|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 05/2024/KDTM-PT Ngày: 25/11/2024 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Cao Gia.
- Các Thẩm phán: Ông Lê Trúc Lâm và bà Vũ Ngọc Hà.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Cẩm Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Công – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 07/2024/TLPT-KDTM ngày 08/10/2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, do bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 16/2024/KDTM-ST ngày 06/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2024/QĐ-PT ngày 04 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần (viết tắt TMCP); địa chỉ: số A T, phường L, quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn: Ông Phạm Quang D - Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng Thương mại cổ phần N.
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Hà Đức T - Chức vụ: Trưởng phòng G thuộc Ngân hàng Thương mại cổ phần N - Chi nhánh P; địa chỉ: số E D, phường D, thành phố T, tỉnh Phú Yên (theo văn bản ủy quyền số 693/UQ-PHY.HCNS ngày 07/9/203 của Giám đốc chi nhánh); có đơn xin xử vắng mặt.
-
Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn (viết tắt TNHH) Viễn thông Thiên Hồng H; địa chỉ: số A L, Phường H, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
Người đại diện theo pháp luật của bị đơn: Ông Mai Văn H1 – Chức vụ: Giám đốc Công ty; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Mai Văn H1, sinh năm 1977; cư trú tại: Số A L, phường H, thành phố T, tỉnh Phú Yên; có mặt.
- Người kháng cáo: Bị đơn Công ty TNHH V.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày: Nguyên đơn có cho bị đơn vay tiền theo hạn mức tại Hợp đồng số 0822/HDHM-TTH ngày 17/8/2022, cụ thể: Tài khoản số 1035134592 vay 1.000.000.000đ; tài khoản số 1035182402 vay 1.000.000.000đ; tài khoản số 1035396373 vay 770.000.000đ; tài khoản số1035397112 vay 1.150.000.000đ; tài khoản 1035663706 vay 280.000.000đ. Thời hạn vay là 06 tháng theo các Giấy nhận nợ.
Hai khoản vay 1.000.000.000đ, lãi suất 8,7%/năm từ ngày giải ngân đến hết ngày 30/4/2023, sau thời gian này thì áp dụng lãi suất 9,2%/năm.
Các khoản vay còn lại áp dụng lãi suất 9,5%/năm từ ngày giải ngân đến hết ngày 30/4/2023, sau thời gian này áp dụng lãi suất 10%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.
Tài sản bảo đảm cho khoản vay là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thửa số 281, tờ bản đồ số 20 (đo đạc năm 2004), địa chỉ thửa đất: số A L, phường H, thành phố T, tỉnh Phú Yên, Giấy chứng nhận số CA 369675 cấp ngày 20/12/2016 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh P cấp; Hợp đồng thế chấp số 0822/HDTC-THH ngày 17/8/2022; nhà, đất do ông Mai Văn H1 đứng tên.
Từ khi vay đến nay, Công ty TNHH V có trả lãi đến ngày 25/6/2023 và chưa trả khoản vay gốc nào. Các khoản vay đến nay đã quá hạn, Ngân hàng đã nhiều lần làm việc trực tiếp và có văn bản yêu cầu bị đơn thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng bị đơn không tiếp tục trả gốc và lãi cho Ngân hàng. Tính đến ngày 20/11/2023, nợ gốc 4.200.000.000đ và nợ lãi 210.445.620đ, tổng cộng: 4.410.445.620đ. Nay, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Toà án buộc bị đơn trả số nợ gốc và lãi nói trên cho Ngân hàng. Trường hợp bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ.
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về số tiền gốc và yêu cầu bị đơn trả tiền lãi đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 06/8/2024) gồm lãi trong hạn là 450.487.671đ, lãi phạt quá hạn là 196.087.671đ, tổng nợ gốc và nợ lãi 4.846.575.342đ.
Người đại diện theo pháp luật của bị đơn trình bày: Bị đơn có vay của nguyên đơn tổng số tiền gốc 4.200.000.000đ để kinh doanh mua bán hàng hoá như nguyên đơn trình bày là đúng. Do tình hình kinh tế khó khăn nên Công ty bị thua lỗ dẫn đến mất khả năng trả nợ gốc và lãi cho nguyên đơn. Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu trả nợ thì Công ty đồng ý trả số nợ trên nhưng xin gia hạn trả nợ đến ngày 30/01/2024 sẽ thực hiện trả nợ đầy đủ và theo đúng thời gian như trên.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện bị đơn ông Mai Văn H1 thống nhất về khoản nợ gốc, riêng khoản tiền lãi ông H1 đề nghị nguyên đơn xem xét áp dụng chương trình hỗ trợ vốn của Nhà nước cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, giảm khoản tiền lãi để Công ty có điều kiện trả nợ vì ngân hàng tính lãi quá cao.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Mai Văn H1: Thống nhất có dùng tài sản riêng của mình là nhà và đất tại số A L, pường H, thành phố T, tỉnh Phú Yên thế chấp cho Ngân hàng để bảo đảm khoản vay cho Công ty TNHH V do ông làm Giám đốc. Ông đồng ý bán tài sản để trả nợ cho Ngân hàng. Tại phiên tòa sơ thẩm, ông H1 thống nhất nếu Công ty không trả được nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi tài sản ông đã ký thế chấp để trả nợ.
Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 16/2024/KDTM-ST ngày 06/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa quyết định:
Căn cứ các Điều 280, 357, 463, khoản 1 Điều 466 của Bộ luật dân sự; các Điều 100, 103 của Luật các tổ chức tín dụng; Điều 147, Điều 157 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần N;
Buộc bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn V phải trả cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần N số tiền 4.846.575.342đ (Trong đó: Tiền gốc 4.200.000.000đ, tiền lãi trong hạn 450.487.671đ, lãi phạt quá hạn 196.087.671đ).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 06/8/2024) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thoả thuận trong Hợp đồng cho vay theo hạn mức và các Giấy nhận nợ.
Trường hợp bị đơn không trả được nợ hoặc trả không đầy đủ thì nguyên đơn có quyền yêu cầu phát mãi tài sản đã thế chấp là nhà và quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 281, tờ bản đồ số 20 (đo đạc năm 2004), địa chỉ: số A L, Phường H, thành phố T, tỉnh Phú Yên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA 369675 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh P cấp ngày 20/12/2016 cho ông Mai Văn H1 và theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và nhà ở số 0822/HDTC-THH ngày 17/8/2022 giữa nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Mai Văn H1.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn quyết định chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 20/8/2024, bị đơn có đơn kháng cáo yêu cầu huỷ án sơ thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm:
Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn có văn bản trình bày: Đến nay, bị đơn đã thanh toán xong nợ gốc và nợ lãi nên Ngân hàng không có ý kiến và yêu cầu gì thêm.
Đại diện theo pháp luật của bị đơn và là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày: Bị đơn đã thanh toán xong nợ gốc và lãi cho nguyên đơn nhưng bị đơn đề nghị huỷ án sơ thẩm vì cấp sơ thẩm chưa xem xét chính sách giảm lãi suất cho vay lần 3 năm 2023 và gói hỗ trợ 160 ngàn tỉ đồng giảm lãi suất cho vay của V trong năm 2024.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự và những người tham gia tố tụng khác đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của các bên đương sự, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
-
Về tố tụng:
- Bị đơn kháng cáo và nộp tiền tạm ứng án phí kháng cáo trong thời hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
- Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 196 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt nguyên đơn.
-
Xét kháng cáo của bị đơn:
- Đối với khoản nợ vay gốc là 4.200.000.000đ. Đến nay, bị đơn đã thanh toán xong cho nguyên đơn. Tại phiên toà, các bên đương sự không ý kiến gì nên không xét.
- Đối với khoản nợ lãi: Theo nguyên đơn tính đến ngày xét xử sơ thẩm (06/8/2024) là 646. 575.342đ (Trong đó, tiền lãi trong hạn 450.487.671đ và tiền lãi phạt quá hạn 196.087.671đ). Bị đơn thừa nhận số tiền lãi nêu trên và đã thanh toán xong các khoản nợ lãi nhưng đề nghị xem xét lại chính sách giảm lãi suất cho vay lần 3 năm 2023 và gói hỗ trợ 160 ngàn tỉ đồng giảm lãi suất cho vay của V trong năm 2024. Xét quá trình vay và trả nợ, bị đơn không thực hiện đúng thoả thuận trả gốc và lãi theo thời gian quy định tại hợp đồng vay, thường xuyên quá hạn và tới ngày 25/11/2024 đã quá hạn 12 tháng, nợ xấu xếp loại rủi ro mất vốn. Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn mới có ý kiến đề nghị về việc áp dụng về lãi suất ưu đãi là không đúng với các điều kiện về gói vay ưu đãi dành cho doanh nghiệp nên nguyên đơn không chấp nhận các điều kiện và đề nghị của bị đơn. Đến ngày xét xử phúc thẩm, hai bên cũng không có thoả thuận hoặc giao dịch nào khác điều chỉnh lãi suất vay và bị đơn cũng không cung cấp được chứng cứ, tài liệu nào khác làm thay đổi nội dung án sơ thẩm đối với phần lãi vay nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị đơn mà chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà là phù hợp quy định pháp luật.
- Đối với tài sản thế chấp: Bị đơn đã thanh toán xong nợ vay gốc và lãi, nguyên đơn không yêu cầu gì thêm nên không xét.
- Án phí: Bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm và phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Công ty TNHH V; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Căn cứ vào các Điều 280, 357, 463, khoản 1 Điều 466 của Bộ luật dân sự; các Điều 100, 103 của Luật các tổ chức tín dụng; Điều 147, Điều 157 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần N.
Buộc bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn V phải trả cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần N số tiền 4.846.575.342đ (Bốn tỷ tám trăm bốn mươi sáu triệu năm trăm bảy mươi lăm nghìn ba trăm bốn mươi hai đồng) (Trong đó: Tiền vay gốc 4.200.000.000đ, tiền lãi trong hạn 450.487.6710đ và tiền lãi phạt quá hạn 196.087.671đ) về khoản: Tranh chấp hợp đồng tín dụng; đã thanh toán xong.
- Về chi phí tố tụng: Bị đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn V phải chịu 800.000đ. Nguyên đơn đã nộp tạm ứng số tiền này nên bị đơn phải trả lại cho nguyên đơn số tiền 800.000đ (Tám trăm nghìn đồng).
-
Về án phí: Bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn V phải chịu 112.846.000đ (Một trăm mười hai triệu tám trăm bốn mươi sáu nghìn đồng) tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm và 2.000.000đ (Hai triệu đồng) tiền án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm; được khấu trừ số tiền 2.000.000đ (Hai triệu đồng) đã nộp tạm ứng tại phiếu thu số: 0002750 ngày 05/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên, nên còn phải nộp tiếp số tiền còn lại.
H2 lại cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần N tiền tạm ứng án phí 56.145.000đ (Năm mươi sáu triệu một trăm bốn mươi lăm nghìn đồng) đã nộp tại biên lai số 0012546 ngày 11/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Cao Gia |
Bản án số 05/2024/KDTM-PT ngày 25/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 05/2024/KDTM-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/11/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng V và Công ty TNHH T
