Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRIỆU PHONG

TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 05/2025/DS-ST

Ngày 21-02-2025

"V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU PHONG, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Quang Dưỡng và ông Hoàng Đức Bảo.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọc Thúy – Thư ký TAND huyện Triệu Phong.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại Hội trường TAND huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 75/2024/TLST-DS ngày 30 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 02/2025/QĐĐST-DS ngày 22 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S; địa chỉ: 2 N, phường V, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Võ Thị Như Q- Chuyên viên kiểm soát tuân thủ - Ngân hàng Thương mại Cổ phần S - Chi nhánh Q1 (Theo văn bản ủy quyền số 54/2025/GUQ-CNQT ngày 17/02/2025); có mặt.

Bị đơn: Ông Trần Văn B, sinh năm 1995; nơi cư trú: thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 16/10/2024 và tại phiên toà nguyên đơn Ngân hàng TMCP S trình bày:

Ngày 23/08/2022, ông Trần Văn B ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng với Ngân hàng TMCP S hạn mức 50.000.000 đồng, lãi suất 31,2 %/năm. Ngày 10/9/2022, ông B nhận thẻ, số thẻ 472074-9522. Quá trình sử dụng thẻ, ông B đã rút ra trả vào nhiều lần và lần sau cùng kỳ thanh toán 10/4/2024, từ đó cho đến nay ông B không thanh toán thêm lần nào nữa. Do ông B vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn vào ngày 10/9/2024. Theo các điều khoản và điều kiện phát hành, sử dụng thẻ cá nhân của Ngân hàng TMCP S thì ông B vi phạm Điều 24 của Hợp đồng nên Ngân hàng đã chuyển dư nợ của thẻ tín dụng sang nợ quá hạn là 49.187.246 đồng kể từ ngày 10/9/2024, với mức lãi suất quá hạn không quá 150% lãi suất trong hạn. Tính đến ngày 21/02/2025, ông B còn nợ Ngân hàng tổng cộng: 67.955.786 đồng (Sáu mươi bảy triệu, chín trăm năm mươi lăm ngàn, bảy trăm tám mươi sáu đồng), trong đó số tiền giao dịch (tiền gốc đã rút ra), phí liên quan đến việc sử dụng thẻ là 49.187.246 đồng, lãi trong hạn: 7.234.522 đồng; lãi quá hạn: 11.534.018 đồng.

Vì vậy, Ngân hàng TMCP S yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Triệu Phong giải quyết, buộc ông Trần Văn B phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền là 67.955.786 đồng, trong đó số tiền nợ gốc và phí liên quan đến việc sử dụng thẻ tính đến ngày 21/02/2025 là 49.187.246 đồng, lãi trong hạn 7.234.522 đồng, lãi quá hạn 11.534.018 đồng. Đồng thời ông Trần Văn B tiếp tục phải chịu khoản tiền lãi theo hợp đồng đã ký kết từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

Về phía ông Trần Văn B trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên toà hợp lệ cho ông Trần Văn B đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng ông B vẫn không có ý kiến, không đến Toà án để làm việc.

* Đại diện VKSND huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị trình bày ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và các Hội thẩm nhân dân, Thư ký đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 71 BLTTDS; bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 72 BLTTDS.

Về nội dung vụ án: Áp dụng khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 351, Điều 466 BLDS; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S. Buộc Ông Trần Văn B có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền là 67.955.786 đồng (Sáu mươi bảy triệu, chín trăm năm mươi lăm ngàn, bảy trăm tám mươi sáu đồng) trong đó: nợ gốc và phí liên quan đến sử dụng thẻ là 49.187.246 đồng, lãi trong hạn 7.234.522 đồng, lãi quá hạn 11.534.018 đồng. Ông Trần Văn B có nghĩa vụ tiếp tục chịu khoản tiền lãi đối với số tiền còn phải thi hành án kể từ sau ngày xét xử sơ thẩm (ngày 21/02/2025) cho đến khi thi hành án xong theo lãi suất đã thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng được ký kết giữa Ngân hàng TMCP S và ông Trần Văn B ngày 23/08/2022.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn, Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn ông Trần Văn B phải trả số tiền 67.955.786 đồng (Sáu mươi bảy triệu, chín trăm năm mươi lăm ngàn, bảy trăm tám mươi sáu đồng) theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 23/8/2022 giữa Ngân hàng TMCP S và ông Trần Văn B. Do đó, quan hệ tranh chấp được xác định là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng:

[2.1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn, ông Trần Văn B, cư trú tại xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị. Do đó, TAND huyện Triệu Phong thụ lý và giải quyết là phù hợp với điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2.2]. Về vắng mặt của bị đơn: Toà án triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn ông Trần Văn B vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.

[3] Về yêu cầu khởi kiện: Theo nội dung trình bày của nguyên đơn cũng như chứng cứ do nguyên đơn cung cấp đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử thấy:

- Về hiệu lực của hợp đồng: Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng ngày 23/08/2022 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP S và ông Trần Văn B được ký kết đảm bảo về chủ thể, mục đích, nội dung và hình thức theo quy định pháp luật. Vì vậy, Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng ngày 23/08/2022 có hiệu lực pháp luật.

- Về yêu cầu thanh toán nợ gốc và lãi: Ngày 23/08/2022, ông Trần Văn B ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng với Ngân hàng TMCP S hạn mức 50.000.000 đồng, lãi suất 31,2%, lãi suất quá hạn không quá 150% lãi suất trong hạn. Ngày 10/9/2022, ông B nhận thẻ, số thẻ 472074-9522. Quá trình sử dụng thẻ, ông B đã rút ra trả vào nhiều lần và lần sau cùng kỳ thanh toán 10/4/2024, từ đó cho đến nay ông B không thanh toán thêm lần nào nữa. Do ông B vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn vào ngày 10/9/2024. Căn cứ theo nội dung hợp đồng phát hành thẻ tín dụng ngày 23/8/2022 giữa Ngân hàng và ông Trần Văn B, Hội đồng xét xử thấy rằng nội dung hợp đồng phù hợp với quy định pháp luật, ông Trần Văn B không thanh toán các khoản nợ đã đến hạn, vì vậy ông B vi phạm hợp đồng đã ký kết với Ngân hàng. Do đó, Ngân hàng yêu cầu ông B phải trả số nợ là 67.955.786 đồng (Sáu mươi bảy triệu, chín trăm năm mươi lăm ngàn, bảy trăm tám mươi sáu đồng), trong đó tiền gốc, phí liên quan đến việc sử dụng thẻ tính đến ngày 21/02/2025 là 49.187.246 đồng, lãi trong hạn tính đến ngày 21/02/2025: 7.234.522 đồng; lãi quá hạn tính đến ngày 21/02/2025: 11.534.018 đồng. Đồng thời ông B tiếp tục trả khoản tiền lãi đối với số tiền còn phải thi hành án kể từ sau ngày xét xử sơ thẩm (ngày 21/02/2025) cho đến khi thi hành xong theo lãi suất đã thoả thuận tại giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng được ký kết giữa Ngân hàng TMCP S và ông Trần Văn B ngày 23/08/2022 là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Về án phí: Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S, buộc ông Trần Văn B có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng TMCP S số tiền là 67.955.786 đồng (Sáu mươi bảy triệu, chín trăm năm mươi lăm ngàn, bảy trăm tám mươi sáu đồng) nên ông B phải chịu án phí có giá ngạch đối với số tiền 67.955.786 đồng (Sáu mươi bảy triệu, chín trăm năm mươi lăm ngàn, bảy trăm tám mươi sáu đồng).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 351, Điều 466 BLDS; Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:

    Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S. Buộc Ông Trần Văn B có nghĩa vụ trả nợ tiền vay cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền là 67.955.786 đồng (Sáu mươi bảy triệu, chín trăm năm mươi lăm ngàn, bảy trăm tám mươi sáu đồng) trong đó: Số tiền gốc và phí liên quan đến việc sử dụng thẻ là 49.187.246 đồng, lãi trong hạn 7.234.522 đồng, lãi quá hạn 11.534.018 đồng.

    Ông Trần Văn B có nghĩa vụ tiếp tục chịu khoản tiền lãi đối với số tiền còn phải thi hành án kể từ sau ngày xét xử sơ thẩm (ngày 21/02/2025) cho đến khi thi hành án xong theo lãi suất đã thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng được ký kết giữa Ngân hàng TMCP S và ông Trần Văn B ngày 23/08/2022.

  2. Về án phí:

    • Bị đơn Ông Trần Văn B phải chịu 3.397.000 đồng (Ba triệu, ba trăm chín mươi bảy ngàn) án phí dân sự sơ thẩm.
    • Nguyên đơn, Ngân hàng TMCP S không phải chịu án phí. Trả lại cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 1.448.000 đồng (Một triệu, bốn trăm bốn mươi tám ngàn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000237 ngày 28/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Triệu Phong.

    Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.

  3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Trị
  • - VKSND huyện Triệu Phong;
  • - CCTHADS huyện Triệu Phong;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Đình Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2025/DS-ST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU PHONG, TỈNH QUẢNG TRỊ về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 05/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU PHONG, TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa NĐ: Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín và BĐ: Trần Văn bộ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger