TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 05/2025/DS-ST. Ngày 20/3/2025. V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nhan Ngọc Đăng.
- Các Hội thẩm nhân dân: bà Nguyễn Thị Thuận và ông Nguyễn Hữu Luật.
- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Xuân Huy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Văn Sỹ - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 3 năm 2025 tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Gio Linh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 119/2024/TLST-DS ngày 14 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2025/QĐXX-ST ngày 10 tháng 02 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2025/QĐST-DS ngày 27 tháng 02 năm 2025, giữa:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (sau đây gọi tắt là Ngân hàng S1); địa chỉ: Số B, đường N, phường V, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh.
+ Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: bà Võ Thị Như Q - Chuyên viên kiểm soát tuân thủ - Ngân hàng Cổ phần S - Chi nhánh tỉnh Q; - là người đại diện theo ủy quyền (Quyết định ủy quyền số 50/2025/GUQ-CNQT ngày 11/02/2025). Có mặt.
- Bị đơn: chị Võ Thị X, sinh năm 1994; địa chỉ: thôn X, xã G, huyện G, tỉnh Quảng Trị (nay là khu phố X, thị trấn C, huyện G, tỉnh Quảng Trị). Vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 16/10/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:
Ngày 25/9/2020, chị Võ Thị X ký hợp đồng thẻ tín dụng với Ngân hàng S1 vay 40.300.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Hợp đồng quy định chị X có trách nhiệm thanh toán gốc cùng lãi vào ngày 22 hàng tháng cho đến khi kết thúc hợp đồng. Lần thanh toán sau cùng là kỳ tháng toán ngày 22/02/2023 đến nay chị X không thanh toán thêm lần nào nữa. Qua nhiều lần yêu cầu nhưng bị đơn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn.
Vì vậy, Ngân hàng S1 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc chị X phải thanh toán một lần toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng S1 đến ngày 22/9/2024 là 34.805.700 đồng (trong đó số tiền gốc là 21.308.440 đồng, số tiền lãi trong hạn là 8.998.173 đồng, số tiền lãi quá hạn là 4.499.087 đồng) và lãi phát sinh tính từ ngày 23/9/2024 cho đến khi trả hết nợ và lãi suất quy định tại hợp đồng.
Tại phiên tòa, nguyên đơn yêu cầu buộc bị đơn phải thanh toán tổng số tiền là 39.521.160 (ba mươi chín triệu năm trăm hai mươi mốt nghìn một trăm sáu mươi) đồng, trong đó số tiền gốc là 21.308.440 đồng, số tiền lãi trong hạn là 8.113.725 đồng, số tiền lãi quá hạn tính đến ngày 20/3/2025 là 10.098.995 đồng và lãi phát sinh tính từ ngày 21/3/2025 cho đến khi trả hết nợ theo quy định tại hợp đồng tín dụng đã ký kết.
Về phía bị đơn: Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã thực hiện việc tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Nhưng bị đơn đều không có ý kiến liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn cũng như không tham gia vào các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.
Ý kiến của Viện kiểm sát:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, người tham gia tố tụng là đúng quy định. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định về quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành đúng các quy định về quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật và quá trình giải quyết vụ án. Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 90, Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; các Điều 463, 468 của Bộ luật Dân sự, buộc bị đơn phải thanh toán cho Ngân hàng S1 số tiền là 39.521.160 (ba mươi chín triệu năm trăm hai mươi mốt nghìn một trăm sáu mươi) đồng, trong đó số tiền gốc là 21.308.440 đồng, số tiền lãi trong hạn là 8.113.725 đồng, số tiền lãi quá hạn tính đến ngày 20/3/2025 là 10.098.995 đồng. Đồng thời, bị đơn phải có trách nhiệm trả khoản lãi phát sinh tính từ ngày 21/3/2025 cho đến khi trả dứt điểm nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.
Về án phí, bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về quan hệ tranh chấp: nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn phải trả số tiền nợ gốc, nợ lãi đến ngày 20/3/2025 là 39.521.160 (ba mươi chín triệu năm trăm hai mươi mốt nghìn một trăm sáu mươi) đồng. Trong đó số tiền gốc là 21.308.440 đồng, số tiền lãi trong hạn là 8.113.725 đồng, số tiền lãi quá hạn tính đến ngày 20/3/2025 là 10.098.995 đồng và lãi phát sinh tính từ ngày 21/3/2025 cho đến khi trả hết nợ theo quy định tại hợp đồng tín dụng đã ký kết. Căn cứ khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định đây quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
[2]. Về thẩm quyền giải quyết: bị đơn chị Võ Thị X có nơi cư trú tại địa chỉ: khu phố X, thị trấn C, huyện G, tỉnh Quảng Trị. Căn cứ điểm a khoản 1, Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Gio Linh thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.
[3]. Về thủ tục tố tụng: quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Gio Linh đã cấp tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai mà không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[4]. Về nội dung vụ án:
[4.1]. Xét tính hợp pháp của hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp ký kết giữa nguyên đơn và bị đơn:
Ngày 25/9/2020, Ngân hàng S1 ký kết Hợp đồng tín dụng (Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng) với chị Võ Thị X, số tiền hạn mức tín dụng 40.300.000 đồng. Xét thấy, chủ thể tham gia ký kết hợp đồng Hợp đồng tín dụng có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, các bên tham gia ký kết hợp đồng hoàn toàn tự nguyện, mục đích và nội dung của các Hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Căn cứ Điều 177 Bộ luật Dân sự, thì Hợp đồng tín dụng ký kết ngày 25/9/2020 giữa nguyên đơn và bị đơn có hiệu lực pháp luật.
[4.2]. Xét việc thực hiện hợp đồng của các bên, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Sau khi ký kết các hợp đồng tín dụng, nguyên đơn đã giải ngân số tiền cho vay theo đúng quy định của các Hợp đồng tín dụng đã ký kết. Như vậy, nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo hợp đồng tín dụng đã ký kết.
Trong quá trình vay, chị X giao dịch tổng số tiền gốc là 40.300.000 đồng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, từ ngày 23/02/2023 cho đến nay bị đơn đã vi phạm việc thanh toán số tiền tối thiểu theo quy định của hợp đồng. Như vậy, bị đơn đã vi phạm Điều 20 hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa nguyên đơn và bị đơn.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử thấy rằng có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Vì vậy, áp dụng các Điều 90, Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; các Điều 463, 468 của Bộ luật Dân sự, buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn tổng số tiền là 39.521.160 (ba mươi chín triệu năm trăm hai mươi mốt nghìn một trăm sáu mươi) đồng. Trong đó số tiền gốc là 21.308.440 đồng, số tiền lãi trong hạn là 8.113.725 đồng, số tiền lãi quá hạn tính đến ngày 20/3/2025 là 10.098.995 đồng và lãi phát sinh tính từ ngày 21/3/2025 cho đến khi trả hết nợ theo quy định tại hợp đồng tín dụng đã ký kết ngày 25/9/2020.
[5]. Về án phí: bị đơn phải chịu án phí dân sự theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 159, khoản 1 và khoản 2 Điều 192; Điều 217, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 90, Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; các Điều 463, 468 của Bộ luật Dân sự; khoản 3 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án, xử :
[1]. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: buộc bị đơn chị Võ Thị X phải thanh toán cho nguyên đơn tổng số tiền là 39.521.160 (ba mươi chín triệu năm trăm hai mươi mốt nghìn một trăm sáu mươi) đồng. Trong đó số tiền gốc là 21.308.440 đồng, số tiền lãi trong hạn là 8.113.725 đồng, số tiền lãi quá hạn tính đến ngày 20/3/2025 là 10.098.995 đồng và lãi phát sinh tính từ ngày 21/3/2025 cho đến khi trả hết nợ theo quy định tại hợp đồng tín dụng đã ký kết ngày 25/9/2020.
[2]. Về án phí: bị đơn chị Võ Thị X phải chịu 1.976.058 (một triệu chín trăm bảy mươi sáu nghìn không trăm năm mươi tám) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng S1 số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 870.143 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu BLTU/2023, số 0000381 ngày 14/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gio Linh.
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bên được thi hành án, cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm cho bên được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
[3]. Về quyền kháng cáo: nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nhan Ngọc Đăng |
Bản án số 05/2025/DS-ST ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 05/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng thương mại TMCP S và Võ Thị X tranh chấp hợp đồng tín dụng
