Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 05/2024/KDTM-ST

Ngày: 25-4-2024

V/v: tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Bang

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Bà Vương Thị Minh Tân;
  • 2. Ông Nguyễn Văn Thắng.

Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Thu Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nam Định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 01/2024/TLST-KDTM ngày 17 tháng 01 năm 2024 về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2024/QĐXXST-KDTM ngày 05-4-2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Á; địa chỉ trụ sở: Số D đường N, phường E, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; Người đại diện theo pháp luật: Ông Từ Tiến P; chức vụ: Tổng giám đốc; Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Phạm Thị T; chức vụ: Giám đốc Xử lý nợ; Người đại diện theo uỷ quyền lại: Ông Trần Đăng H; chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ. Có mặt tại phiên toà.

- Bị đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn T1; địa chỉ trụ sở: Số E đường Đ, phường C, thành phố N; Người đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Văn D, chức vụ: Giám đốc (hiện đang chấp hành án tại Đội 17, phân trại 4 Trại giam X). Vắng mặt tại phiên toà.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • 1. Ông Bùi Văn D, sinh năm 1986; đăng ký thường trú tại: Xóm E (nay là xóm S), xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; hiện đang chấp hành án tại Đội 17, phân trại 4 Trại giam X. Vắng mặt tại phiên toà.
  • 2. Bà Nguyễn Thị P1, sinh năm 1991; đăng ký thường trú: Xóm E (nay là xóm S), xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; nơi ở hiện nay: Khu nhà trọ bà Nguyễn Thị N, thôn L, xã L, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Tại đơn khởi kiện đề ngày 02-10-2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền lại của nguyên đơn là Ngân hàng thương mại cổ phần Á (gọi tắt là: Ngân hàng Á) là ông Trần Đăng H trình bày:

Ngân hàng ÁCông ty trách nhiệm hữu hạn T1 (gọi tắt là: Công ty T1) ký kết Thỏa thuận về các điều khoản và điều kiện tín dụng chung số NAD.DN.3844.110522 ngày 13-05-2022 và Hợp đồng cấp tín dụng số NAD.DN.3844.110522 ngày 13-05-2022. Cụ thể như sau: Số tiền cho vay/hạn mức tín dụng: 1.300.000.000 đồng. Mục đích cho vay: Cho vay bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh. Phương thức cho vay: Cho vay theo hạn mức tín dụng. Phương thức giải ngân: Được quy định trong từng Khế ước nhận nợ. Thời hạn cho vay: 06 tháng, kể từ ngày kế tiếp của ngày giải ngân. Thời hạn giải ngân: 12 tháng, kể từ ngày ký Hợp đồng cấp tín dụng. Lãi suất trong hạn: Được quy định trong từng Khế ước nhận nợ. Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn. Lãi phạt chậm trả: 10%/năm.

Để thực hiện thỏa thuận về các điều khoản và điều kiện tín dụng và Hợp đồng tín dụng nêu trên, Ngân hàng Á đã giải ngân cho Công ty T1 thể hiện tại các Khế ước nhận nợ như sau:

TT Khế ước nhận nợ Ngày ký & giải ngân Số tiền giải ngân Phương thức giải ngân Thời hạn cho vay Lãi suất
1 Số TK vay 377851339 Ngày 08/11/2022 400.000.000 đồng Chuyển tiền vào tài khoản thanh toán số 9899899898 của Công ty D&P Nam Định tại Ngân hàng Á Châu Từ ngày 09/11/2022 đến ngày 08/05/2023 Lãi suất trong hạn: 9,5 %/năm, cố định trong thời hạn 03 tháng. Lãi suất sau đó được điều chỉnh 03 tháng/lần theo công thức sau: Lãi suất (%/năm) = LSCS + 3,30%/năm
2 Số TK vay 377984139 Ngày 09/11/2022 400.000.000 đồng Từ ngày 10/11/2022 đến ngày 09/05/2023 Lãi suất trong hạn: 10,0%/năm, cố định trong thời hạn 03 tháng. Lãi suất sau đó được điều chỉnh 03 tháng/lần theo công thức sau: Lãi suất (%/năm) = LSCS + 3,30%/năm
3 Số TK vay 378154459 Ngày 10/11/2022 250.000.000 đồng Từ ngày 11/11/2022 đến ngày 10/05/2023 Lãi suất (%/năm) = LSCS + 3,30%/năm
4 Số TK vay 378199159 Ngày 10/11/2022 250.000.000 đồng Từ ngày 11/11/2022 đến ngày 10/05/2023

Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, Công ty T1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ với Ngân hàng Á từ ngày 12-4-2023. Do đó, căn cứ thỏa thuận giữa hai bên về việc chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn và chuyển nợ quá hạn, thì ngày 12-06-2023, Ngân hàng Á ra Thông báo chuyển nợ quá hạn đối với toàn bộ khoản vay của các khế ước nhận nợ nêu trên.

Tạm tính đến ngày 25-4-2024, Công ty T1 còn nợ Ngân hàng Á các khoản sau:

STT Khế ước nhận nợ Vốn gốc (đồng) Lãi trong hạn Lãi quá hạn Phạt chậm trả lãi Tổng cộng
1 377851339 229.683.909 3.362.192 48.173.522 2.046.420 283.266.043
2 377984139 400.000.000 3.491.507 68.278.356 2.346.555 474.116.418
3 378154459 250.000.000 2.263.014 42.552.740 1.466.043 296.281.797
4 378199159 250.000.000 2.263.014 42.552.740 1.466.043 296.281.797
Tổng cộng 1.129.683.909 11.379.727 201.557.358 7.325.061 1.349.946.055

Khoản nợ nêu trên được bảo đảm bằng các biện pháp bảo đảm sau:

- Ngày 12-5-2022, ông Bùi Văn D và bà Nguyễn Thị P1 đã ký Hợp đồng thế chấp số NAD.BĐDN.376.250422 được công chứng tại Phòng C H, tỉnh Nam Định: Thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 414, tờ bản đồ số 16, địa chỉ: xóm E (nay là xóm S), xã G, huyện G, tỉnh Nam Định theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 152438 do Ủy ban nhân dân huyện G, tỉnh Nam Định cấp ngày 21-08-2017 cho ông Bùi Văn D và bà Nguyễn Thị P1; đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện G, tỉnh Nam Định ngày 12-05-2022.

- Ngày 12-5-2022, ông Bùi Văn D và bà Nguyễn Thị P1 cũng đã ký Giấy cam kết về việc trả nợ. Theo đó, Bên cam kết đồng ý trả thay cho Bên được cấp tín dụng (Công ty T1) các khoản nợ của Bên được cấp tín dụng với Ngân hàng Á khi Bên được cấp tín dụng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ.

Bên được cấp tín dụng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ.

Do Công ty T1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng Á khởi kiện, yêu cầu:

- Công ty T1 phải trả cho Ngân hàng Á tổng số nợ còn thiếu tạm tính đến hết ngày 25-4-2024 là 1.349.946.055 đồng, trong đó gồm: vốn gốc 1.129.683.909 đồng, lãi trong hạn 11.379.727 đồng, lãi quá hạn 201.557.358 đồng, phạt chậm trả lãi 7.325.061 đồng.

- Công ty T1 còn phải tiếp tục trả tiền lãi, phạt chậm trả lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Thỏa thuận về các điều khoản và điều kiện tín dụng chung, Hợp đồng cấp tín dụng, Khế ước nhận nợ tính kể từ ngày 25-4-2024 đến khi trả hết nợ.

- Nếu Công ty T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì:

+ Ngân hàng yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 414, tờ bản đồ số 16, địa chỉ: xóm E (nay là xóm S), xã G, huyện G, tỉnh Nam Định theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 152438 do Ủy ban nhân dân huyện G, tỉnh Nam Định cấp ngày 21-8-2017 cho ông Bùi Văn D và bà Nguyễn Thị P1;

+ Ông Bùi Văn D và bà Nguyễn Thị P1 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay Công ty T1 theo Giấy cam kết về việc trả nợ lập ngày 12-5-2022.

- Yêu cầu Công ty T1 phải hoàn trả lại cho Ngân hàng Á số tiền xem xét, thẩm định tại chỗ là 19.600.000 đồng (mười chín triệu sáu trăm nghìn đồng).

2. Tại biên bản lấy lời khai ngày 27-02-2024, người đại diện theo pháp luật của bị đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn T1 (gọi tắt là: Công ty T1) là ông Bùi Văn D (đồng thời ông Bùi Văn D cũng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) trình bày:

Ông là người đại diện theo pháp luật của Công ty T1. Công ty T1 là Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Ngành nghề, lĩnh vực hoạt động của công ty là Xây dựng và cung cấp thiết bị phòng cháy chữa cháy. Địa chỉ trụ sở của công ty là: Số E đường Đ, phường C, thành phố N. Từ khi thành lập đến nay, Công ty T1 không thay đổi gì về loại hình hoạt động, người đại diện theo pháp luật, địa chỉ trụ sở và ngành nghề, lĩnh vực hoạt động.

Công ty T1Ngân hàng Á có ký Thỏa thuận về các điều khoản và điều kiện tín dụng chung số NAD.DN.3844.110522 ngày 13-05-2022 và Hợp đồng cấp tín dụng số NAD.DN.3844.110522 ngày 13-05-2022. Tổng số tiền vay hạn mức theo hợp đồng là 1.300.000.000 đồng. Thời hạn giải ngân là 12 tháng kể từ ngày ký hợp đồng. Thời hạn cho vay là 06 tháng kể từ ngày kế tiếp của ngày giải ngân. Lãi trong hạn quy định trong từng khế ước nhận nợ. Lãi quá hạn là 150% lãi suất trong hạn. Lãi phạt chậm trả lãi là 10%/năm.

Theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết, Công ty T1 đã được Ngân hàng Á giải ngân số tiền là 1.300.000.000 đồng. Hình thức giải ngân là chuyển tiền vào tài khoản của Công ty T1.

Quá trình thực hiện hợp đồng thì Công ty T1 đã thực hiện nghĩa vụ trả lãi đến ngày 29-12-2022.

Do ông vi phạm pháp luật và phải đi chấp hành án nên Công ty T1 cũng gặp khó khăn về kinh tế do các đối tác nợ tiền chưa thu hồi được để có tiền trả cho Ngân hàng.

Sau khi ông chấp hành án thì gia đình ông cũng đã thu xếp trả cho Ngân hàng được khoảng gần 170.000.000 đồng. Do vậy, nợ gốc của Công ty T1 với Ngân hàng còn 1.130.100.000 đồng. Còn nợ lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi phạt thì ông đề nghị tính theo quy định trong từng khế ước nhận nợ và Hợp đồng tín dụng.

Đề đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ thì ông và vợ là bà Nguyễn Thị P1 đã kí Hợp đồng thế chấp số NAD.BĐDN.376.250422 ngày 12-5-2022 với Ngân hàng Á, thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đát tại thửa số 414, tờ bản đồ số 16, địa chỉ: Xóm E (nay là xóm S) xã G, huyện G, tỉnh Nam Định theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 152438 do Ủy ban nhân dân huyện G, tỉnh Nam Định cấp ngày 21-8-2017 cho vợ chồng ông. Nhà đất trên đã được đăng ký thế chấp.

Hiện nay, nhà đất trên đang đóng cửa, không ai sử dụng, không có tranh chấp về ranh giới, mốc giới, quyền sở hữu. Nhà đất vẫn đứng tên vợ chồng ông.

Nay, Ngân hàng Á khởi kiện, yêu cầu Công ty T1 trả nợ, ông đề nghị: Ngân hàng tạo điều kiện để Công ty T1 có phương án trả dần nợ gốc và miễn cho Công ty toàn bộ các khoản lãi trong hạn, quá hạn, lãi phạt.

3. Tại Biên bản lấy lời khai ngày 28-02-2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị P1 trình bày:

Bà là vợ của ông Bùi Văn D – người đại diện theo pháp luật của Công ty T1. Tháng 5-2022, Công ty T1 có ký hợp đồng tín dụng vây của Ngân hàng Á số tiền gốc là 1.300.000.000 đồng để phục vụ cho mục đích hoạt động kinh doanh của Công ty.

Để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của Công ty T1 với Ngân hàng Á, bà và ông Bùi Văn D đã ký Hợp đồng thế chấp số NAD.BĐDN.376.250422 ngày 12-5-2022.

Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 414, tờ bản đồ số 16, địa chỉ: Xóm E (nay là xóm S), xã G, huyện G, tỉnh Nam Định. Nhà đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 152438 do Ủy ban nhân dân huyện G, tỉnh Nam Định cấp ngày 21-8-2017 đứng tên vợ chồng bà.

Hiện nay trên thửa đất có 01 nhà Bê tông 01 tầng do vợ chồng bà xây dựng năm 2017. Nhà đất trên hiện nay đang đóng cửa, không ai sử dụng. Nhà đất không có tranh chấp gì về ranh giới, mốc giới, quyền sở hữu.

Bà không biết về hoạt động kinh doanh của Công ty T1 và cũng không biết cụ thể Công ty T1 đã thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Á như thế nào. Nay Ngân hàng Á khởi kiện yêu cầu Công ty T1 trả nợ nếu không sữ đề nghị phát mại tài sản đảm bảo để thu hồi nợ, bà có quan điểm: Đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện về mặt thời gian để Công ty T1 thu xếp trả nợ, đề nghị Ngân hàng miễn giảm lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi phạt cho Công ty T1. Nếu phải xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ thì đề nghị Ngân hàng và Cơ quan có thẩm quyền xử lý đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng bà.

4. Tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 13-3-2024:

Phần tài sản được xem xét, thẩm định tại chỗ:

Về quyền sử dụng đất: Thửa đất số 414, tờ bản đồ số 16; địa chỉ: Xóm E (nay là xóm S) xã G, huyện G, tỉnh Nam Định. Diện tích đất 211 m². Loại đất: Đất ở tại nông thôn. Thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 152438 do Ủy ban nhân dân huyện G, tỉnh Nam Định cấp ngày 21-8-2017 cho ông Bùi Văn D và bà Nguyễn Thị P1.

Về công trình xây dựng trên đất: Trên đất có 01 nhà Bê tông 01 tầng kích thước 8.5 m x 10.7 m. Một phần nhà lợp ngói đỏ và một phần nhà có sân thượng, lan can con tiện. Trong nhà tường lăn sơn, nền lát đá hoa. Nhà có 01 phòng khách, 01 phòng bếp, 02 phòng ngủ, 01 công trình phụ. Trước nhà có sân nền xi măng và 01 lán mái tôn kích thước 5.8 m x 4.5 m. Sau nhà có lán mái tôn, nền lát gạch đỏ kích thước 3.57 m x 9.1 m. Nhà có cổng sắt, mái thái. Phía bắc và phía tây của nhà có tường bao và hàng rào sắt. Nhà đất hiện nay không có tranh chấp về ranh giới, mốc giới, quyền sở hữu.

5. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định căn cứ Điều 21, Điều 262 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhận xét đánh giá:

Về quá trình tiến hành tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật.

Về việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Á:

- Chấp nhận yêu cầu buộc Công ty T1 phải trả cho Ngân hàng Á tổng số nợ tạm tính đến hết ngày 25-4-2024 là 1.349.946.055 đồng, trong đó gồm: vốn gốc 1.129.683.909 đồng, lãi trong hạn 11.379.727 đồng, lãi quá hạn 201.557.358 đồng, phạt chậm trả lãi 7.325.061 đồng. Đồng thời buộc Công ty T1 phải trả lãi phát sinh cho đến ngày thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong “Thỏa thuận về các điều khoản và điều kiện tín dụng chung số NAD.DN.3844.110522 ngày 13-05-2022”, “Hợp đồng cấp tín dụng số NAD.DN.3844.110522 ngày 13-05-2022” và các Khế ước nhận nợ.

- Về xử lý tài sản thế chấp: Trong trường hợp Công ty T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền đề nghị Cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý toàn bộ tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp số NAD.BĐDN.376.250422 ngày 12-5-2022 và Cam kết thế chấp ngày 12-5-2022 là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 414, tờ bản đồ số 16, địa chỉ: Xóm E (nay là xóm S), xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 152438 do Ủy ban nhân dân huyện G, tỉnh Nam Định cấp ngày 21-8-2017 đứng tên ông Bùi Văn D và bà Nguyễn Thị P1.

- Về cam kết về việc trả nợ: Trường hợp Công ty trách nhiệm hữu hạn T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần Á thì ông Bùi Văn D và bà Nguyễn Thị P1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho Công ty trách nhiệm hữu hạn T1 theo giấy cam kết về việc trả nợ lập ngày 12-5-2022.

- Về chi phí tố tụng: Buộc Công ty T1 phải trả cho Ngân hàng Á số tiền xem xét thẩm định tại chỗ là 19.600.000 đồng.

- Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật:

Theo đơn khởi kiện ngày 02-10-2023 thì nguyên đơn là Ngân hàng Á yêu cầu Công ty T1 thanh toán tiền nợ gốc và nợ lãi theo “Thỏa thuận về các điều khoản và điều kiện tín dụng chung số NAD.DN.3844.110522 ngày 13-05-2022”, “Hợp đồng cấp tín dụng số NAD.DN.3844.110522 ngày 13-05-2022” và các Khế ước nhận nợ. Bị đơn là Công ty T1 không có yêu cầu phản tố. Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa các tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận. Do vậy, quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 30 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Tại Điều 11 của Thỏa thuận về các điều khoản và điều kiện tín dụng chung số NAD.DN.3844.110522 ngày 13-05-2022 quy định: “Các tranh chấp giữa các bên trong quá trình thực hiện Thỏa thuận này và Hợp đồng cấp tín dụng, Hợp đồng bảo đảm sẽ được các bên thỏa thuận, thương lượng. Để tránh nhầm lẫn, hai bên xác nhận rằng một trong các bên có quyền đưa vụ việc ra giải quyết tại Cơ quan giải quyết theo thỏa thuận của các bên hoặc cơ quan giải quyết tranh chấp có thẩm quyền theo quy định của pháp luật (nếu các bên không có thỏa thuận cơ quan giải quyết tranh chấp) mặc dù không tiến hành thương lượng”.

Theo hồ sơ vụ án, không có tài liệu nào thể hiện sự thỏa thuận của Ngân hàng ÁCông ty T1 về lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp. Do vậy, Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp được xác định theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Trong vụ án này, bị đơn là Công ty T1 có địa chỉ trụ sở tại thành phố N. Đồng thời hợp đồng tín dụng có hoạt động giải ngân tiền vay tại Ngân hàng Á - Chi nhánh tỉnh N. Do vậy, căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm g khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án nhân dân thành phố Nam Định thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

[1.3] Về sự có mặt của đương sự:

Người đại diện theo ủy quyền lại của nguyên đơn - ông Trần Đăng H có mặt tham gia phiên tòa; người đại diện theo pháp luật của bị đơn đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Bùi Văn D có đơn đề nghị giải quyết và xét xử vắng mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bà Nguyễn Thị P1 có đơn đề nghị giải quyết và xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông Bùi Văn D và bà Nguyễn Thị P1.

[2] Về hợp đồng tín dụng.

[2.1] Về hình thức và nội dung hợp đồng tín dụng:

Ngân hàng ÁCông ty T1 đã ký “Thỏa thuận về các điều khoản và điều kiện tín dụng chung số NAD.DN.3844.110522 ngày 13-05-2022”, “Hợp đồng cấp tín dụng số NAD.DN.3844.110522 ngày 13-05-2022” và các Khế ước nhận nợ. Trong đó thể hiện: Số tiền cho vay/hạn mức tín dụng: 1.300.000.000 đồng. Mục đích cho vay: Cho vay bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh. Phương thức cho vay: Cho vay theo hạn mức tín dụng. Phương thức giải ngân: Được quy định trong từng Khế ước nhận nợ. Thời hạn cho vay: 06 tháng, kể từ ngày kế tiếp của ngày giải ngân. Thời hạn giải ngân: 12 tháng, kể từ ngày ký Hợp đồng cấp tín dụng. Lãi suất trong hạn: Được quy định trong từng Khế ước nhận nợ. Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn. Lãi phạt chậm trả: 10%/năm.

Ngoài ra còn có các điều khoản khác về quyền và nghĩa vụ của các bên, điều khoản về chuyển nợ quá hạn, cam kết chung, hiệu lực của hợp đồng.

Xét thấy Thỏa thuận về các điều khoản và điều kiện tín dụng chung số NAD.DN.3844.110522 ngày 13-05-2022, Hợp đồng cấp tín dụng số NAD.DN.3844.110522 ngày 13-05-2022 và các Khế ước nhận nợ đều được lập thành văn bản. Nội dung các văn bản trên có đầy đủ các điều khoản cơ bản theo quy định của pháp luật, không có điều khoản vi phạm điều cấm của pháp luật, hợp đồng đều được người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng Á và người đại diện theo pháp luật của Công ty T1 ký tên và đóng dấu. Nội dung các Khế ước nhận nợ phù hợp với các điều khoản trong hợp đồng tín dụng. Vì vậy, căn cứ Vì vậy, căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 116, Điều 117, Điều 385, Điều 388, Điều 398, Điều 401, Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015, Thỏa thuận về các điều khoản và điều kiện tín dụng chung số NAD.DN.3844.110522 ngày 13-05-2022, Hợp đồng cấp tín dụng số NAD.DN.3844.110522 ngày 13-05-2022 và các Khế ước nhận nợ giữa Ngân hàng ÁCông ty T1 đều hợp pháp và làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia giao kết hợp đồng.

[2.2] Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng:

Các Giấy đề nghị giải ngân, K ước nhận nợ và các ủy nhiệm chi cho thấy: Sau khi ký Hợp đồng tín dụng, Ngân hàng Á đã giải ngân cho Công ty T1 đúng mục đích vay, sử dụng vốn để thanh toán các chi phí phục vụ cho hoạt động kinh doanh cụ thể như sau:

- Ngày 08-11-2022 giải ngân 400.000.000 đồng. Thời hạn cho vay: 06 tháng từ ngày 09-11-2022 đến ngày 08-5-2023. Lãi suất cho vay: 9.5%/năm. Lãi suất cho vay được điều chỉnh 03 tháng/lần theo công thức: Lãi suất cho vay = Lãi suất cơ sở + 3.30 %/năm. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Lãi suất phạt chậm trả lãi 10%/năm.

- Ngày 09-11-2022 giải ngân 400.000.000 đồng. Thời hạn cho vay: 06 tháng từ ngày 10-11-2022 đến ngày 09-5-2023. Lãi cho vay: 10%/năm. Lãi suất cho vay được điều chỉnh 03 tháng/lần theo công thức: Lãi suất cho vay = Lãi suất cơ sở + 3.30 %/năm. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Lãi suất phạt chậm trả lãi 10%/năm.

- Ngày 10-11-2022 giải ngân 02 lần mỗi lần 250.000.000 đồng theo 02 Khế ước nhận nợ (Tổng giải ngân trong ngày 10-11-2022 là 500.000.000 đồng). Thời hạn cho vay: 06 tháng từ ngày 11-11-2022 đến ngày 10-5-2023. Lãi suất cho vay: 10%/năm. Lãi suất cho vay được điều chỉnh 03 tháng/lần theo công thức: Lãi suất cho vay = Lãi suất cơ sở + 3.30 %/năm. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Lãi suất phạt chậm trả lãi 10%/năm.

Tổng số tiền Ngân hàng Á đã giải ngân cho Công ty T1 là 1.300.000.000 đồng (một tỷ ba trăm triệu đồng).

Tính đến hết ngày xét xử sơ thẩm (ngày 25-4-2024), Công ty T1 đã thanh toán và còn nợ Ngân hàng Á các khoản như sau:

- Khoản vay theo Khế ước nhận nợ số 03/TK vay 377851339 ngày 08-11-2022: Số tiền giải ngân: 400.000.000 đồng; Nợ gốc đã trả: 170.316.091 đồng; Dư nợ gốc: 229.683.909 đồng; Nợ lãi trong hạn (11.8%/năm tính từ ngày 12-4-2023 đến ngày 08-5-2023): 3.362.192 đồng; Nợ lãi quá hạn (17.7%/năm từ ngày 08-5-2023 đến ngày xét xử): 48.173.522 đồng; Phạt chậm trả lãi (10%/năm từ ngày 08-5-2023 đến ngày xét xử): 2.046.420 đồng. Tổng nợ gốc, nợ lãi, phạt chậm trả lãi: 283.266.043 đồng.

- Khoản vay theo Khế ước nhận nợ số 04/TK vay 377984139 ngày 09-11-2022: Số tiền giải ngân: 400.000.000 đồng; Nợ gốc đã trả: 0 đồng; Dư nợ gốc: 400.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn (11.8%/năm tính từ ngày 12-4-2023 đến ngày 09-5-2023): 3.491.507 đồng; Nợ lãi quá hạn (17.7%/năm từ ngày 09-5-2023 đến ngày xét xử): 68.278.356 đồng; Phạt chậm trả lãi (10%/năm từ ngày 09-5-2023 đến ngày xét xử): 2.346.555 đồng. Tổng nợ gốc, nợ lãi, phạt chậm trả lãi: 474.116.418 đồng.

- Khoản vay theo Khế ước nhận nợ số 05/TK vay 378154459 ngày 10-11-2022: Số tiền giải ngân: 250.000.000 đồng; Nợ gốc đã trả: 0 đồng; Dư nợ gốc: 250.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn (11.8%/năm tính từ ngày 12-4-2023 đến ngày 10-5-2023): 2.263.014 đồng; Nợ lãi quá hạn (17.7%/năm từ ngày 10-5-2023 đến ngày xét xử): 42.552.740 đồng; Phạt chậm trả lãi (10%/năm từ ngày 10-5-2023 đến ngày xét xử): 1.466.043 đồng. Tổng nợ gốc, nợ lãi, phạt chậm trả lãi: 296.281.797 đồng.

- Khoản vay theo Khế ước nhận nợ số 06/TK vay 378199159 ngày 10-11-2022: Số tiền giải ngân: 250.000.000 đồng; Nợ gốc đã trả: 0 đồng; Dư nợ gốc: 250.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn (11.8%/năm tính từ ngày 12-4-2023 đến ngày 10-5-2023): 2.263.014 đồng; Nợ lãi quá hạn (17.7%/năm từ ngày 10-5-2023 đến ngày xét xử): 42.552.740 đồng; Phạt chậm trả lãi (10%/năm từ ngày 10-5-2023 đến ngày xét xử): 1.466.043 đồng. Tổng nợ gốc, nợ lãi, phạt chậm trả lãi: 296.281.797 đồng.

Như vậy, Công ty T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Tính đến hết ngày xét xử sơ thẩm (ngày 25-4-2024), Công ty T1 còn nợ Ngân hàng Á tổng số tiền 1.349.946.055 đồng (bao gồm nợ gốc, nợ lãi trong hạn, nợ lãi quá hạn, phạt chậm trả lãi).

[2.3] Về yêu cầu khởi kiện:

- Đối với nợ gốc: Căn cứ nhận định 2.1 và 2.2 và Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Á, buộc Công ty T1 có nghĩa vụ trả toàn bộ số dư nợ gốc là 1.129.683.909 đồng.

- Đối với lãi trong hạn, lãi quá hạn, phạt chậm trả lãi: Khế ước nhận nợ đã ký giữa các bên đều có thỏa thuận lãi suất cho vay là 9.5 và 10%/năm. Lãi suất cho vay được điều chỉnh 03 tháng/lần theo công thức: Lãi suất cho vay = Lãi suất cơ sở + 3.30 %/năm; Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn; Phạt chậm trả lãi 10%/năm. Xét các thỏa thuận về lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn, phạt chậm trả lãi trong các Khế ước nhận nợ đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật, phù hợp với quy định Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 nên yêu cầu của Ngân hàng Á buộc Công ty T1 phải trả lãi trong hạn 11.379.727 đồng, lãi quá hạn 201.557.358 đồng, phạt chậm trả lãi 7.325.061 đồng (tính đến hết ngày 25-4-2024) là có căn cứ nên được chấp nhận.

[3] Về biện pháp bảo đảm tiền vay:

3.1. Về tính hợp pháp hợp đồng thế chấp và các phụ lục hợp đồng thế chấp:

Để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán, Ngân hàng ÁCông ty T1 đã ký Hợp đồng thế chấp số NAD.BĐDN.376.250422 ngày 12-5-2022 và Cam kết thế chấp tài sản ngày 12-5-2022. Hợp đồng thế chấp được công chứng tại tại Văn phòng C1 H. Theo Điều 1 của Hợp đồng thế chấp và Mục 1 của Cam kết thế chấp tài sản, tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 414, tờ bản đồ số 16, địa chỉ: Xóm E (nay là xóm S), xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 152438 do Ủy ban nhân dân huyện G, tỉnh Nam Định cấp ngày 21-8-2017 đứng tên ông Bùi Văn D và bà Nguyễn Thị P1.

Hợp đồng thế chấp và Cam kết thế chấp đều được lập thành văn bản, có chữ ký của các bên. Hợp đồng thế chấp được công chứng theo quy định của pháp luật. Tài sản thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện G, tỉnh Nam Định là phù hợp với quy định tại các Điều 298, 299, 317 và Điều 319 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên Hợp đồng thế chấp số NAD.BĐDN.376.250422 ngày 12-5-2022 và Cam kết thế chấp tài sản ngày 12-5-2022 hợp pháp và có giá trị thực hiện.

3.2. Về tài sản thế chấp:

Theo Điều 1 của Hợp đồng thế chấp số NAD.BĐDN.376.250422 ngày 12-5-2022 và Mục 1 của Cam kết thế chấp tài sản ngày 12-5-2022: Để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của Công ty T1 với Ngân hàng Á, ông Bùi Văn D và bà Nguyễn Thị P1 đã thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 414, tờ bản đồ số 16, địa chỉ: Xóm E (nay là xóm S), xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 152438 do Ủy ban nhân dân huyện G, tỉnh Nam Định cấp ngày 21-8-2017 đứng tên ông Bùi Văn D và bà Nguyễn Thị P1.

Vì vậy, nếu Công ty T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng Á có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 414, tờ bản đồ số 16, địa chỉ: Xóm E (nay là xóm S), xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 152438 do Ủy ban nhân dân huyện G, tỉnh Nam Định cấp ngày 21-8-2017 đứng tên ông Bùi Văn D và bà Nguyễn Thị P1 để thu hồi nợ.

3.3. Về việc cam kết trả nợ:

Tại Giấy cam kết về việc trả nợ lập ngày 12-5-2022, bên cam kết là ông Bùi Văn D và bà Nguyễn Thị P1 và bên đại diện cấp tín dụng là Công ty trách nhiệm hữu hạn T1 đã thoả thuận: Ông Bùi Văn D và bà Nguyễn Thị P1 trả nợ thay cho Công ty trách nhiệm hữu hạn T1 các khoản nợ của bên được cấp tín dụng với Ngân hàng thương mại cổ phần Á khi Bên được cấp tín dụng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ.

Giấy cam kết về việc trả nợ có chữ ký của bên cam kết là ông Bùi Văn D và bà Nguyễn Thị P1 và bên đại diện cấp tín dụng là Công ty trách nhiệm hữu hạn T1. Vì vậy, trường hợp Công ty trách nhiệm hữu hạn T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần Á thì ông Bùi Văn D và bà Nguyễn Thị P1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho Công ty trách nhiệm hữu hạn T1 theo giấy cam kết về việc trả nợ lập ngày 12-5-2022.

[4] Về nghĩa vụ của Công ty T1 trong trường hợp chậm thi hành án:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm và án lệ số 08/2016/AL ngày 17-10-2016 về xác định lãi suất, việc điều chỉnh lãi suất trong hợp đồng tín dụng kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 25-4-2024), hàng tháng Công ty T1 còn phải chịu tiền lãi đối với số tiền nợ gốc chưa thanh toán cho Ngân hàng Á theo mức lãi suất thỏa thuận trong Thỏa thuận về các điều khoản và điều kiện tín dụng chung số NAD.DN.3844.110522 ngày 13-05-2022, Hợp đồng cấp tín dụng số NAD.DN.3844.110522 ngày 13-05-2022, các Khế ước nhận nợ và các văn bản điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng Á cho đến khi thanh toán xong tất cả các khoản nợ.

[5] Về chi phí tố tụng:

Căn cứ Điều 157 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: Ngân hàng Á được chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện nên không phải chịu chi phí tố tụng, Công ty T1 có nghĩa vụ trả nợ nên phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng. Do đó, buộc Công ty T1 phải trả cho Ngân hàng Á số tiền xem xét, thẩm định tại chỗ mà Ngân hàng Á đã nộp là 19.600.000 đồng.

[6] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì án phí trong vụ án sẽ được quyết định cụ thể như sau:

Ngân hàng Á được chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện nên không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Số tiền tạm ứng án phí do Ngân hàng Á đã nộp sẽ được trả lại.

Công ty T1 có nghĩa vụ trả nợ phải chịu án phí có giá ngạch tương ứng với số tiền trả nợ là 1.349.946.055 đồng.

Cụ thể là 36.000.000 đồng + [3 % x (1.349.946.055 đồng – 800.000.000 đồng)] = 52.498.382 đồng (Làm tròn là 52.498.000 đồng)

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 116, Điều 117, Điều 298, Điều 299, Điều 318, Điều 320, Điều 357, Điều 398, Điều 401, Điều 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm g khoản 1 Điều 40; khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 91, 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ Điều 4, Điều 9, Điều 12 Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17-10-2016;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Á.

Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn T1 phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Á các khoản nợ theo Thỏa thuận về các điều khoản và điều kiện tín dụng chung số NAD.DN.3844.110522 ngày 13-05-2022, Hợp đồng cấp tín dụng số NAD.DN.3844.110522 ngày 13-05-2022, các Khế ước nhận nợ và các Văn bản điều chỉnh lãi suất tính đến hết ngày xét xử sơ thẩm (ngày 25-4-2024), cụ thể như sau:

- Khoản vay theo Khế ước nhận nợ số 03/TK vay 377851339 ngày 08-11-2022: Dư nợ gốc: 229.683.909 đồng; Nợ lãi trong hạn (11.8%/năm tính từ ngày 12-4-2023 đến ngày 08-5-2023): 3.362.192 đồng; Nợ lãi quá hạn (17.7%/năm từ ngày 08-5-2023 đến hết ngày xét xử): 48.173.522 đồng; Phạt chậm trả lãi (10%/năm từ ngày 08-5-2023 đến hết ngày xét xử): 2.046.420 đồng.

- Khoản vay theo Khế ước nhận nợ số 04/TK vay 377984139 ngày 09-11-2022: Dư nợ gốc: 400.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn (11.8%/năm tính từ ngày 12-4-2023 đến ngày 09-5-2023): 3.491.507 đồng; Nợ lãi quá hạn (17.7%/năm từ ngày 09-5-2023 đến hết ngày xét xử): 68.278.356 đồng; Phạt chậm trả lãi (10%/năm từ ngày 09-5-2023 đến hết ngày xét xử): 2.346.555 đồng.

- Khoản vay theo Khế ước nhận nợ số 05/TK vay 378154459 ngày 10-11-2022: Dư nợ gốc: 250.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn (11.8%/năm tính từ ngày 12-4-2023 đến ngày 10-5-2023): 2.263.014 đồng; Nợ lãi quá hạn (17.7%/năm từ ngày 10-5-2023 đến hết ngày xét xử): 42.552.740 đồng; Phạt chậm trả lãi (10%/năm từ ngày 10-5-2023 đến hết ngày xét xử): 1.466.043 đồng.

- Khoản vay theo Khế ước nhận nợ số 06/TK vay 378199159 ngày 10-11-2022: Dư nợ gốc: 250.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn (11.8%/năm tính từ ngày 12-4-2023 đến ngày 10-5-2023): 2.263.014 đồng; Nợ lãi quá hạn (17.7%/năm từ ngày 10-5-2023 đến hết ngày xét xử): 42.552.740 đồng; Phạt chậm trả lãi (10%/năm từ ngày 10-5-2023 đến hết ngày xét xử): 1.466.043 đồng.

Tổng cộng, Công ty trách nhiệm hữu hạn T1 phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Á số tiền nợ gốc là 1.129.683.909 đồng + lãi trong hạn 11.379.727 đồng + lãi quá hạn 201.557.358 đồng + phạt chậm trả lãi 7.325.061 đồng = 1.349.946.055 đồng (một tỷ ba trăm bốn mươi chín triệu chín trăm bốn mươi sáu nghìn không trăm năm mươi năm đồng).

2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 25-4-2024) cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng Công ty trách nhiệm hữu hạn T1 còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn, phạt chậm trả lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Thỏa thuận về các điều khoản và điều kiện tín dụng chung số NAD.DN.3844.110522 ngày 13-05-2022, Hợp đồng cấp tín dụng số NAD.DN.3844.110522 ngày 13-05-2022, các Khế ước nhận nợ và các văn bản điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng thương mại cổ phần Á cho đến khi thanh toán xong tất cả các khoản nợ.

Trong trường hợp Ngân hàng thương mại cổ phần Á có văn bản về việc điều chỉnh lãi suất và việc điều chỉnh lãi suất phù hợp với các văn bản quy phạm pháp luật quy định về lãi, lãi suất thì lãi suất có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh lãi, lãi suất mà Công ty trách nhiệm hữu hạn T1 phải thanh toán theo quyết định của Tòa án được áp dụng theo sự điều chỉnh của Ngân hàng thương mại cổ phần Á.

3. Về xử lý tài sản bảo đảm:

Trong trường hợp Công ty trách nhiệm hữu hạn T1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng thương mại cổ phần Á có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 414, tờ bản đồ số 16, địa chỉ: Xóm E (nay là xóm S), xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 152438 do Ủy ban nhân dân huyện G, tỉnh Nam Định cấp ngày 21-8-2017 đứng tên ông Bùi Văn D và bà Nguyễn Thị P1 để thu hồi nợ.

Trường hợp số tiền phát mại tài sản không đủ để thanh toán toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần Á thì Công ty trách nhiệm hữu hạn T1 tiếp tục có nghĩa vụ trả nợ cho đến khi trả hết khoản nợ trên.

4. Về cam kết về việc trả nợ:

Trường hợp Công ty trách nhiệm hữu hạn T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần Á thì ông Bùi Văn D và bà Nguyễn Thị P1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho Công ty trách nhiệm hữu hạn T1 theo giấy cam kết về việc trả nợ lập ngày 12-5-2022.

5. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

Công ty trách nhiệm hữu hạn T1 phải nộp án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 52.498.000 đồng.

Trả lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần Á số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 25.847.000 đồng (Hai mươi lăm triệu tám trăm bốn mươi bảy nghìn đồng) theo biên lai số 0001922 ngày 17-01-2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Nam Định.

6. Về chi phí tố tụng: Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn T1 phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Á số tiền xem xét, thẩm định tại chỗ mà Ngân hàng thương mại cổ phần Á đã nộp là 19.600.000 đồng (mười chín triệu sáu trăm nghìn đồng).

7. Quyền kháng cáo: Ngân hàng thương mại cổ phần Á có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Công ty trách nhiệm hữu hạn T1, ông Bùi Văn D và bà Nguyễn Thị P1 có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TP. Nam Định;
  • - Chi cục THADS TP. Nam Định;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Bang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2024/KDTM-ST ngày 25/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 05/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng thương mại cổ phần A và Công ty trách nhiệm hữu hạn T1 (Trang chấp hợp đồng tín dụng)
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger