|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ TỈNH QUẢNG TRỊ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 05/2025/DS-ST Ngày 07 - 02 - 2025 V/v Tranh chấp HĐ tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Huy.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Hoài Như;
- Bà Võ Thị Trúc Mai.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Chi- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.
Ngày 07 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị (địa chỉ: Số D-L, thành phố Đ), Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 180/2024/TLST-DS ngày 02/12/2024 về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2024/QĐXXST-DS ngày 30/12/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 03/2025/QÐST-DS ngày 15/01/2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S;
Địa chỉ: Số B N, phường V, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn: Bà Nguyễn Đức Thạch D-Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Võ Thị Như Q, Chuyên viên kiểm soát tuân thủ của Ngân hàng Thương mại cổ phần S-Chi nhánh Q1. (Văn bản ủy quyền số: 100/2024/GUQ-CNQT ngày 15/4/2024 và số: 30/2025/GUQ-CNQT ngày 06/02/2025). Có mặt.
2. Bị đơn: Bà Đặng Thị Diệu L, sinh năm: 1981;
Địa chỉ: Khu phố B, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[I] Theo đơn khởi kiện đề ngày 31/10/2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là Ngân hàng TMCP S (Ngân hàng S), trình bày:
(1) Ngày 31/10/2023, Ngân hàng S-Chi nhánh Q1, với bà Đặng Thị Diệu L, sinh năm 1981; trú tại: Khu phố B, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị (bà L) có ký kết Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (Bao gồm: Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng-các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của bà L, Ngân hàng S- Chi nhánh Q1 đã đồng ý cấp Thẻ tín dụng số: 472074-6659 (Thẻ), hạn mức: 50.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng. Giao dịch Thẻ, lãi suất-phí, thời gian thanh toán, như sau:
- Hoạt động giao dịch Thẻ, bao gồm: Rút tiền mặt, thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ tại những điểm chấp nhận Thẻ mà không cần phải có tiền sẵn trong Thẻ, với hình thức, rút tiền mặt hoặc chi tiêu trước, trả tiền lại cho Ngân hàng S sau.
- Lãi suất: 33,2%/năm (Trong hạn), quá hạn: 150% lãi suất trong hạn. Thời hạn tính lãi kể từ ngày rút tiền hoặc sử dụng dịch vụ. Sau 75 ngày kể từ ngày lập Thông báo giao dịch hoặc sau 03 kỳ Thông báo giao dịch liên tiếp, Ngân hàng S sẽ chấm dứt việc sử dụng Thẻ.
- Các loại phí: Phí trễ hạn: 6% số tiền chậm thanh toán (Tối thiểu 100.000 đồng); Phí vượt hạn mức: 0,075%/ngày (Tối thiểu 50.000 đồng); Phí thường niên: 299.000 đồng/năm.
- Thời gian thanh toán trước ngày đến hạn được ghi trên thông báo giao dịch, là ngày 05 hàng tháng (Nếu là ngày nghỉ, ngày lễ thì được tính vào ngày làm việc kế tiếp), số tiền phải thanh toán tối thiểu là 3% dư nợ cuối kỳ cộng với các khoản nợ quá hạn và khoản vượt hạn mức cấp tín dụng (Dư nợ cuối kỳ là tổng số tiền đã chi tiêu, đã rút tiền mặt, lãi suất và phí phát sinh nếu có).
- Khoản tiền phải trả bao gồm: Số tiền đã rút hoặc chi tiêu trước + lãi suất + chi phí dịch vụ.
(2) Trong quá trình sử dụng kể từ ngày kích hoạt Thẻ đến nay bà L đã thanh toán cho Ngân hàng S định kỳ vào ngày 05 của 02 tháng (T, 3/2024), với tổng số tiền: 1.020.000 đồng và từ đó đến nay, bà L không thực hiện nghĩa vụ thanh toán số tiền còn lại (65.155.902 đồng-Tính đến ngày 05/10/2024) nên Ngân hàng S căn cứ Điều 2, 20 và 23 của Điều khoản và điều kiện để chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn, cụ thể: Chấm dứt sử dụng Thẻ, áp dụng lãi suất quá hạn đối với toàn bộ dư nợ sau 03 kỳ Thông báo giao dịch liên tiếp (03 tháng), kỳ Thông báo giao dịch cuối cùng là tháng 8/2024.
Vì vậy, Ngân hàng S khởi kiện bà L, với yêu cầu:
Buộc bà L phải trả ngay cho Ngân hàng S, với tổng số tiền là 65.155.902 đồng tính đến ngày 05/10/2024, trong đó: Nợ gốc: 57.801.514 đồng; Lãi trong hạn: 4.902.925 đồng; Lãi quá hạn: 2.541.463 đồng.
Buộc bà L phải trả tiền lãi phát sinh kể từ ngày 06/10/2024 cho đến khi bà L trả hết nợ cho ngân hàng theo lãi suất quy định tại Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng đã ký.
* Tại phiên tòa, nguyên đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện, cụ thể:
- Thay đổi: Yêu cầu bị đơn phải trả cho nguyên đơn, tổng số tiền 65.245.902 đồng (57.801.514 + 4.902.925 + 2.541.463), lý do: Cộng trừ sai (Đơn khởi kiện là: 65.155.902 đồng, tăng 90.000 đồng).
- Bổ sung yêu cầu tiền lãi quá hạn tính từ ngày 06/10/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm (Ngày 07/02/2025), với số tiền: 11.909.679 đồng.
[II] Bị đơn là bà Đặng Thị Diệu L: Bà L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không giao nộp cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S và không tham gia phiên họp kiểm tra, tiếp cận việc giao nộp chứng cứ và hòa giải do Tòa án tổ chức.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[I] Về tố tụng:
(1) Thẩm quyền, quan hệ pháp luật tranh chấp: Tranh chấp giữa Ngân hàng S với bà L, phát sinh từ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng đề ngày 31/10/2023; bị đơn (Bà L) cư trú tại Khu phố B, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Do đó, có đủ căn cứ để xác định: Quan hệ tranh chấp trong vụ án này, là: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” và Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền được quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
(2) Việc bị đơn vắng mặt lần thứ 02 tại phiên tòa: Tòa án đã tống đạt hợp lệ thủ tục phiên tòa cho bị đơn theo đúng quy định của pháp luật đến lần thứ hai nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử trong trường hợp vắng mặt bị đơn.
(3) Việc thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn tại phiên tòa, thấy: Yêu cầu thay đổi, bổ sung tại phiên tòa của nguyên đơn không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu. Vì vậy, cần căn cứ khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự chấp nhận xem xét yêu cầu bổ sung của nguyên đơn trong cùng vụ án này.
[II] Về nội dung:
Xem xét tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, có căn cứ để xác định:
(1) Nội dung thỏa thuận giữa Ngân hàng với bà L được xác lập tại Văn bản “Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp Thẻ cá nhân đề ngày 31/10/2023 cùng với bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, có nội dung của một hợp đồng tín dụng. Theo đó, Ngân hàng S có nghĩa vụ thanh toán tiền chi tiêu, xuất tiền mặt khi bà L sử dụng Thẻ để yêu cầu; bà L có nghĩa vụ thanh toán lại cho Ngân hàng số tiền đã rút + số tiền chi tiêu trước + lãi suất + chi phí dịch vụ.
(2) Mức lãi suất: Thời điểm ký kết hợp đồng là ngày 31/10/2023, căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng, sửa đổi, bổ sung năm 2017, quy định “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động Ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Vì vậy, các bên thỏa thuận 33,2%/năm là phù hợp với Quyết định số: 2399/2019/QĐ-TTT ngày 06/8/2019, Quyết định số: 816/2023/QĐ-TT.PTSPCN ngày 31/3/2023 của Tổng giám đốc Ngân hàng S và quy định của Luật các Tổ chức tín dụng.
(3) Vi phạm nghĩa vụ: Quá trình sử dụng Thẻ, bà L đã thanh toán định kỳ đến kỳ ngày 05/3/2024. Do bà L không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận nên Ngân hàng T chấm dứt sử dụng Thẻ, áp dụng lãi suất quá hạn đối với toàn bộ dư nợ sau 03 kỳ Thông báo giao dịch liên tiếp (03 tháng), kỳ Thông báo giao dịch cuối cùng là tháng 8/2024 và khởi kiện bà L để thu hồi nợ là đúng quy định tại Điều 2, 20 và 23 của Bản Điều khoản và Điều kiện.
Từ những nhận định trên, có căn cứ để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S.
[III] Về án phí:
- Toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn được trả lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
- Bị đơn (Bà L) phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 3 Điều 144; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 244; Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Căn cứ khoản 2 Điều 91 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Căn cứ Điều 351; khoản 1 Điều 357; Điều 463 và khoản 1 Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S, đối với bà Đặng Thị Diệu L.
- Buộc bà Đặng Thị Diệu L phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S theo Hợp đồng tín dụng (Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng đề ngày 31/10/2023 và Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng Thẻ tín dụng của Ngân hàng), với tổng số tiền (Tính đến ngày 07/02/2025): 77.155.581 đồng (Bảy mươi bảy triệu, một trăm năm mươi lăm ngàn, năm trăm tám mươi mốt đồng), trong đó: Tiền gốc: 57.801.514 đồng; Tiền lãi trong hạn: 4.902.925 đồng; Tiền lãi quá hạn: 14.451.142 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (07/02/2025) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án (Bà Đặng Thị Diệu L) còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 31/10/2023 và Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng Thẻ tín dụng của Ngân hàng.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Buộc bà Đặng Thị Diệu L, phải chịu 3.857.000 đồng (Ba triệu, tám trăm năm mươi bảy ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.629.000 đồng (Một triệu, sáu trăm hai mươi chín ngàn đồng) theo Biên lai số 0000621 ngày 27 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Quốc Huy |
Bản án số 05/2025/DS-ST ngày 07/02/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 05/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp HĐ tín dụng giữa Sacombank - Đặng Thị Diệu L
