Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TB

TỈNH PT

Bản án số: 05/2025/DS-ST

Ngày 20 tháng 6 năm 2025

“V/v Tranh chấp hợp đồng dịch vụ”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc L1 - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TB - TỈNH PT

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Bình Luyến.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Mạnh Cường;

Bà Vương Thị Thu.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hải Phú - Thư ký Tòa án nhân dân huyện TB, tỉnh PT.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TB, tỉnh PT, tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.

Trong ngày 20/6/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TB, tỉnh PT, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 41/2024/TLST-DS ngày 25 tháng 10 năm 2024, về việc: “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2025/QĐXXST-DS, ngày 10/4/2025; Quyết định hoãn phiên tòa ngày 21/4/2025 và ngày 21/5/2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Anh Lương Văn M, sinh năm 1986; Địa chỉ: Đội 4, thôn Yên Thái, xã ĐY, huyện O, TP. HN.
  2. Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu L1, sinh năm 1983; Đia chỉ: Khu 7, xã ĐX, huyện TB, tỉnh PT.

(Anh M, anh L1 có mặt).

NHẬN THẤY:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo tại Tòa án cũng như tại phiên toà hôm nay nguyên đơn là anh Lương Văn M trình bày: Anh làm thợ sắt, do có mối quan hệ quen biết làm ăn nên từ khoảng tháng 10 năm 2022 đến khoảng tháng 11 năm 2023, anh có nhận thi công công trình mà anh Nguyễn Hữu L1 nhận thi công với Công ty CP kỹ thuật xây Lắp HT, cụ thể là anh L1 thuê anh M làm phần sắt để đổ mái, đổ cột xây dựng tại 03 công trình gồm: Khu biệt thự liền kề ven suối Con Gái tại xã Thạch Hòa, huyện TT, TP. HN với tổng số tiền 483.980.000 đồng, đã tạm ứng số tiền là 234.900.000 đồng, còn nợ lại số tiền là 249.000.000 đồng; công trình biệt thự liền kề Cầu Diễn tại khu Cầu Diễn, phường Nam Từ Liêm, TP. HN với tổng số tiền là 50.948.000 đồng, đã tạm ứng 37.700.000 đồng, còn nợ lại 13.248.000 đồng; công trình nhà thi đấu tỉnh Bắc Giang với tổng số tiền là 38.973.000 đồng, đã tạm ứng số tiền là 58.500.000 đồng. Như vậy, anh Nguyễn Hữu L1 còn nợ anh số tiền thi công của cả 03 công trình là: 242.721.000 đồng. Giữa anh và anh L1 chỉ có thỏa thuận miệng với nhau để thi công 03 công trình trên. Sau khi hoàn thành công việc như thỏa thuận, anh M đã yêu cầu anh L1 trả tiền nhưng anh L1 đã không trả tiền. Đến ngày 14/4/2024, anh và anh L1 đã viết giấy nhận nợ tiền công trình với số tiền là 242.721.000 đồng, anh L1 có hẹn đến ngày 14/7/2024 sẽ trả tiền cho anh M nhưng đến nay anh L1 vẫn chưa trả số tiền trên. Nay anh đề nghị Tòa án buộc anh Nguyễn Hữu L1 phải trả lại anh toàn bộ số tiền 242.721.000 đồng, anh không yêu cầu anh L1 phải trả tiền lãi phát sinh đối với số tiền trên. Tại phiên toà anh M đề nghị Toà án buộc anh L1 phải trả cho anh M số tiền làm tròn là 242.000.000đồng. Ngoài ra anh không yêu câu gì khác.

Theo các lời khai tại Tòa án cũng như tại phiên toà hôm nay bị đơn là anh Nguyễn Hữu L1 trình bày: Anh và anh Lương Văn M có mối quan hệ quen biết làm ăn. Vào năm 2022, anh có ký hợp đồng thi công công trình là 15 căn nhà biệt thự liền kề ở khu vực Ven Suối Con Gái, thuộc xã Thạch Hòa, huyện TT, thành phố HN với Công ty cổ phần kỹ thuật xây lắp HT (sau đây gọi tắt là công ty HT), địa chỉ: Số 90, đường La Dương, phường Dương Nội, quận Hà Đông, thành phố HN. Các hạng mục anh nhận thi công gồm: Sửa móng, đổ bê tông cốt pha, cốt thép, xây thô và trát bên ngoài căn nhà biệt thự, vật liệu kỹ thuật do công ty HT cung cấp. Việc thỏa thuận có L1 thành văn bản, đại diện công ty HT là ông Nguyễn Đình Hưng – Giám đốc trực tiếp ký kết hợp đồng với anh theo “Hợp đồng thi công” số 25.10/2022/GKNC/HT ngày 25/10/2022 hạng mục “Xây thô và hoàn thiện mặt ngoài biệt thự BT dự án Khu biệt thự Ven Suối Con Gái”. Sau đó anh L1 trao đổi bằng miệng với anh Lương Văn M, anh Lê Xuân Quynh, Hoàng Công Tình và Đỗ Đăng Bình để thi công công trình. Anh đã giao khoán các hạng mục cụ thể cho anh M phụ trách nhân công làm cốt thép của 15 căn biệt thự nêu trên, thời điểm thi công từ 01/11/2022 (Âm Lịch, tức ngày 24/11/2022) đến khoảng tháng 7 năm 2023 hoàn thành công trình.

Đối với “Công trình nhà thi đấu tỉnh Bắc Giang” anh nhận thầu và thuê anh M thi công từ thời điểm khoảng đầu tháng 8 đến cuối tháng 8 năm 2023 thì dừng lại vì phía anh M tự ý không thi công nữa. Khi anh thuê anh M thì chỉ thỏa thuận miệng, không L1 thành văn bản gì. Anh không biết vì lý do gì mà anh M dừng thi công.

Đối với “Công trình khu nhà liền kề Cầu Diễn ở khu Cầu Diễn, phường Nam Từ Liêm, thành phố HN” anh nhận thầu và thuê anh M thi công từ thời điểm khoảng đầu tháng 9 đến khoảng tháng 11 năm 2023 thì dừng lại vì phía anh M tự ý không thi công nữa. Khi anh thuê anh M thì chỉ thỏa thuận miệng, không L1 thành văn bản gì. Anh không biết vì lý do gì mà anh M dừng thi công.

Đến ngày 14/4/2024, các anh Lương Văn M, anh Lê Xuân Quynh, Hoàng Công Tình và Đỗ Đăng Bình đã cùng anh đến gặp giám đốc công ty HT để yêu cầu xác nhận khối lượng, nhưng đại diện công ty trốn tránh, trì hoãn không gặp. Sau đó các anh Lương Văn M, anh Lê Xuân Quynh, Hoàng Công Tình và Đỗ Đăng Bình gây sức ép, bắt anh phải ký xác nhận khối lượng thi công tạm thời tính đến thời điểm ngày 14/4/2024, trong đó rất nhiều khối lượng thi công thực tế chưa xác nhận với công ty. Quá trình thi công có bị sai, hỏng phải đập phá đi, chậm tiến độ nhưng chưa xác định được khối lượng bị hư hỏng và số tiền phạt với công ty. Việc ký xác nhận trong “Giấy nhận nợ tiền công trình” ngày 14/4/2024 đối với anh Lương Văn M là 242.721.000 đồng là đúng chữ ký chữ viết của anh, tuy nhiên số tiền trên là số liệu chưa chính xác, hơn nữa do sức ép từ các anh M, Quynh, Tình, Bình nên anh mới phải ký xác nhận như vậy.

Bản thân anh hiện nay không đòi được tiền công ty HT nên không có khả năng chi trả cho anh M. Nay anh L1 không đề nghị đưa công ty HT vào tham gia tố tụng mà chỉ muốn đề nghị anh M cùng phối hợp với anh để đến công ty HT yêu cầu đại diện công ty có mặt tại các công trình để tiến hành nghiệm thu, xác định khối lượng đã thi công. Tôi không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của anh M.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã có công văn số 13/CV-TA ngày 21/01/2025; Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ số 12/2025/QĐ-CCTLCC ngày 21/01/2025 và Công văn số 29/CV-TA ngày 24/02/2025 về việc yêu cầu Công ty cổ phần kỹ thuật xây lắp HT cung cấp thông tin trong vụ án đối với các nội dung:

  1. “Hợp đồng thi công” số 25.10/2022/GKNC/HT ngày 25/10/2022 hàng mục “Xây thô và hoàn thiện mặt ngoài biệt thự dự án Khu biệt thự Ven Suối Con Gải” giữa Công ty HT và anh Nguyễn Hữu L1 đã tiến hành nghiệm thu và bàn giao công trình chưa? Công ty HT đã thanh toán hợp đồng cho anh Nguyễn Hữu L1 chưa? Thời điểm hiện nay, giữa Công ty HT và anh Nguyễn Hữu L1 có khoản tiền nào chưa thanh toán liên quan đến hợp đồng thi công trên hay không?
  2. Việc anh Nguyễn Hữu L1 thuê các anh Lương Văn M, anh Lê Xuân Quynh, anh Hoàng Công Tình và anh Đỗ Đăng Bình để thi công các hạng mục “Xây thô và hoàn thiện mặt ngoài biệt thự dự án Khu biệt thự Ven Suối Con Gải" thì Công ty HT có biết hay không?
  3. Công ty HT có làm việc trực tiếp với các anh Lương Văn M, anh Lê Xuân Quynh, anh Hoàng Công Tình và anh Đỗ Đăng Bình để thực hiện thi công các hạng mục “Xây thô và hoàn thiện mặt ngoài biệt thự dự án Khu biệt thự Ven Suối Con Gái” hay không? Tuy nhiên, không nhận được kết quả trả lời từ Công ty cổ phần kỹ thuật xây lắp HT.

* Tại phiên toà: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TB phát biểu về việc giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lương Văn M, buộc anh Nguyễn Hữu L1 phải trả cho anh Lương Văn M số tiền còn nợ tiền công trình làm tròn 242.000.000 đồng (Hai trăm bốn mươi hai triệu đồng),

Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà; Căn cứ vào kết qủa tranh luận tại phiên toà, ý kiến của các đương sự và quan điểm của Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Bị đơn có địa chỉ tại huyện TB, tỉnh PT. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân huyện TB, tỉnh PT.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ vào giấy nhận nợ tiền công trình. Toà án đã thụ lý và xác định mỗi quan hệ tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án, căn cứ vào lời trình bày của các đương sự, Hội đồng xét xử xác định: Xuất phát từ việc vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng dịch vụ, hình thức thỏa thuận miệng giữa anh Lương Văn M và anh Nguyễn Hữu L1 về việc thi công làm sắt, đổ mái, đổ cột tại 03 công trình xây dựng. Đến ngày 14/4/2024, nguyên đơn và bị đơn đã xác L1 Giấy nhận nợ tiền công trình, nội dung thỏa thuận xác định rõ khối lượng công việc đã thi công, số tiền đã tạm ứng (đã trả), số tiền còn lại phải trả và thời hạn thanh toán nợ. Nay anh M yêu cầu Toà án buộc anh L1 phải trả nợ tiền công trình trình. Do đó quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định là vụ án dân sự: “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ” theo quy định tại Điều 513 của Bộ luật Dân sự.

[2]. Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có lưu trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các đương sự, Hội đồng xét xử xác định: Từ khoảng tháng 10 năm 2022 đến khoảng tháng 11 năm 2023, anh Lương Văn M nhận thi công cho công trình cho anh Nguyễn Hữu L1, cụ thể là làm sắt, đổ mái, đổ cột xây dựng tại 03 công trình gồm: Khu biệt thự liền kề ven suối Con Gái tại xã Thạch Hòa, huyện TT, TP. HN; công trình biệt thự liền kề Cầu Diễn tại khu Cầu Diễn, phường Nam Từ Liêm, TP. HN; công trình nhà thi đấu tỉnh Bắc Giang. Sau khi hoàn thành công việc như thỏa thuận, anh L1 không thanh toán đủ tiền công cho anh M. Đến ngày 14/4/2024, anh M và anh L1 đã viết giấy nhận nợ tiền công trình xác định số tiền anh L1 còn nợ anh M là 242.721.000 đồng, thời hạn trả nợ là đến ngày 14/7/2024. Đến nay anh L1 vẫn chưa trả tiền cho anh M. Nay anh M yêu cầu anh L1 phải trả nợ tiền công trình như đã thoả thuận, số tiền làm tròn 242.000.000 đồng và không yêu cầu anh L1 trả tiền lãi đối với số tiền nợ trên.

Bị đơn là anh L1 thừa nhận có việc L1 giấy nhận nợ công trình ngày 14/4/2024. Tuy nhiên anh L1 cho rằng số tiền 242.721.000 đồng ghi trong giấy nhận nợ là số liệu chưa chính xác, chưa xác nhận với Công ty cổ phần kỹ thuật xây lắp HT và do sức ép từ nguyên đơn, anh Lê Xuân Quynh, Hoàng Công Tình và Đỗ Đăng Bình nên bị đơn mới phải ký xác nhận như vậy. Anh L1 không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của anh M.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị của bị đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng: Khi viết giấy nhận nợ anh M đã ký, điểm chỉ và ghi rõ họ tên vào mục bên cho nợ (cho vay); anh L1 đã ký, ghi rõ họ tên và ghi rõ thời hạn trả nợ là đến ngày 14/7/2024 vào mục bên nhận nợ (bên vay). Quá trình giải quyết vụ án anh M và anh L1 đều thừa nhận có việc thi công công trình và xác L1 giấy nhận nợ nêu trên. Hai bên đều khẳng định chữ ký, chữ viết trong Giấy nhận nợ tiền công trình ngày 14/4/2025 là đúng chữ ký, chữ viết của mình. Anh L1 cho rằng việc xác L1 hợp đồng là do bị ép buộc, không tự nguyện khi giao kết hợp đồng, tuy nhiên anh L1 không cung cấp được bất kì tài liệu, chứng cứ gì chứng M việc anh bị ép buộc xác L1 hợp đồng. Khi giao kết hợp đồng hai bên đều có đủ năng lực trách nhiệm dân sự; mục đích và nội dung của giao dịch xác định rõ số tiền nợ là tiền công trình và thời hạn trả nợ, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Mặt khác tại phiên toà anh L1 cũng xác định còn nợ tiền anh M nhưng không nhớ cụ thể là bao nhiêu tiền và đề nghị anh M cùng phối hợp với anh L1 để đến Công ty HT yêu cầu đại diện công ty có mặt tại các công trình để tiến hành nghiệm thu, xác định khối lượng đã thi công bởi hiện nay anh L1 không đòi được tiền Công ty HT nên không có khả năng chi trả cho anh M. Tuy nhiên, giấy nhận nợ công trình ngày 14/4/2024 là giao dịch hợp pháp xác L1 theo sự thỏa thuận riêng giữa anh Lương Văn M và anh Nguyễn Hữu L1, không liên quan đến Công ty HT, anh L1 cũng đã ký tên và ghi rõ họ tên xác nhận đối với các số liệu khối lượng đã thi công, số tiền đã tạm ứng và nhận nợ tiền thi công. Hơn nữa anh L1 và anh M cũng xác định chỉ có anh L1 là ký hợp đồng thi công với công ty HT, sau đó anh L1 thuê anh M thi công công trình, anh M không liên quan gì đến công ty HT và không nhất trí với đề nghị của anh L1 nên đề nghị của anh L1 trong vụ án này là không có căn cứ để chấp nhận. Đối với giao dịch dân sự giữa anh L1 và Công ty cổ phần kỹ thuật xây lắp HT là quan hệ pháp luật khác, các bên có quyền yêu cầu giải quyết tranh chấp ở một vụ án khác.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 117, Điều 5133, khoản 1 Đều 519 của Bộ luật dân sự quy định:

“Điều 117. Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự

  1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
    • Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác L1;
    • Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;
    • Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Điều 513. Hợp đồng dịch vụ

Hợp đồng dịch vụ là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên sử dụng dịch vụ, bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ.

Điều 519. Trả tiền dịch vụ

1. Bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền dịch vụ theo thỏa thuận”.

Do đó, có đủ căn cứ để xác định Giấy nhận nợ tiền công công trình ngày 14/4/2024 giữa anh Lương Văn M và anh Nguyễn Hữu L1 là xuất phát từ Hợp đồng dịch vụ. Kể từ khi xác L1 giao dịch dân sự các bên tham gia đã phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự do pháp luật quy định. Anh M đã thực hiện xong công việc của mình như cam kết và cho anh L1 nợ lại số tiền thi công công trình. Tuy nhiên, hết kỳ hạn trả nợ theo thỏa thuận từ lâu nhưng anh L1 không trả được tiền cho anh M, cũng như không có phương án nào để trả nợ, vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thoả thuận nên anh M có quyền yêu cầu anh L1 phải trả tiền, đòi tiền theo thoả thuận là có căn cứ, cần chấp nhận.

Về lãi suất hợp đồng vay: Do trong hợp đồng các bên không thỏa thuận và nguyên đơn là anh Lương Văn M không yêu cầu anh L1 phải trả tiền lãi nên Hội đông xét xử không xem xét.

[3]. Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật là phù hợp.

[4]. Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc buộc anh L1 trả cho anh M số tiền 242.000.000 đồng là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 117, Điều 357, Điều 468, Điều 513, khoản 1 Điều 519 của Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

  1. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lương Văn M.

    Buộc anh Nguyễn Hữu L1 phải trả cho anh Lương Văn M số tiền 242.000.000 đồng (Hai trăm bốn mươi hai triệu đồng).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  2. Về án phí: Buộc anh Nguyễn Hữu L1 phải chịu 12.100.000 đồng (Mười hai triệu một trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho anh Lương Văn M số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 6.068.000 đồng (Sáu triệu không trăm sáu mươi tám nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí Tòa số 0000968, ngày 25/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện TB, tỉnh PT.
  3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện TB;
  • - VKSND tỉnh PT;
  • - Chi cục THADS huyện TB;
  • - Các Đương sự;
  • - Lưu HS, VP.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Bình Luyến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2025/DS-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TB - TỈNH PT về tranh chấp hợp đồng dịch vụ

  • Số bản án: 05/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TB - TỈNH PT
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: M kiện đòi tiền L1 về HĐ dịch vụ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger