|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HOÀ BÌNH Số: 05/2025/DS-ST Ngày: 13/6/2025 V/v: Kiện đòi tài sản |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CÔNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
|
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: |
Ông Nguyễn Thanh Tùng |
|
- Các hội thẩm nhân dân: |
Ông Nguyễn Văn Minh |
|
Bà Lò Thị Khánh Quốc |
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Minh – Kiểm sát viên.
Ngày 13/6/2025 tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hòa Bình mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 03/2025/TLST – DS ngày 13 tháng 3 năm 2025, về việc: Kiện đòi tài sản, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2025/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2025/QÐST-DS ngày 14/5/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phạm Xuân C; sinh năm 1983
HKTT: Số nhà H, Đường L, Phường M, Quận H, TP Hà Nội.
- Bị đơn: Bà Phạm Thị N, sinh năm 1973; Địa chỉ: số nhà A, Ngõ C, Ngách A, Đường T, Tổ C, Phường Đ, TP H, tỉnh Hòa Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn ông Phạm Xuân C trình bày:
Vào ngày 12/3/2022, do quen biết trên mạng internet với bà Phạm Thị N (Có CCCD số [...], số điện thoại 0396.621.xxx); bà N có hẹn gặp ông C ở Thành phố H, tỉnh Hòa Bình để cùng nhau đi mua chung mảnh đất tại xóm P, xã B, huyện M, Tỉnh Hòa Bình. Bà N có làm hợp đồng để cùng mua với ông C mảnh đất có diện tích 2.300 m² có 200 m² đất thổ cư, đất đã có sổ rồi và sẽ tách bìa sau. Ngay trong hôm đó bà N yêu cầu ông C chuyển khoản vào tài khoản của bà N số tiền 60.000.000 đồng để bà N trực tiếp đứng ra đi cọc tiền, giao dịch mua đất sau đó sẽ làm thủ tục tách đất và quyền lợi giữa ông C và bà N tính sau. Ông C nhất trí và đã chuyển khoản cho bà N số tiền mua chung đất đúng như thỏa thuận. Nhưng sau đó ông C rất nhiều lần thúc giục bà N vẫn không lo làm tiếp và hoàn thiện việc nhận chuyển nhượng chung thửa đất như hai bên cam kết thỏa thuận. Ông C đòi lại tiền thì bà N cũng không trả cho ông C số tiền 60.000.000 đồng.
Ông C có đơn trình báo, tố cáo bà Phạm Thị N về hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản ra Công an huyện L. Sau khi nghiên cứu đơn trình báo và làm việc với bà Phạm Thị N cùng những người liên quan, ngày 05/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ban hành Quyết định không khởi tố vụ án hình sự số 51 ngày 05/12/2023 đối với vụ việc. Ngày 12/12/2023, ông C có đơn khởi kiện bà N tại Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình, yêu cầu bà N trả cho ông C số tiền 60.000.000đ, không yêu cầu tính lãi. Ngày 09/7/2024, ông C có đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện, khởi kiện vụ án tại Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình và ngày 10/7/2024, Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình đã thụ lý vụ án.
Ngày 14/8/2024, phòng Q, Công an tỉnh H có công văn số 826/PA08 cung cấp thông tin bà Phạm Thị N có xuất cảnh ra nước ngoài từ ngày 26/6/2024. Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình đã tiến hành xác minh và xác định bà Phạm Thị N vẫn đang ở nước ngoài chưa về nước. Ngày 28/2/025, Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình có quyết định chuyển vụ án số 01/2025/QÐST-DS chuyển thẩm quyền cho Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình. Ngày 13/3/2025, Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình đã tiến hành thụ lý và giải quyết vụ án.
Trong đơn khởi kiện, ông C yêu cầu bà Phạm Thị N trả cho ông số tiền 60.000.000đ và không yêu cầu về lãi suất.
Bị đơn bà Phạm Thị N vắng mặt tại phiên tòa và không có văn bản nêu ý kiến tới Tòa án. Tại các bản tự khai, bản tường trình, biên bản lấy khai ngày 28/02/2023 của bà Phạm Thị N tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, bà Phạm Thị N trình bày:
Bà N khai rằng, bà là người buôn bán đất “lướt sóng” (khi thấy thửa đất nào đẹp, thì bà N đặt cọc và đăng bán lại kiếm lời). Ngày 10/3/2022, bà N có nhờ Bùi Chí C1 và Bùi Tuấn N1 ở P, T, đặt cọc lô đất ở xóm P, xã B, huyện M của anh Hà Văn N2. Bà N chuyển khoản cho C1 số tiền 50.000.000₫ để đặt cọc và tiền hoa hồng của C1, N1. Sau đó, N đăng lên mạng xã hội rao bán. Anh Phạm Xuân C có hỏi mua, hai bên có trao đổi. Ngày 12/3/2022, bà N hẹn anh C tại thành phố H và cùng đi lên xem lô đất nêu trên. Sau khi xem đất xong, anh C thống nhất mua với giá 500.000.000đ và chuyển khoản tiền cọc cho bà N số tiền 60.000.000đ, thời hạn cọc là 90 ngày, bà N đã nhận đủ số tiền cọc. Sau khi đặt cọc đất của N thì C có nói “chưa bán” và nhờ tách sổ lô đất hộ; do sổ đỏ đang trong Ngân hàng chủ nhà có đề nghị trả thêm tiền để lấy sổ đỏ ra nhưng C không đồng ý. Khi gần hết thời hạn cọc, N có gọi và nhắc nhưng lúc đó C có bảo N là: bán hộ để C lấy tiền về. Nhưng thời điểm đó đất chững không bán ra được; C đòi cọc về thì N không đồng ý vì trước khi cọc đã trao đổi với nhau rồi thì C mới chuyển khoản đặt cọc. Hết cọc thì bên mua cũng không chuyển trả cọc. Anh C đòi số tiền cọc 60.000.000đ thì bà N không đồng ý vì bà N cho rằng đã hết thời hạn đặt cọc, bà N mất tiền cọc thì anh C cũng mất tiền cọc. Việc thỏa thuận đặt cọc, mất cọc giữa bà N và anh C chỉ trao đổi bằng miệng, không lập thành văn bản.
Lời khai của anh Bùi Chí C1, anh Hà Văn N2:
Tại các bản tự khai, biên bản ghi lời khai của anh Bùi Chí C1 (Người đặt cọc đất cho bà N) tại Công an huyện L, Công khai như sau: Ngày 10/3/2022, bà N có chuyển khoản cho C1 số tiền 50.000.000đ. Sau đó, C1 đặt cọc số tiền 20.000.000₫ cho anh Hà Văn N2 và có lập hợp đồng đặt cọc ngày 11/3/2022, bên nhận chuyển nhượng là bà Phạm Thị N. Ngày 12/3/2022, chị N cùng anh C có lên xem thửa đất, việc chị N và anh C thỏa thuận, giao dịch gì thì C1 không biết, không nắm được.
Tại biên bản ghi lời khai của anh Hà Văn N2 ngày 12/4/2023 tại Công an xã B, huyện M, tỉnh Hòa Bình, anh N2 khai như sau: Khoảng đầu tháng 3/2022, có anh Bùi Chí C1 và anh Bùi Tuấn N1 ở P, T tới hỏi mua đất của gia đình anh ở xóm P, Piềng V (nay là xã B). Anh N2 đồng ý bán một nửa thửa đất với giá 300.000.000đ. Ngày 11/3/2022, C1 và N1 tới đặt cọc mua đất số tiền 20.000.000đ và có lập hợp đồng đặt cọc bên mua là bà Phạm Thị N, trong hợp đồng đặt cọc ghi rõ nội dung nếu hết thời hạn đặt cọc mà bên mua không mua thì mất số tiền cọc. Hết thời hạn cọc anh N2 gọi cho C1, N1 thì được trả lời là bên mua không mua nữa, tiền cọc thì anh cứ tiêu đi. Lý do không mua bán được với bên C1 và N1 là do C1, N1 bảo mảnh đất không tách được thửa và muốn mua giá rẻ hơn. Sau đó, anh N2 đã bán lại thửa đất cho người khác. Anh N2 không biết, không giao dịch với ai tên Phạm Xuân C.
Tại biên bản đối chất của Phạm Thị N, Bùi Chí C1, Bùi Tuấn N1 ngày 25/6/2023 tai Công an huyện L, bà N, anh C1, anh N1 đều thống nhất nội dung: Ngày 10/3/2022, bà N có chuyển khoản cho anh C1 số tiền 50.000.000đ, để C1 đặt cọc lô đất của anh Hà Văn N2. Sau khi nhận được tiền, C1 và N1 đến gặp anh N2 đặt cọc số tiền 20.000.000đ và lập hợp đồng đặt cọc bên mua là bà Phạm Thị N.
Ngày 13/3/2025, Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình có công văn số 120/CV-TA tới phòng PA08 Công an tỉnh H về việc xác minh thông tin xuất nhập cảnh của bà Phạm Thị N.
Ngày 18/3/2025, phòng PA08 Công an tỉnh H có công văn số 224/PA08 xác định bà Phạm Thị N có xuất cảnh ra nước ngoài ngày 26/6/2024 và chưa có thông tin nhập cảnh lại.
Tại biên bản xác minh ngày 21/5/2024 tại Công an phường Đ, thành phố H xác định bà Phạm Thị N có đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ C, phường Đ, thành phố H.
Tại biên bản xác minh ngày 21/5/2024 với bà Nguyễn Thị P (mẹ đẻ của bà N) xác định bà Phạm Thị N có cư trú tại số nhà A, tổ C, phường Đ, thành phố H. Hiện nay bà N đã ra nước ngoài, không biết bao giờ về. Việc bà N góp tiền mua đất với người tên C thì bà P không nắm được.
Tại biên bản xác minh các ngày 29/4/2025 và 29/5/2025 với ông Vương Văn H – tổ trưởng tổ C phường Đ, xác định bà N có hộ khẩu thường trú ở tổ C, phường Đ nhưng hiện nay không có mặt ở nhà. Bà N đi đâu, làm gì thì ông H không biết.
Qúa trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành niêm yết đầy đủ, hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà Phạm Thị N theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa, ông Phạm Xuân C có mặt, bà Phạm Thị N vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa, nguyên đơn ông Phạm Xuân C giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Phạm Thị N phải trả cho ông C số tiền 60.000.000đ và ông C không yêu cầu tính lãi suất.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý, giải quyết, xét xử vụ án; bị đơn bà Phạm Thị N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Xuân C, buộc bà Phạm Thị N phải hoàn trả cho ông Phạm Xuân C số tiền 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng). Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí phần không được chấp nhận và bị đơn phải chịu án phí phần được chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong Hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
1.1. Về thẩm quyền:
Ông Phạm Xuân C khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Phạm Thị N phải trả lại số tiền 60.000.000 đồng ông C đã góp vốn cho bà N đi mua chung đất. Là tranh chấp về quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản theo quy định Khoản 2 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bà Phạm Thị N có đăng ký cư trú tại tổ C, phường Đ, thành phố H, tỉnh Hòa Bình. hiện bà N đang ở nước ngoài. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình có thẩm quyền giải quyết vụ án
1.2. Về thời hiệu:
Khởi kiện thuộc trường hợp không tính thời hiệu khởi kiện theo quy định Điều 155 Bộ luật dân sự và Điều 185 Bộ luật Tố tụng dân sự.
1.3. Về việc xét xử vắng mặt bà N:
Tòa án xét thấy vụ việc tranh chấp giữa ông C và bà N đã được Công an huyện L giải quyết và ban hành Thông báo về việc không khởi tố vụ án hình sự số 1062/TB-ĐTTH ngày 05/12/2023, trong đó có ghi rõ nội dung: “Xác định vụ việc là giao dịch dân sự giữa ông C và bà N đề nghị gửi đơn đến Tòa án để giải quyết theo thẩm quyền”. Kết luận về vụ việc phải được gửi đến ông C và bà N, bản thân bà N cũng có ý kiến tại “Biên bản ghi lời khai” ngày 01/4/2023 là: bà N không đồng ý trả tiền 60.000.000 đồng cho ông C, nếu ông C không đồng ý thì có thể kiện bà N ra Tòa, bà N sẽ tuân thủ phán quyết của Tòa. Điều này thể hiện bà N cũng nhận thức là vụ việc tranh chấp với ông C chưa giải quyết xong về mặt dân sự nhưng ngày 13/10/2023 bà N xuất cảnh, 08/4/2024 nhập cảnh; đến ngày 26/6/2024 lại xuất cảnh; gia đình không cung cấp địa chỉ nơi đến của bà N cho Tòa án; kết quả xác minh về nơi cư trú của bà N cho thấy: nơi bà N có hộ khẩu thường trú thì bà N không có mặt ở đó, nơi bà N có căn hộ ở Chung cư S thì bà N lại không có dữ liệu đăng ký hộ khẩu thường trú. Như vậy thể hiện bà N cố tình trốn tránh việc giải quyết tranh chấp với ông C và cố tình dấu địa chỉ. Tòa án đã xác định nơi cư trú cuối cùng hợp lệ của bà N là tại số A, ngõ C, ngách A, đường T, Tổ C, Phường Đ, TP H để tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng, Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bà N theo quy định tại các Điều 177, 179 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa ngày 14/5/2025, bà N vắng mặt, Tòa án đã hoãn phiên tòa và tiến hành triệu tập hợp lệ bà N lần thứ hai. Tại phiên tòa ngày 13/6/2025, bà N tiếp tục vắng mặt không có lý do nên Tòa án xét xử vắng mặt bà N là đúng quy định pháp luật tại các Điều 227, 228 bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ như đã nêu trên có cơ sở xác định được trong vụ án này:
Bà N là người đi môi giới, đặt cọc đất sau đó rao bán, chuyển nhượng lại để hưởng chênh lệch, hoa hồng môi giới. Ngày 10/3/2022, bà N chuyển khoản số tiền 50.000.000đ cho anh Bùi Chí C1 nhờ anh C1 đặt cọc thửa đất của anh Hà Văn N2 ở xóm P, xã B. Sau khi C1 đặt cọc xong, bà N rao bán thửa đất lên trang buôn bán bất động sản. Anh Phạm Xuân C có liên hệ và hỏi mua thửa đất. Ngày 11/3/2022, anh C, cùng bà N lên địa chỉ đất xem. Anh C đồng ý mua thửa đất và chuyển khoản số tiền cọc 60.000.000đ cho bà N. C khai là góp 60.000.000 đồng đi mua chung đất nhà ông N2, N đứng ra giao dịch, tách thửa nhưng N không làm, không hoàn thiện thì nay không mua nữa và yêu cầu N phải trả lại cho C 60.000.000 đồng. Bà N cho rằng anh C đặt cọc mảnh đất của N (Đang nhận chuyển nhượng từ ông N2) nhưng quá hạn cọc C không chuyển tiền, N cũng không có tiền chuyển trả cho ông N2, thì bên mua cũng không chuyển trả cọc, bởi vậy N cũng không chấp nhận trả lại khoản tiền góp đặt cọc 60.000.000 đồng của C. Việc này khi thực hiện cùng nhau đã nói rõ thì C mới chuyển tiền cọc cho N.
Ông Phạm Xuân C khởi kiện yêu cầu bà Phạm Thị N trả lại số tiền 60.000.000₫. Ông C cung cấp biên lai chuyển khoản cho bà N số tiền 83.000.000₫ đồng thời C diễn giải 60.000.000 đồng là khoản tiền đang khởi kiện và 23.000.000 đồng là tiền góp mua mảnh đất khác. Tài liệu hồ sơ thu thập từ Công an huyện L, được đánh số bút lục số 112 trong hồ sơ của Tòa án thể hiện: một giấy ghi nội dung: “ngày 26/7/2022 chị N có giao cho em C GCN QSD đất số 065155 cấp ngày 14/12/1999 mang tên Đinh Công Đ ở K - B - M - Hòa Bình để em C có trách nhiệm bảo quản và làm thủ tục cấp đổi bìa mới, chuyển nhượng cho khách hàng”, người giao ký tên N và người nhận ký tên C. Như vậy khẳng định C và N có việc góp tiền cùng nhau đi đặt cọc nhận chuyển nhượng QSD đất cho N rao bán nhằm hưởng chênh lệch giá chia nhau và có căn cứ xác định được C có chuyển khoản cho N số tiền 83.000.000 đồng trong đó khoản 60.000.000 đồng mà C đang khởi kiện.
Không có hợp đồng cọc hay giao dịch chuyển nhượng đất nào được xác lập giữa bà N và ông C. Không có văn bản nào ghi nhận thỏa thuận giữa N và C về việc: góp chung tiền đặt cọc đi nhận chuyển nhượng đất, quyền, nghĩa vụ của mỗi người (Nhung/Cường) trong quan hệ làm ăn chung, phân chia lợi nhuận; không thể hiện nghĩa vụ C phải làm gì mà các giấy tờ thể hiện toàn bộ do N đứng ra giao dịch với chủ đất. Tuy nhiên C xác nhận có được N chuyển cho bản ảnh của hợp đồng đặt cọc ngày 06/3/2022 giữa bà Phạm Thị N và anh Hà Văn N2 (thửa đất khác); trong hợp đồng cọc ghi rõ: “Sau khi hợp đồng được ký kết nếu quá thời hạn thỏa thuận nêu trên nếu bên A không bán, chuyển nhượng tài sản đặt cọc trên cho bên B thì bên A phải bồi thường cho bên B gấp 3 lần số tiền mà bên B đã đặt cọc cho bên A; ngược lại nếu bên B không tiến hành mua thì phải chịu mất số tiền đã đặt cọc trên”
Ông C và bà N đều khai thống nhất về việc góp tiền đặt cọc đất nhằm rao bán lại hưởng chênh lệch, không có mục đích tiến tới thực hiện chuyển nhượng – nhận chuyển nhượng đất với chủ sử dụng đất. Tuy nhiên trong phạm vi khởi kiện vụ án này ông C chỉ khởi kiện đòi N trả lại lại số tiền cọc 60,000.000 đồng C góp cho N đi đặt cọc mua thửa đất nhà ông N2. Tài liệu trong hồ sơ khẳng định qua lời khai của N, ông N2 và Biên bản đối chất N – C1 – N1 có căn cứ xác định được N chỉ đặt cọc mua đất ông N2 số tiền 20.000.000 đồng, như vậy số tiền 40.000.000 đồng còn lại của Cường N3 đang cầm giữ (Không bỏ vào đặt cọc). Do đó, có căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông C, buộc bà Phạm Thị N có trách nhiệm trả số tiền 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng) cho ông Phạm Xuân C.
Đối với số tiền 20.000.000 đồng cọc cho nhà ông Hà Văn N2, không giải quyết trong vụ án này; trường hợp sau này nếu phát sinh vụ việc một trong các bên tranh chấp về hợp đồng cọc ký kết giữa ông N2 – bà N thì quyền lợi ông C nếu có, sẽ được xem xét sau.
[3] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận một phần nên nguyên đơn và bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng theo quy định.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 2 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Điều 158; Điều 166; Điều 168; Điều 221 Bộ luật dân sự năm 2015;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội.
1. Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Xuân C
Buộc bà Phạm Thị N phải hoàn trả ông C số tiền 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chê thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự
Kể từ ngày người được yêu cầu có đơn yêu cầu thi hành án mà người bị thi hành án không thi hành khoản tiền nêu trên thì người bị thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015tương ứng với thời gian và số tiền chưa thi hành án.
2. Về án phí: Ông Phạm Xuân C phải chịu 1.000.000đ án phí dân sự sơ thẩm, được đối trừ với số tiền 1.200.000đ đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí số 000473 ngày 09/7/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hòa Bình, ông C được trả lại số tiền 200.000₫.
Bà Phạm Thị N phải chịu 2.000.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Lò Thị Khánh Quốc Nguyễn Văn Minh |
Nguyễn Thanh Tùng |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Tùng |
Bản án số 05/2025/DS-ST ngày 13/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HOÀ BÌNH về kiện đòi tài sản
- Số bản án: 05/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Kiện đòi tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HOÀ BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: kiện đòi tài sản
