 2025 giữa các đương sự :

  • - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1982. Có mặt
  • ĐKHKTT: 51/7, đường A, P - T - TP Hà Nội
  • - Người đại diện theo ủy quyền : ông Phạm Thanh N sinh năm 1981
  • ĐKHKTT : 51/7, đường A, P - T - TP Hà Nội
  • - Đồng Bị đơn: + Ông Đinh Công T sinh năm 1960. Vắng mặt
  • + Bà Bùi Thị D, sinh năm 1960.Vắng mặt
  • Cùng ĐKHKTT : xóm T, xã H, huyện K, tỉnh Hòa Bình
  • - Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng : Ông Nguyễn Chí H1, sinh năm 1983. Có mặt
  • ĐKHKTT : thôn T, xã T, huyện C, TP Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN :

* Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H và người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn trình bày :

Cuối năm 2021 anh Lê Công Đ là người quen giới thiệu với tôi anh Đ có quen biết người dân muốn chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại xóm T xã H huyện K tỉnh Hòa Bình, anh Đ bảo anh Bùi Văn D1 đang làm môi giới thửa đất này, tôi đến gặp anh D1 thì anh D1 bảo chị Bùi Thị L là người môi giới chính. Sau đó chúng tôi đến gặp chủ đất là ông Đinh Công T, sau khi xem đất xong tôi đến nhà bà L để trao đổi. Tôi đã đưa trước tiền đặt cọc cho bà L 200.000.000đ ( Hai trăm triệu đồng ), hẹn khi nào làm việc được với ông T thì cọc thêm 600.000.000đ ( Sáu trăm triệu đồng ) nữa. Đến ngày 27/01/2022 hai vợ chồng tôi cùng bà L, anh D1 và anh Đ cùng đi đến nhà ông T, hôm đó có vợ chồng ông T bà D ở nhà,

mục đích đến nhà ông T là để tôi chuyển cọc trực tiếp sang cho ông T, tại đây bà L bảo ông T nhận cọc trực tiếp với tôi sau đó bà L và ông T làm việc với nhau sau. Ông T đồng ý và cam kết với tôi sẽ ra được bìa mới theo đúng hiện trạng sử dụng là 11 ha nên tôi và vợ chồng ông T đã ký Hợp đồng đặt cọc mua bán nhà đất ( người làm chứng là anh Lê Công Đ ). Nội dung Hợp đồng thỏa thuận : Vợ chồng ông T đồng ý chuyển nhượng cho tôi 96.000m2 đất rừng sản xuất tại địa chỉ xóm T xã H - K - Hòa Bình. Đây chính là thửa đất số 49, 50 tờ bản đồ 07 đã được UBND huyện K cấp Giấy CNQSD đất đứng tên ông Đinh Công T ngày 02/12/1998, số vào sổ 00499. Giá chuyển nhượng là 2,8 tỷ đồng, bên mua đặt cọc trước số tiền 800 triệu đồng. Bên bán có trách nhiệm trích đo lại và cấp đổi sổ mới với S = 110.000m2 ( 11 ha).Thời hạn ra sổ mới là 90 ngày kể từ 27/1/2022 đến 27/4/2022. Nếu thời hạn trên mà bên bán không ra được sổ thì phạt cọc gấp 3 lần số tiền đặt cọc, tổng cộng = 2,4 tỷ đồng.

Việc ra sổ là do bà L và vợ chồng ông T tự thỏa thuận với nhau còn tôi chỉ thỏa thuận với vợ chồng ông T là bên bán ( tức vợ chồng ông T bà D ) phải có trách nhiệm ra bìa mới chứ tôi không thỏa thuận với bà L.

Cùng ngày ký Hợp đồng tôi đã giao số tiền đặt cọc trước cho vợ chồng ông T bà D trực tiếp nhận 600 triệu đồng nhưng trong Hợp đồng đặt cọc có ghi số tiền đặt cọc là 800 triệu đồng. Vì ông T bà D đồng ý cộng cả 200 triệu tôi đã giao cho bà L trước đấy là tiền công môi giới bán đất của bà L nên ông T đã ghi dòng chữ “Tôi đã nhận đủ số tiền đặt cọc ” ở bên dưới Hợp đồng này.

Đến ngày 27/4/2022 tôi đã mang số tiền 2 tỷ đồng đến nhà ông T yêu cầu tiếp tục thực hiện việc chuyển nhượng QSD đất nhưng do ông T bà D chưa ra được sổ mới theo diện tích như đã thỏa thuận trong Hợp đồng nên không thực hiện việc chuyển nhượng được. Vì vậy hai bên đã lập Biên bản xác nhận tiến độ thực hiện hợp đồng đặt cọc nêu trên với nội dung : việc chuyển nhượng không thực hiện được do lỗi của ông T, bà D. Dó đó tôi có quyền yêu cầu ông T, bà D nộp phạt vi phạm Hợp đồng số tiền 2,4 tỷ đồng, ông T bà D đề nghị tôi cho thêm thời gian để hoàn tất thủ tục ra Bìa đất mới, cam kết chậm nhất đến 20/8/2022 sẽ ra Bìa đất mới. Tôi đã nhờ anh Lê Công Đ viết Biên bản xác nhận này, sau đó tôi đã nhiều lần thông báo qua anh Lê Công Đ yêu cầu ông T bà D ra Bìa mới để thực hiện chuyển nhượng QSD đất nhưng cho đến nay ông T bà D vẫn chưa ra được B mới. Do ông T và bà D vi phạm nghĩa vụ không ra được B mới với diện tích 11 ha nên tôi cũng không muốn nhận chuyển nhượng QSD đất nữa. Vì vậy tôi khởi kiện yêu cầu ông T bà D có nghĩa vụ liên đới trả tôi số tiền gốc đã đặt cọc là 800.000.000đ ( T1 trăm triệu đồng) và tiền phạt cọc gấp đôi là 1.600.000.000đ (Một tỷ sáu trăm triệu đồng). Tổng cộng là 2.400.000.000₫ ( Hai tỷ đồng bốn trăm triệu đồng ).Tôi xin rút yêu cầu tính lãi.

Toàn bộ số tiền đặt cọc là tiền riêng của cá nhân tôi, việc tôi thỏa thuận đặt cọc mua bán thửa đất trên là việc làm ăn riêng của cá nhân tôi không liên quan đến gia đình chồng con tôi.

* Quá trình giải quyết vụ án đồng Bị đơn ông Đinh Công T, bà Bùi Thị D và người đại diện theo ủy quyền của các đồng Bị đơn trình bày:

Vợ chồng ông Đinh Công T và bà Bùi Thị D có ký Hợp đồng đặt cọc thỏa thuận chuyển nhượng 96.000m2 đất rừng sản xuất tại địa chỉ xóm T xã H - K - Hòa Bình cho bà Bùi Thị L với giá 2,1 tỷ đồng, đất đã có Giấy CNQSD đất do UBND huyện K cấp, số vào sổ 00499 QSDĐ đứng tên ông Đinh Công T. Bà L đã đưa trước cho vợ chồng ông bà số tiền đặt cọc 600.000.000₫ ( sáu trăm triệu đồng ).

Vợ chồng ông cũng xác nhận có ký Hợp đồng đặt cọc mua bán nhà đất ngày 27/01/2022 để thỏa thuận chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất nêu trên cho bà Nguyễn Thị H, giá chuyển nhượng là 2 tỷ 800 triệu đồng vì bà L là người môi giới bán đất cho bà H nên mới phát sinh việc lập 02 hợp đồng với 02 người khác nhau như vậy.

Trong hợp đồng đặt cọc với bà H có ghi số tiền đặt cọc là 800 triệu đồng nhưng thực tế vợ chồng ông mới nhận được 600 triệu đồng tiền đặt cọc từ bà L. Tuy nhiên, khi ký Hợp đồng đặt cọc mua bán nhà đất với bà H trong hợp đồng có ghi bà H đặt cọc trước cho vợ chồng ông 800 triệu đồng, vợ chồng ông vẫn đồng ý ký vì nghĩ rằng sau này sẽ nhận đủ 2 tỷ 100 triệu đồng như đã thỏa thuận với bà L là được, do bà L là người môi giới, bà L mua của vợ chồng ông với giá 2 tỷ 100 triệu đồng và bán lại cho bà H với giá 2 tỷ 800 triệu đồng, vợ chồng ông cũng đồng ý việc môi giới là phải có công nên đã đồng ý ký tên vào hợp đồng đặt cọc mua bán nhà đất ngày 27/01/2022 với bà H, còn việc thỏa thuận đi làm thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là do bà H và bà L thỏa thuận với nhau vợ chồng ông không biết gì. Hiện nay vợ chồng ông không liên lạc được với bà L nữa.

Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vợ chồng ông không đồng ý mà vẫn có nguyện vọng tiếp tục bán lô đất rừng nêu trên cho bà H theo giá thị trường ở thời điểm hiện tại. Việc không làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất được là do lỗi của bên mua không trả nốt số tiền còn lại.

Người làm chứng anh Lê Công Đ trình bày : Ngày 27/1/2022 tại gia đình ông Đinh Công T tôi có được chứng kiến việc chị H thỏa thuận và ký kết Hợp đồng đặt cọc mua bán nhà đất với vợ chồng ông T và bà Bùi Thị D. Cụ thể chị H thỏa thuận nhận chuyển nhượng 96.000m² đất rừng của ông T, bà D với giá 2,8 tỷ đồng. Ông T, bà D ( bên bán ) có trách nhiệm đo đạc lại và ra sổ mới với diện tích 110.000m² trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày 27/1/2022 đến ngày 27/4/2022, quá thời hạn này không ra được sổ bên bán sẽ chịu phạt cọc gấp 3 lần số tiền đặt cọc. Cùng ngày chị H đã đặt cọc cho ông T và bà D số tiền 800.000.000₫ ( Tám trăm triệu đồng). Khi chị H giao tiền đặt cọc tôi có được chứng kiến, phía gia đình ông T bà D có con trai của ông bà cũng có mặt, ông T bà D đã trực tiếp ký và điểm chỉ Hợp đồng đặt cọc. Sau khi ký hợp đồng đặt cọc cho đến nay tôi được biết vợ chồng ông T vẫn chưa ra được sổ như đã cam kết mặc dù chị H đã nhiều lần thúc giục và cho gia hạn, thậm chí chị H còn nhiều lần nhờ tôi và nhắn quan tôi vào yêu cầu ông T bà D ra bìa.

Đối với Biên bản xác nhận tiến độ thực hiện hợp đồng đặt cọc đã ký ngày 27/1/2022 lập ngày 27/04/2022 ông T, bà D khai không được ký ghi họ tên vào Biên bản này vì vậy

ngày 21/5/2025 Tòa án đã ra Quyết định trưng cầu giám định đối với “ chữ ký và chữ viết họ và tên ” của ông Đinh Công T và bà Bùi Thị D trong Biên bản xác nhận tiến độ thực hiện hợp đồng đặt cọc đã ký ngày 27/1/2022 lập ngày 27/04/2022. Theo kết luận giám định số 284/KL-KTHS ngày 30/5/2025 của phòng K Công an tỉnh H thì đó đúng là chữ ký và chữ viết của ông Đinh Công T và bà Bùi Thị D

Ngày 06/6/2025 Tòa án cũng đã xác minh tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện K, theo kết quả xác minh : Đến thời điểm hiện tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện K chưa tiếp nhận được Hồ sơ đề nghị cấp đổi Giấy CNQSD đất của ông Đinh Công T và bà Bùi Thị D đối với thửa số 49, 50 tờ bản đồ 07 ở xóm T xã H, huyện K - Hòa Bình. Ngày 02/12/1998 UBND huyện K đã cấp Giấy CNQSD đất đứng tên ông Đinh Công T đối với 02 thửa đất nêu trên có tổng diện tích = 96.000m² số vào sổ 00499 QSDĐ.

Do các đương sự không thống nhất được về toàn bộ nội dung vụ án nên vụ án phải đưa ra xét xử.

* Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bôi tại phiên tòa :

- Về tố tụng : Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án : Đề nghị HĐXX :

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 235; Điều 244; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của BLTTDS

Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 288; Điều 291 Bộ luật dân sự năm 2015 Điều 12 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn :

    Buộc ông Đinh Công T và bà Bùi Thị D phải có nghĩa vụ liên đới không chia phần trả cho bà Nguyễn Thị H số tiền đặt cọc là 800.000.000đ ( tám trăm triệu đồng ) và số tiền phạt cọc là 1.600.000.000đ (Một tỷ sáu trăm triệu đồng). Tổng cộng là 2.400.000.000₫ ( Hai tỷ bốn trăm triệu đồng )

  2. Về tiền lãi: Do nguyên đơn rút yêu cầu nên đề nghị HĐXX đình chỉ
  3. Đồng Bị đơn là người cao tuổi nên được miễn án phí. Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong Hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định :

[1] Về tố tụng :

Hành vi, quyết định tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, các đương sự không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đều hợp pháp.

Theo đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ khác có trong Hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp dân sự mà cụ thể thể là tranh chấp “Hợp đồng đặt cọc”. Đồng bị đơn có đăng ký thường trú tại xóm T, xã H, huyện K, tỉnh Hòa Bình căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình.

[ 2] Về nội dung vụ án :

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu có trong Hồ sơ vụ án HĐXX nhận thấy :

Ngày 27/01/2022 bà Nguyễn Thị H và vợ chồng ông Đinh Công T, bà Bùi Thị D có ký Hợp đồng đặt cọc mua bán nhà đất thỏa thuận : Vợ chồng ông T đồng ý chuyển nhượng cho bà H 96.000m² đất rừng sản xuất ( gồm các thửa 48/7 và 50/7 ) tại địa chỉ xóm T xã H - K - Hòa Bình, đất đã có CNQSD đất đứng tên ông Đinh Công T do UBND huyện K, tỉnh Hòa Bình cấp ngày 02/12/1998, số vào sổ 00499. Giá chuyển nhượng là 2,8 tỷ đồng, bên mua đặt cọc trước số tiền 800 triệu đồng. Bên bán có trách nhiệm trích đo lại và cấp đổi sổ mới với S = 110.000m² ( 11 ha).Thời hạn ra sổ mới là 90 ngày kể từ 27/1/2022 đến 27/4/2022. Nếu thời hạn trên mà bên bán không ra được sổ thì phạt cọc gấp 3 lần số tiền đặt cọc trên. Hợp đồng có chữ ký người làm chứng là anh Lê Công Đ.

Xét nội dung và hình thức của Hợp đồng phù hợp với quy định tại Điều 117 và Điều 328 Bộ luật dân sự 2015 nên có hiệu lực pháp luật.

Ông T, bà D khai đã nhận được 600.000.000đ ( sáu trăm triệu đồng ) tiền đặt cọc từ bà L là người môi giới bán các thửa đất trên đưa cho nhưng vẫn đồng ý ký Hợp đồng đặt cọc thỏa thuận bên mua đặt cọc trước số tiền 800.000.000đ ( T1 trăm triệu đồng) với bà H vì bà L là người môi giới, bà L mua của vợ chồng ông với giá 2 tỷ 100 triệu đồng và bán lại cho bà H với giá 2 tỷ 800 triệu đồng nên vợ chồng ông cũng đồng ý việc môi giới là phải có công.

Như vậy, ông T bà D đã xác nhận trong 800 triệu đồng thỏa thuận nhận cọc với bà H có cả tiền công môi giới mà trước đó bà H đã trả cho bà L. Vợ chồng ông bà đồng ý trả tiền công môi giới cho bà L nên mới ký Hợp đồng đặt cọc mua bán nhà đất có nội dung như trên với bà H, đồng thời ông T đã ghi dòng chữ “Tôi đã nhận đủ số tiền đặt cọc ” ở bên dưới Hợp đồng này. Vì vậy HĐXX xác định số tiền ông T, bà D đã nhận cọc của bà H là 800.000.000₫ ( T1 trăm triệu đồng) và ông bà đều phải có nghĩa vụ thực hiện theo đúng thỏa thuận của Hợp đồng.

Tại điều 2 của Hợp đồng đã ghi “ Bên bán có trách nhiệm đo lại và ra sổ mới với diện tích 11 ha trong thời hạn 90 ngày kể từ 27/1/2022 đến 27/4/2022. Nếu thời gian trên mà bên bán không ra được sổ thì phạt cọc gấp 3 lần số tiền đặt cọc trên”. Đến nay vợ chồng ông T vẫn chưa ra được sổ mới như đã cam kết mà cho rằng do bên mua không trả nốt số tiền còn lại nên không thực hiện được việc chuyển nhượng là không có căn cứ.

Theo kết quả xác minh của Tòa án, tính đến thời điểm hiện nay Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện K vẫn chưa tiếp nhận được hồ sơ đề nghị cấp đổi Giấy CNQSD đất đối với các thửa đất mà ông T bà D thỏa thuận nhận cọc để chuyển nhượng cho bà H nêu trên. Như vậy có căn cứ khẳng định phía ông T, bà D đã không đi làm thủ tục cấp đổi Giấy CNQSD đất như đã cam kết. Nay vợ chồng ông T lại cho rằng bà L là người có trách nhiệm

đi làm sổ mới là không có căn cứ, không đúng với thỏa thuận đã ghi trong Hợp đồng. Bà H cũng không thừa nhận có thỏa thuận để bà L đi làm thủ tục cấp đổi sổ mới. Hơn nữa tại Biên bản xác nhận tiến độ thực hiện hợp đồng đặt cọc đã ký ngày 27/1/2022 lập ngày 27/04/2022 vợ chồng ông T đã thừa nhận việc chuyển nhượng không thực hiện được do lỗi của ông T, bà D nên bà H có quyền yêu cầu ông T, bà D nộp phạt vi phạm Hợp đồng 2,4 tỷ đồng. Xét vợ chồng ông T bà D đã vi phạm nghĩa vụ cam kết trong Hợp đồng đặt cọc vì vậy bà H khởi kiện yêu cầu ông T bà D có nghĩa vụ liên đới trả bà H số tiền đã đặt cọc là 800.000.000đ ( T1 trăm triệu đồng) và tiền phạt cọc gấp đôi là 1.600.000.000₫ ( Một tỷ sáu trăm triệu đồng). Tổng cộng là 2.400.000.000₫ ( Hai tỷ đồng bốn trăm triệu đồng ) là có căn cứ chấp nhận.

Tại phiên tòa anh Phạm Thanh N chồng chị H và cũng là người đại diện theo ủy quyền của chị H xác định khoản tiền chị H đặt cọc là tài sản riêng của chị H và việc thỏa thuận mua bán đất cát là việc làm ăn riêng của chị H không liên quan đến anh, do đó HĐXX không xác định anh N là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án này.

- Về tiền lãi: Do nguyên đơn rút yêu cầu tính lãi nên nên Hội đồng xét xử đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện này của Nguyên đơn.

[ 3. Về án phí : Các đồng bị đơn là người cao tuổi nên được miễn án phí.

- Về chi phí giám định 7.000.000đ ( bảy triệu đồng ) : Nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ, xác nhận Nguyên đơn đã nộp đủ để chi phí hết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 235; Điều 244; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của BLTTDS

Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 288; Điều 291 Bộ luật dân sự năm 2015Điều 12; Điều 26 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn :

    Buộc ông Đinh Công T và bà Bùi Thị D phải có nghĩa vụ liên đới không chia phần trả cho bà Nguyễn Thị H số tiền đặt cọc là 800.000.000đ ( tám trăm triệu đồng ) và số tiền phạt cọc là 1.600.000.000đ ( Một tỷ sáu trăm triệu đồng ).Tổng cộng là 2.400.000.000₫ ( Hai tỷ bốn trăm triệu đồng )

    Kể từ ngày bà H có đơn yêu cầu thi hành án nếu ông T và bà D không trả số tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu thêm phần tiền lãi đối với số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357; Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  2. Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn đối với yêu cầu tính lãi.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm : Ông Đinh Công T và bà Bùi Thị D được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

H2 lại bà Nguyễn Thị H 40.000.000đ ( Bốn mươi triệu đồng ) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình theo Biên lai THA số 0003183 ngày 21/03/2024.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo : Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận

  • - TAND tỉnh HB;
  • - VKSND tỉnh HB;
  • - VKSND huyện Kim Bôi;
  • - Chi cục THADS huyện Kim Bôi;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS;

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa




Bùi Thị Mai Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2025/DS-ST ngày 23/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BÔI, TỈNH HÒA BÌNH về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Số bản án: 05/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BÔI, TỈNH HÒA BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn : Buộc ông Đinh Công T và bà Bùi Thị D phải có nghĩa vụ liên đới không chia phần trả cho bà Nguyễn Thị H số tiền đặt cọc là 800.000.000đ ( tám trăm triệu đồng ) và số tiền phạt cọc là 1.600.000.000đ ( Một tỷ sáu trăm triệu đồng ).Tổng cộng là 2.400.000.000đ ( Hai tỷ bốn trăm triệu đồng ) Kể từ ngày bà H có đơn yêu cầu thi hành án nếu ông T và bà D không trả số tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu thêm phần tiền lãi đối với số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357; Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. 2. Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn đối với yêu cầu tính lãi.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger