Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH SÓC TRĂNG

Bản án số: 05/2024/KDTM-ST

Ngày 17/5/2024

V/v tranh chấp hợp đồng mua bán

hàng hóa

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Vĩnh Khương.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lương Văn Hòa.
  2. Ông Mai Thanh Tùng.

- Thư ký phiên toà: Bà Trầm Thị Phương Hằng - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Ninh - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 10, 17 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 05/2023/TLST-KDTM ngày 10 tháng 5 năm 2023, về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2024/QĐXXST-KDTM ngày 25 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

  1. Công ty TNHH MTV H1. Địa chỉ: Số F, đường L, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
  2. Người đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH MTV H1: Ông Huỳnh Hồng T. Địa chỉ: Số A, đường K, khóm F, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (theo văn bản ủy quyền ngày 28/3/2023). (có mặt)

  3. Công ty TNHH X. Địa chỉ: Số C, đường I, khu dân cư E, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
  4. Người đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH X: Ông Huỳnh Hồng T. Địa chỉ: Số A, đường K, khóm F, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (theo văn bản ủy quyền ngày 25/4/2023). (có mặt)

  5. Ông Lý Minh K (C kinh doanh Minh K). Địa chỉ: ấp R, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.
  6. Người đại diện theo ủy quyền của ông Lý Minh K: Ông Nguyễn Văn Ú. Địa chỉ: Số A, ấp C, thị trấn P, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (theo văn bản ủy quyền ngày 06/4/2023). (vắng mặt)

- Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn T2. Địa chỉ: Số A, đường L, khóm D, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

Người đại diện theo pháp luật của Công ty Trách nhiệm hữu hạn T2: Ông Đỗ Anh T1 (chết ngày 28/3/2022).

Người thừa kế của ông Đỗ Anh T1:

  • + Bà Lê Thị Ngọc H. Địa chỉ: C Calwell Street Kensington V Australia. (vắng mặt)
  • + Bà Đỗ Kiều D. Địa chỉ: Số A đường L, khóm D, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
  • + Bà Đỗ Kiều M. Địa chỉ: Số A đường L, khóm D, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)

Người đại diện theo pháp luật của Công ty Trách nhiệm hữu hạn T2 do Tòa án chỉ định: Bà Đỗ Kiều D. Địa chỉ: Số A đường L, khóm D, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)

- Người làm chứng: Bà Chương Khã P. Địa chỉ: Số nhà G - G, ƠLK 34 – 06, đường số H, khu đô thị E, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 28/03/2023 của Công ty TNHH MTV H1 (sau đây viết tắt là Công ty H1) và trình bày của ông Huỳnh Hồng T tại phiên tòa:

Công ty H1 có bán vật liệu xây dựng cho Công ty TNHH T2 (sau đây viết tắt là Công ty T2) để xây dựng các công trình đã nhận đấu thầu tại tỉnh Sóc Trăng. Từ ngày 15/8/2020 đến ngày 17/3/2022 Công ty H1 đã giao cho Công ty T2 các loại vật liệu như xi măng, sắt, cát, đá xây dựng và bê tông tươi. Sau khi đối chiếu, Công ty T2 còn nợ tổng số tiền là 1.559.735.373 đồng và hai bên thỏa thuận đến ngày 10/4/2022 sẽ thanh toán đủ. Tuy nhiên cho đến nay Công ty T2 vẫn không thanh toán cho Công ty H1.

Công ty H1 yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc Công ty T2 trả số tiền mua vật liệu xây dựng còn nợ là 1.559.735.373 đồng. Tại phiên toà, nguyên đơn rút lại phần yêu cầu bị đơn trả tiền lãi chậm thanh toán của số tiền mua hàng còn nợ.

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 25/4/2023 của Công ty TNHH X (sau đây viết tắt là Công ty X) và trình bày của ông Huỳnh Hồng T tại phiên tòa:

Công ty X có bán vật liệu xây dựng cho Công ty T2 để xây dựng các công trình đã nhận thầu tại tỉnh Sóc Trăng. Từ ngày 01/01/2022 đến ngày 29/3/2023, Công ty X đã giao cho Công ty T2 các loại vật liệu như xi măng, sắt, kẽm. Tính đến ngày 29/3/2023, Công ty T2 còn nợ tổng số tiền là 389.958.498 đồng và 02 bên thỏa thuận đến ngày 10/4/2022 sẽ thanh toán đủ nhưng đến nay Công ty T2 vẫn không thực hiện.

Công ty X yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc Công ty T2 trả số tiền mua vật liệu xây dựng còn nợ là 389.958.498 đồng. Tại phiên toà, nguyên đơn rút lại phần yêu cầu bị đơn trả tiền lãi chậm thanh toán của số tiền mua hàng còn nợ.

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 06/4/2023 của ông Lý Minh K và trình bày của ông Nguyễn Văn Ú tại văn bản ngày 09/5/2024:

Vào năm 2021, ông Lý Minh K có bán vật liệu xây dựng cho Công ty T2 do ông Đỗ Anh T1 làm Giám đốc. Việc mua bán được thỏa thuận bằng lời nói và có sổ theo dõi bán hàng, mỗi lần giao vật liệu xây dựng thì có ký nhận hàng. Sau khi cấn trừ và lập bảng đối chiếu công nợ, tính từ ngày 01/12/2021 đến ngày 04/3/2022 thì Công ty T2 còn nợ ông K số tiền là 278.674.000 đồng. Đến ngày 28/3/2022, ông T1 đột ngột qua đời nên Công ty T2 vẫn chưa thanh toán tiền cho ông K. Ông K có yêu cầu những người thừa kế của ông T1 gồm mẹ ruột là bà Lê Thị Ngọc H và các con là bà Đỗ Kiều D, bà Đỗ Kiều M trả phần tiền mà ông T1 còn nợ nhưng bà H, bà D, bà M không thực hiện.

Ông Lý Minh K yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc Công ty T2 (những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Đỗ Anh T1 gồm bà Lê Thị Ngọc H, bà Đỗ Kiều D, bà Đỗ Kiều M) có trách nhiệm liên đới trả cho ông K số tiền còn nợ là 278.674.000 đồng. Tại văn bản ngày 09/5/2024, phía ông K thay đổi yêu cầu khởi kiện thành chỉ buộc Công ty T2 trả số tiền này cho ông K, không yêu cầu tính lãi.

Tòa án đã cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho người đại diện theo pháp luật của bị đơn là bà Đỗ Kiều D, nhưng bà D từ chối nhận và cũng không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu các nguyên đơn đã trình bày, giao nộp cho Tòa án.

Theo trình bày của bà Chương Khã P tại Biên bản lấy lời khai ngày 08/4/2024: Bà Chương Khã P là kế toán của Công ty T2, các công nợ của Công ty này Bà đều theo dõi và báo lại với Giám đốc Công ty là ông Đỗ Anh T1. Công ty T2 có nợ số tiền mua vật liệu xây dựng của Công ty H1 1.559.735.373 đồng; nợ ông Lý Minh K số tiền 278.674.000 đồng và nợ Công ty X số tiền 389.958.498 đồng.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Các nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán tiền mua hàng phát sinh trong hoạt động kinh doanh, được thực hiện giữa các bên có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận; và bà Lê Thị Ngọc H đang cư trú ở nước ngoài nên Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xác định quan hệ pháp luật cần giải quyết là tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa và thụ lý, giải quyết vụ án là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 30, khoản 3 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Người đại diện theo pháp luật của bị đơn là bà Đỗ Kiều D vắng mặt lần thứ hai không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan; ông Nguyễn Văn Ú có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Tòa án đã lập thủ tục ủy thác tư pháp để tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà Lê Thị Ngọc H nhưng đến nay đương sự này vẫn không cung cấp lời khai, tài liệu, chứng cứ; bà Chương Khã P đã có lời khai trực tiếp tại Tòa án nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, khoản 2 Điều 229, điểm a khoản 5 Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự để tiếp tục xét xử vụ án.

[1.3] Theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (đăng ký thay đổi lần thứ 6, ngày 08/4/2021) thì Công ty T2 được tổ chức quản lý theo loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viêH1, do ông Đỗ Anh T1 là chủ sở hữu và đại diện theo pháp luật. Sau khi ông T1 chết vào ngày 28/3/2022, người thừa kế của ông T1 là bà Lê Thị Ngọc H, bà Đỗ Kiều D, bà Đỗ Kiều M vẫn chưa thực hiện thủ tục đăng ký thay đổi chủ sở hữu, thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp. Căn cứ khoản 7 Điều 12, khoản 3 Điều 78 Luật Doanh nghiệp năm 2020 và điểm c khoản 1 Điều 137 Bộ luật dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng đã chỉ định bà Đỗ Kiều D là người đại diện theo pháp luật của Công ty này để việc giải quyết vụ án đúng quy định pháp luật.

[1.4] Tại phiên tòa, Công ty H1 và Công ty X rút lại yêu cầu buộc Công ty T2 trả tiền lãi chậm thanh toán của số tiền mua hàng còn nợ; ông Lý Minh K thay đổi yêu cầu khởi kiện thành buộc Công ty T2 trả số tiền 278.674.000 đồng cho ông K. Do việc Công ty H1, Công ty X rút một phần yêu cầu khởi kiện là tự nguyện và việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của ông K không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu nên Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử phần yêu cầu khởi kiện đã rút theo quy định tại Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung, xét yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn:

[2.1] Công ty H1 yêu cầu bị đơn trả số tiền mua vật tư xây dựng còn nợ là 1.559.735.373 đồng:

Công ty H1 cho rằng từ ngày 15/8/2020 đến ngày 17/3/2022 có bán xi măng, sắt, cát, đá và bê tông tươi cho Công ty T2 để xây dựng các công trình. Sau khi đối chiếu, Công ty T2 còn nợ tổng số tiền là 1.559.735.373 đồng. Kèm theo đơn khởi kiện, Công ty H1 cung cấp cho Tòa án sao kê thanh toán tiền mua hàng, các hoá đơn giá trị gia tăng, biên bản đối chiếu và xác nhận công nợ thể hiện bị đơn còn nợ số tiền 1.559.735.373 đồng.

[2.2] Công ty X yêu cầu bị đơn trả số tiền mua vật liệu xây dựng còn nợ là 389.958.498 đồng:

Công ty X trình bày từ ngày 01/01/2022 đến ngày 29/3/2023, có bán xi măng, sắt, kẽm cho Công ty T2 để xây dựng các công trình đã nhận thầu tại tỉnh Sóc Trăng. Công ty X cung cấp bảng kê, các hoá đơn giá trị gia tăng và các phiếu giao nhận hàng thể hiện bị đơn còn nợ số tiền là 389.958.498 đồng.

[2.3] Ông Lý Minh K yêu cầu bị đơn trả số tiền mua vật liệu xây dựng còn nợ là 278.674.000 đồng:

Ông Lý Minh K trình bày từ ngày 01/12/2021 đến ngày 04/3/2022, có bán vật liệu xây dựng cho Công ty T2. Ông K cung cấp bảng đối chiếu công nợ thể hiện bị đơn còn nợ số tiền là 278.674.000 đồng.

[2.4] Các khoản nợ trên phù hợp với tài liệu, chứng cứ đã được nguyên đơn cung cấp và quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo pháp luật của bị đơn là bà Đỗ Kiều D cũng không phản đối những tình tiết, sự kiện các nguyên đơn đã trình bày và giao nộp cho Tòa án. Đồng thời, theo ý kiến của bà Chương Khã P tại Biên bản lấy lời khai ngày 08/4/2024 thì bà P là kế toán của Công ty T2; công nợ của Công ty này được bà P theo dõi và thông báo lại cho Giám đốc là ông Đỗ Anh T1. Bà P xác nhận bị đơn có nợ tiền mua vật liệu xây dựng của Công ty H1 với số tiền 1.559.735.373 đồng, nợ Công ty X số tiền 389.958.498 đồng và nợ ông Lý Minh K số tiền 278.674.000 đồng. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 55, 306 Luật thương mại năm 2005 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng là có căn cứ như đã nhận định nên được chấp nhận.

[4] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm và chi phí khác:

[4.1] Các nguyên đơn không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

[4.2] Bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm tổng cộng là 92.223.686 đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[4.3] Bị đơn phải chịu 200.000 đồng chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài theo quy định tại Điều 153, Điều 154 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 1 Điều 30, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 153, Điều 154, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, khoản 2 Điều 229, Điều 244, điểm a khoản 5 Điều 477, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Điều 55, 306 Luật Thương mại; khoản 7 Điều 12, khoản 3 Điều 78 Luật Doanh nghiệp năm 2020 và điểm c khoản 1 Điều 137 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH MTV H1, Công ty TNHH X và ông Lý Minh K (Chủ Hộ kinh doanh M1):
    1. Buộc Công ty TNHH T2 trả cho Công ty TNHH MTV H1 số tiền mua hàng còn nợ là 1.559.735.373 đồng;
    2. Buộc Công ty TNHH T2 trả cho Công ty TNHH X số tiền mua hàng còn nợ là 389.958.498 đồng;
    3. Buộc Công ty TNHH T2 trả cho ông Lý Minh K (C kinh doanh Minh K) số tiền mua hàng còn nợ là 278.674.000 đồng.
    4. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường theo quy định tại Điều 306 của Luật Thương mại năm 2005 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
  2. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm và chi phí khác:
    1. Công ty TNHH T2 phải chịu 92.223.686 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
    2. Trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp cho:
      • - Công ty TNHH MTV H1 số tiền 29.396.000 đồng theo Biên lai số 0008367 ngày 17/4/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Sóc Trăng.
      • - Công ty TNHH X số tiền 9.749.000 đồng theo Biên lai số 0008382 ngày 09/5/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Sóc Trăng.
      • - Ông Lý Minh K (Chủ Hộ kinh doanh M1) số tiền 6.967.000 đồng theo Biên lai số 0007764 ngày 28/4/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Sóc Trăng.
    3. Công ty TNHH T2 phải chịu 200.000 đồng chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài để hoàn trả lại cho Công ty TNHH MTV H1.
  3. Công ty TNHH MTV H1, Công ty TNHH X có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; ông Lý Minh K (Chủ Hộ kinh doanh M1), Công ty TNHH T2 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
  4. Bà Lê Thị Ngọc H có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

  5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng;
  • - Cục THADS tỉnh Sóc Trăng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, Tòa Dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Vĩnh Khương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2024/KDTM-ST ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

  • Số bản án: 05/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/05/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger