Hệ thống pháp luật

1

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH GIA

TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2024/HS-ST

Ngày 17 - 4 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Khi

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Triệu Tiến Lả

Bà Hoàng Thị Hằng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Hợi – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Chu Xuân Hải - Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 03/2024/TLST-HS ngày 06/3/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2024/QĐXXST-HS, ngày 05/4/2024 đối với bị cáo:

Đỗ Quang D, Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 10 tháng 7 năm 1985 tại: huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Khối phố F, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Nơi tạm trú hiện nay: Tập thể trường P2, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Giáo viên. Trình độ học vấn: 12/12. Con ông: Đỗ Văn S, sinh năm 1962, con bà Dương Thị L, sinh năm1965. Cùng trú tại: Xóm P, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Vợ: Kiều Thị Lan P. Con: có 02 người, con thứ nhất sinh năm 2010, con thứ hai sinh năm 2019. Anh chị em ruột: Có 03 người, bị cáo là con thứ nhất. Là Đảng viên, sinh hoạt tại Chi bộ Trường P2, Đảng bộ xã Y, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng theo quyết định số 93-QĐ/UBKTHU ngày 20 tháng 9 năm 2023 của Ủy ban kiểm tra huyện ủy B1. Tiền án, tiền sự: Không. Về nhân thân. Ngày 30/11/2020, Đỗ Quang D bị Hạt Kiểm lâm huyện B, tỉnh Lạng Sơn xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 10.000.000 đồng về hành vi Tàng trữ lâm sản trái pháp luật, bị cáo đã chấp hành xong. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 19/9/2023 đến ngày 07/02/2024 được thay biện pháp ngăn chặn cho Bảo lĩnh từ ngày 07/02/2024 đến nay. Có mặt.

Nguyên đơn dân sự: Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Lâm Thị H, chức vụ: Chủ tịch. Vắng mặt. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

2

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Ông Hoàng Văn B, sinh năm 1973. Có mặt.
  2. Trú tại: Thôn P, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.

  3. Anh Triệu Phúc H1, sinh năm 1993. Có mặt.
  4. Trú tại: Thôn K, xã V, huyện V, tỉnh Thái Nguyên.

  5. Anh Đặng Văn G, sinh năm 1984. Có mặt.
  6. Trú tại: Thôn V, xã G, huyện S, tỉnh Bắc Giang.

- Người làm chứng:

  1. Anh Mông Văn Đ, sinh năm 1985. Có mặt.
  2. Trú tại : Thôn K, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.

  3. Anh Vù Văn V, sinh năm 1993. Có mặt.
  4. Trú tại: Thôn Tọt Còn, xã Cao Thượng, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn

  5. Anh Chu Văn Đ1, sinh năm 1981. Vắng mặt.
  6. Thôn T, xã Đ, huyện S, tỉnh Bắc Giang.

  7. Ông Hà Hương L1, sinh năm 1978. Vắng mặt.
  8. Trú tại: Thôn N, xã N, huyện V, tỉnh Thái Nguyên.

  9. Anh Lý Văn V1, sinh năm 1988. Có mặt.
  10. Trú tại: Thôn V, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

  11. Anh Hoàng Văn P1, sinh năm 1985. Có mặt.
  12. Trú tại: Thôn V, xã G, huyện S, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thông qua Mông Văn Đ, sinh năm 1985, trú tại: Thôn K, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn (là nhân viên nấu ăn tại trường Tiểu học xã T) giới thiệu thì bị cáo biết Hoàng Văn B, sinh năm 1973, trú tại: Thôn P, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn có đất rừng bán. Do bị cáo đang muốn phát triển kinh tế bằng việc trồng rừng, khoảng tháng 4/2021, bị cáo cùng với Đ đến nhà B để mua đất rừng, diện tích: 04ha với giá tiền 18.000.000 đồng/ha. Khoảng 01 tháng sau, bị cáo tiếp tục cùng với Đ đến nhà B để được B đưa đến xem khu rừng như đã thoả thuận trước đó (D, Đ, B chỉ đứng ở dưới chân đồi và B chỉ khu rừng bán cho bị cáo, không đo cụ thể diện tích). Khoảng tháng 6/2022, bị cáo đến nhà B trả trước cho B số tiền 50.000.000 đồng còn nợ lại 22.000.000 đồng.

Khoảng đầu tháng 4/2023, thông qua mạng xã hội bị cáo quen biết Vù Văn V, sinh năm 1993, trú tại: Thôn T, xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn để thuê đi phát rừng với giá tiền công là 30.000đồng/người/giờ, sau đó V gọi thêm 10 người

3

nữa đến phát rừng làm thuê cho bị cáo và bị cáo bảo mọi người chỉ chặt, phát cây từ 05cm trở xuống và cây bụi, dây leo tạo đường đi trên thửa đất rừng. Nhóm của V chặt, phát cây trong 06 ngày và được D trả tiền công 22.000.000 đồng ngoài ra D cho thêm nhóm của V 200.000 đồng.

Khoảng tháng 5/2023, bị cáo gọi điện thoại cho Vương Xuân D1, sinh năm 1994, trú tại: Xã P, huyện P, tỉnh Thái Nguyên có xưởng gỗ băm tại thôn P, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, thì D1 bảo bị cáo liên hệ với Hà Hương L1, sinh năm 1978, trú tại thôn N, xã N, huyện V, tỉnh Thái Nguyên là người quản lý xưởng gỗ băm của Vương Xuân D1. Sau đó bị cáo thỏa thuận bán cho L1 với giá tiền 400 đồng đến 500 đồng/kg (Tuỳ theo giá từng ngày).

Sau đó, bị cáo gặp nhóm của một người tên là N, người dân tộc Mông trú tại tỉnh Hà Giang (nhóm của N có 06 người, trong đó có 01 người nữ) ở xưởng gỗ bóc ở đầu cầu P, xã T thuê với giá tiền công 30.000 đồng/người/giờ. Mục đích thuê nhóm của N để chặt cành cây, cưa thành khúc những cây nhóm của Vù Văn V đã chặt hạ trước đó, gom những cây bụi thành củi đã khô để đốt và bốc lên xe ô tô biển kiểm soát: 98C-251.11 của Đặng Văn G, sinh năm 1984, trú tại: thôn V, xã G, huyện S, tỉnh Bắc Giang (G là lái xe cho Chu Văn Đ1) và xe ô tô Biển kiểm soát: 24C-01270 của Triệu Phúc H1, sinh năm 1993, trú tại: Thôn K, xã V, huyện V, tỉnh Thái Nguyên chở về xưởng gỗ băm của Vương Xuân D1 với giá tiền 700.000 đồng/chuyến.

Buổi trưa ngày 17/05/2023, bị cáo đến xưởng gỗ của Giang Đ2 ở đầu cầu P, xã T thì gặp nhóm của Lý Văn V1 có tất cả 06 người. Bị cáo thuê nhóm của V1 sử dụng máy cưa đi cắt hạ toàn bộ cây còn lại trên rừng và dọn cây bụi để đốt với giá tiền công 12.000.000 đồng, thoả thuận miệng, chưa thanh toán tiền. Nhóm Lý Văn V1 làm trong thời gian 03 ngày thì xong.

Buổi trưa ngày 20/05/2023 (Ngày hội chợ Tình Pác K) bị cáo và Chu Văn Đ1 ngồi uống nước mía cùng với nhóm của Hoàng Văn P1, sinh năm 1985, trú tại thôn V, xã G, huyện S, tỉnh Bắc Giang. Đỗ Quang D thuê nhóm của P1 gồm 05 người, đồng thời thuê nhóm của Lý Văn V1 cùng đến khu rừng bốc gỗ lên xe ô tô của Đặng Văn G và Triệu Phúc H1 với giá tiền 250.000đồng/ngày/người.

Vào hồi 09 giờ 30 phút ngày 23/05/2023, khi nhóm của Lý Văn V1 và Hoàng Văn P1 đang bốc gỗ lên 02 xe ô tô BKS 98C-251.11 và 24C-012.70 thì bị Phòng C - Công an tỉnh L phát hiện đã phối hợp với Hạt kiểm lâm huyện B, UBND xã T, Công an xã T, huyện B lập biên bản sự việc, tạm giữ tang vật, phương tiện gồm: 109 khúc = 3,590m³ gỗ và 1.808kg gỗ củi trên xe ô tô tải BKS 98C-251.11; tạm giữ 142 khúc = 5,421m³ gỗ, 655kg gỗ củi trên xe ô tô tải BKS 24C-012.70 và 21 khúc = 0,688m³. Tổng cộng là 9,699m³ gỗ và 2.463 kg củi.

Kết quả giám định và khám nghiệm hiện trường khu vực diện tích rừng bị chặt phá thể hiện:

Diện tích rừng bị chặt phá: Sử dụng máy định vị GPS đo một vòng khép kín toàn bộ diện tích có rừng bị chặt phá tại lô 60 và 74, khoảnh 3, tiểu khu A thuộc khu R, thôn P, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn theo bản đồ hiện trạng rừng xã T năm 2022 đo được là 62.892,3 m².

4

Hiện trạng, trạng thái, trữ lượng diện tích rừng bị chặt phá: được phân ra thành 02 hiện trạng, trạng thái khác nhau:

- Hiện trạng, trạng thái 1: Diện tích là 10.053,8 m² thuộc lô 60 và lô 74, khoảnh 3, tiểu khu A có hiện trạng, trạng thái chủ yếu là cây bụi, dây leo, chuối rừng rải rác một số ít gốc gỗ cây tái sinh nhỏ phân bố không đồng đều trên diện tích bị chặt, hiện trường không còn thân cây, không có lâm sản.

- Hiện trạng, trạng thái 2: Diện tích là 52.838,5 m² thuộc lô 60 và lô 74, khoảnh 3, tiểu khu A, có hiện trạng, trạng thái tập trung một số gốc cây gỗ tái sinh phân bố đều trên diện tích bị chặt phá, một số cây rừng bị chặt phá vẫn còn nguyên thân, cành; một số thân cây gỗ đã được cắt thành từng khúc (lóng ) gỗ.

Kết luận giám định tư pháp trong lĩnh vực lâm nghiệp số 05-2023/KL/GĐCN ngày 09/6/2023 kết luận:

Diện tích rừng bị chặt hạ phát trắng là 62.892,3 m² thuộc lô 60 và lô 74, khoảnh 3, tiểu khu A Bản đồ hiện trạng rừng xã T năm 2022, thuộc khu R, thôn P, xã T, huyện B trong đó:

Diện tích đủ tiêu chí thành rừng là 52.838,5 m²; trạng thái rừng của diện tích trên là rừng tự nhiên nghèo kiệt (kí hiệu TXK), loại rừng thuộc rừng quy hoạch rừng sản xuất là rừng tự nhiên;

Diện tích không đủ tiêu chí xác định rừng là 10.053,8m²

Đối với số gỗ được chuyển từ trên rừng về xưởng gỗ băm của Vương Xuân D1 tại thôn P, xã T, huyện B từ ngày 05/05/2023 đến ngày 22/05/2023 Triệu Phúc H1 và Đặng Văn G chở được cụ thể như sau: Xe ô tô Biển kiểm soát 24C-012.70 của Triệu Phúc H1 chở 07 chuyến có khối lượng là 50.305 kg; Xe ô tô Biển kiểm soát 98C-251.11 của Đặng Văn G chở 04 chuyến có khối lượng là 25.667 kg.

Tại Bảng kê lâm sản ngày 16/11/2023 xác định khối lượng gỗ trên rừng cụ thể: Tại lô 60, khoảnh 3, tiểu khu A có khối lượng gỗ là 38,22m³. Tại lô 74 khoảnh 3, tiểu khu A có khối lượng gỗ là 29,27m³ .

Như vậy tổng khối lượng gỗ trên diện tích là 52.838,5 m² thuộc lô 60 và lô 74, khoảnh 3, tiểu khu A là 67,49m³.

Do bị cáo có đơn yêu cầu giám định bổ sung. Ngày 24/01/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung số: 84A/QĐ- TCGĐ đối với Giám định viên Hoàng Ngọc L2. Tại Kết luận giám định tư pháp trong lĩnh vực lâm nghiệp số: 01-2024/KL/GĐCN ngày 29/01/2024 kết luận:

Trong diện tích 52.838,5 m² tại lô 60 và 74, khoảnh 3, tiểu khu A, bản đồ hiện trạng rừng xã T năm 2022 thì diện tích san ủi làm đường là 3.275 m² như vậy diện tích rừng mà bị cáo Đỗ Quang D đã thuê người chặt phá, kết quả xác định: Diện tích bị chặt phá là 49.563,5m², tại lô 60 và 74, khoảnh 3, tiểu khu A thuộc khu R, thuộc thôn P, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.

Tại kết luận định giá tài sản số 05/KL-HĐĐGTS như sau: Tổng thiệt hại là 62.030.250 đồng, cụ thể:

5

- Tổng số 77,189m³ ( gồm 67,49 m³ trên rừng, 9,699m³ thu giữ trên 02 xe ô tô của Đặng Văn G và Triệu Phúc H1 cùng 0,688m³ do Triệu Văn S1 giao nộp tại xưởng gỗ) gỗ tròn thuộc loài gỗ thông thường từ nhóm 5 đến nhóm 8 có giá trị: 22.812.750 đồng.

- Tổng số 78.435kg ( gồm 75.972 kg gỗ được vận chuyển trên 11 chuyến xe ô tô và 2.463 kg thu giữ trên 02 xe ô tô của Đặng Văn G và Triệu Phúc H1) có giá trị: 39.217.500 đồng.

Xác định giá trị thiệt hại về môi trường đối với diện tích rừng bị chặt phá trắng thuộc lô 60 và 74, khoảnh 3, tiểu khu A, bản đồ hiện trạng rừng xã T năm 2022 thuộc khu R, thôn P, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Qua nghiên cứu về Luật Lâm nghiệp, Luật Bảo vệ môi trường và các văn bản hướng dẫn trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn chưa có quy định xác định giá trị thiệt hại về môi trường, do vậy không có cơ sở để xác định giá trị thiệt hại về môi trường với tổng diện tích bị thiệt hại trên.

- Các vật chứng Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả cho chủ sở hữu hợp pháp:

+ Trả 01 chiếc xe ô tô tải BKS 24C-012.70 và 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng C số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh T cấp ngày 25/02/2019 cho chủ sở hữu là Triệu Phúc H1.

+ Trả 01 máy tính laptop nhãn hiệu ASUS VivoBook màu đen bạc, máy cũ cho anh Hoàng Văn L3 - Hiệu trưởng trường P2 bán trú, THCS Y.

+ Trả xe ô tô tải BKS 98C-251.11; 01 Giấy chứng nhận kiểm định số KD7496594 cho biển đăng ký 98C-251.11 do Trung tâm K1 thuộc Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 06/08/2021; 01 Giấy biên nhận thế chấp số 98C-251.11/TP Bank/04 do Ngân hàng thương mại cổ phần T1 – T2 Chi nhánh B2 cấp ngày 19/08/2022 cho chủ sở hữu là Chu Văn Đ1.

- Các vật chứng đang tạm giữ:

+ 01 quyển sổ có bìa màu đen, kích thước (20,5x30,5)cm bên trong được đánh số thứ tự từ trang 01 đến trang 117 ở những trang có nội dung (sổ theo dõi mua gỗ) được chuyển theo hồ sơ vụ án.

+ Khối lượng gỗ bị chặt phá 67,49m³ gỗ tạm giữ tại hiện trường; 272 khúc gỗ = 9,699m³ gỗ và 2.463 kg củi tại cơ quan thi hành án dân sự huyện B.

Đối với anh Chu Văn Đ1 cho bị cáo mượn số tiền 30.000.000 đồng, nhưng không biết mục đích bị cáo sử dụng vào việc gì, ngoài ra Chu Văn Đ1 không được bàn bạc, thống nhất với bị cáo trong thực hiện hành vi Huỷ hoại rừng . Do đó, Cơ quan điều tra không xem xét giải quyết.

Đối với anh Đặng Văn G và Triệu Phúc H1 được bị cáo thuê vận chuyển gỗ từ rừng về xưởng gỗ của Vương Xuân D1 với giá tiền 700.000 đồng/chuyến, Đặng Văn G và Triệu Phúc H1 không tham gia hành vi Huỷ hoại rừng. Do đó, Cơ quan điều tra không xử lý.

6

Đối với anh Vù Văn V, Lý Văn V1, Hoàng Văn P1, N (không rõ họ, địa chỉ) được bị cáo thuê để chặt phá rừng và bốc gỗ lên xe ô tô do nhận thức pháp luật còn hạn chế, họ chỉ là những người làm thuê lấy tiền công của bị cáo, không biết việc chặt phá là không được phép. Do đó, không có căn cứ để xem xét khởi tố tội hủy hoại rừng.

Đối với xưởng gỗ băm của Vương Xuân D1 tại thôn P, xã T, huyện B không có giấy tờ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Cơ quan điều tra đã triệu tập Vương Xuân D1 nhưng D1 không đến làm việc, vì vậy cơ quan cảnh sát điều tra tách ra để tiếp tục xác minh làm rõ khi có đủ căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo nhất trí với kết quả giám định bổ sung và kết luận định giá tài sản, không yêu cầu định giá tài sản bổ sung.

Tại phiên tòa anh Hoàng Văn B, anh Lý Văn V1 là những người bị cáo còn nợ tiền, anh Chu Văn Đ1 là người chuyển tiền cho bị cáo mượn và bị cáo cùng nêu số tiền này không liên quan đến vụ án. Do đó, tự thỏa thuận ngoài, không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

Tại Cáo trạng số: 03/CT-VKS-BG ngày 05/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Đỗ Quang D về tội "Hủy hoại rừng" quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 243 Bộ luật Hình sự;

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đề nghị Hội đồng xét xử: Xử phạt bị cáo Đỗ Quang D 03 (ba năm) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách theo luật định.

Hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự đề nghị giao cho Ủy ban nhân dân xã T quản lý, xử lý đối với số vật chứng gồm khối lượng gỗ bị chặt phá 67,49m³ gỗ tạm giữ tại hiện trường. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 272 khúc gỗ = 9,699m³ gỗ và 2.463 kg củi tại cơ quan thi hành án dân sự huyện B.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự, đề nghị buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho UBND xã T tiền 62.030.250 đồng. Được khấu trừ vào số tiền bị cáo đã nộp là 42.031.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Gia. Bị cáo tiếp tục phải bồi thường cho UBND xã Thiện Thuật số tiền còn thiếu là 19.999.250 đồng. Tính lãi chậm trả theo quy định.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nhất trí với bản Cáo trạng, không có ý kiến gì tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án tù treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

7

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và của người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng nên các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện có trong hồ sơ là hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của nguyên đơn dân sự Ủy ban nhân dân xã T đã có đơn xin xét xử vắng mặt, người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, trong hồ sơ đã có đầy đủ lời khai của những người vắng mặt. Do đó, việc vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự để tiếp tục xét xử vụ án.

[3] Về hành vi phạm tội, chứng cứ buộc tội đối với bị cáo: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy: Cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện giám định bổ sung phù hợp với thực tế hiện trạng diện tích đất bị cáo nhận chuyển nhượng, bị cáo nhất trí không có ý kiến với kết quả giám định thiệt hại. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị cáo Đỗ Quang D đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản định giá tài sản, kết luận giám định bổ sung và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được công bố, thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để xác định: Khoảng tháng 05/2023, bị cáo Đỗ Quang D đã trực tiếp thuê người tiến hành chặt phá diện tích rừng 49.563,5m² tại khu rừng Khu Ô, thuộc thôn P, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, thuộc lô 60 và 74, khoảnh 3, tiểu khu A, Bản đồ hiện trạng rừng xã T năm 2022. Qua giám định diện tích rừng bị chặt phá thuộc quy hoạch rừng sản xuất là rừng tự nhiên, trạng thái là rừng tự nhiên nghèo kiệt. Tổng trị giá lâm sản bị thiệt hại là 62.030.250 đồng. Do đó, hành vi của bị cáo Đỗ Quang D đã phạm vào tội “Hủy hoại rừng” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 243 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Xuất phát từ việc chặt phá rừng để trồng cây keo phát triển kinh tế. Bị cáo Đỗ Quang D biết khu rừng trên thuộc loại rừng không được phép chặt phá. Tuy nhiên, trước khi chặt phá bị cáo không tìm hiểu cũng như không làm thủ tục xin phép cơ quan Nhà nước theo quy định mà vẫn tự ý chặt phá rừng. Hành vi phạm tội của bị cáo Đỗ Quang D đã trực tiếp xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý và bảo vệ rừng, gián tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về lĩnh vực trật tự an toàn xã hội. Khi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Vì vậy, hành vi của bị cáo cần xử lý nghiêm theo quy định của

8

pháp luật, nhằm giáo dục cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Xét quá trình điều tra, truy tố và xét xử thấy bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải; đã chủ động bồi thường 2/3 giá trị thiệt hại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

[6] Bị cáo là người có nhiều thành tích xuất sắc trong công tác, được Chủ tịch UBND tỉnh L tặng Bằng khen có thành tích tiêu biểu hai năm học liên tục hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm học 2017-2018 và năm học 2018-2019; danh hiệu chiến sỹ thi đua tỉnh Lạng Sơn do Chủ tịch UBND tỉnh L ký vì đã có thành tích tiêu biểu, xuất sắc trong công tác giáo dục và đào tạo từ năm học 2014-2015 đến năm học 2016-2017 và có sáng kiến được áp dụng vào thực tế công tác trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[7] Bị cáo có thành tích xuất sắc trong công tác được Sở giáo dục và đào tạo tỉnh L tặng Giấy khen vì có nhiều thành tích trong công tác góp phần xây dựng và phát triển ngành giáo dục và đào tạo giai đoạn 2011 - 2016; có học sinh đạt giải nhì kỳ thi giỏi toán bằng tiếng việt trên Internet lớp 9 cấp quốc gia năm học 2016-2017; được chủ tịch UBND huyện B tặng Giấy khen do có học sinh đạt huy đồng trong kỳ thi Giỏi toán qua Internet cấp Quốc gia năm học 2015 - 2016; có thành tích trong “Học tập và làm theo tư tưởng đạo đức, phong cách Hồ Chí M” giai đoạn 2016-2018. Bị cáo có ông Đỗ Văn S2 (ông nội) được Chủ tịch nước thưởng Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng ba. Ngoài ra bị cáo đã có công cứu cháu Vũ Văn Đ3 trú tại xóm P, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên bị đuối nước. Công dân Hoàng Thị T, Hoàng Thị H2, Triệu Thị Thanh t tại xã Y và bà Hoàng Thị N1, Hoàng Thị H3, Hoàng Thị Thu H4 trú tại khối phố T, thị trấn B có con học thêm với Đỗ Quang D mà không thu học phí, nên đã biết ơn và đã đồng lòng viết đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2, Điều 51, Bộ luật Hình sự; Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[8] Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Ngày 30/11/2020, bị cáo bị Hạt Kiểm lâm huyện B, tỉnh Lạng Sơn xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 10.000.000 đồng về hành vi Tàng trữ lâm sản trái pháp luật, bị cáo đã chấp hành xong và được xóa tiền sự. [9] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo Đỗ Quang D không có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, qua xác minh tại địa phương bị cáo luôn chấp hành tốt các quy định của pháp luật và quy định tại địa phương nơi cư trú. Mục đích của bị cáo khi thực hiện hành vi chỉ nhằm trồng cây phát triển kinh tế. Đồng thời bị cáo đã tự nguyện bồi thường 2/3 giá trị thiệt hại. Căn cứ Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP-TANDTC ngày 15/5/2018 và Nghị Quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn, quy định về điều kiện cho hưởng án treo thì bị cáo có đủ điều kiện. Vì vậy,

9

không cần bắt bị cáo cách ly khỏi đời sống xã hội mà áp dụng khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi thường trú để giám sát, giáo dục cũng đủ điều kiện để giúp bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.

[10] Về hình phạt bổ sung: Gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[11] Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự, các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo phải bồi thường cho Ủy ban nhân dân xã T tiền 62.030.250 đồng để bồi thường khắc phục hậu quả do hành vi hủy hoại rừng gây ra là có căn cứ, được khấu trừ vào số tiền bị cáo đã nộp số tiền 42.031.000 đồng 26/02/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Gia. Buộc bị cáo tiếp tục phải bồi thường cho UBND xã Thiện Thuật số tiền còn thiếu là 19.999.250 đồng, tính lãi chậm trả theo quy định.

[12] Đối với ông Hoàng Văn B là người chuyển nhượng cho bị cáo không nhận thức được Nhà nước giao đất có rừng tự nhiên là rừng sản xuất để quản lý và bảo vệ, thủ tục giấy tờ hai bên thỏa thuận do bị cáo lo; anh Chu Văn Đ1 có cho bị cáo mượn tiền nhưng không biết mục đích bị cáo mượn tiền; anh Đặng Văn G, anh Triệu Phúc H1 tham gia vận chuyển gỗ nhưng không biết và không tham gia hành vi hủy hoại rừng. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý đối với các đối tượng này là có căn cứ.

[13] Đối với nhóm của Vù Văn V, Lý Văn V1, Hoàng Văn P1, N (không rõ họ, địa chỉ) chỉ được bị cáo thuê làm công lấy tiền không biết hành vi của bị cáo là hủy hoại rừng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý đối với các đối tượng này là có căn cứ.

[14] Đối với xưởng gỗ băm của Vương Xuân D1 không có giấy tờ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Cơ quan điều tra đã triệu tập Vương Xuân D1 nhưng D1 không đến làm việc. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra tách ra điều tra xử lý khi có căn cứ là đúng quy định.

[15] Từ phân tích nêu trên việc Cơ quan Cảnh sát điều tra trả lại xe ô tô tải BKS 24C-012.70 và 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng C số [...]; 01 máy tính laptop nhãn hiệu ASUS VivoBook màu đen bạc; xe ô tô tải BKS 98C-251.11; 01 Giấy chứng nhận kiểm định số KD7496594 cho biển đăng ký 98C-251.11;01 Giấy biên nhận thế chấp số 98C-25111/TP Bank/04 do Ngân hàng thương mại cổ phần T1 – T2 Chi nhánh B2 cấp ngày 19/08/2022 cho các chủ sở hữu hợp pháp là có căn cứ.

[16] Do anh Chu Văn Đ1, Hoàng Văn B, Lý Văn V1 không yêu cầu xem xét số bị cáo còn nợ, cho vay trong vụ án. Đồng thời như phân tích tại mục [12] [13] các anh Chu Văn Đ1, Hoàng Văn B, Lý Văn V1 không có căn cứ xử lý trong vụ án này, số tiền này không liên quan đến vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét đối với số tiền bị cáo còn nợ anh Hoàng Văn B, Lý Văn V1, không xem xét đối với số tiền bị cáo còn nợ anh Chu Văn Đ1 trong vụ án này. Các bên có quyền yêu cầu khởi kiện bằng vụ án dân sự khi có yêu cầu.

10

[17] Về xử lý vật chứng: Đối với 272 khúc gỗ = 9,699m³ gỗ và 2.463 kg củi được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Gia; 67,49m³ gỗ tạm giữ tại hiện trường (hiện ở trên rừng), hiện đang do UBND xã T và Công an xã T quản lý. Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, giao cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn quản lý, xử lý;

[18] Đối với 01 quyển sổ có bìa màu đen, kích thước (20,5x30,5) cm bên trong được đánh số thứ tự từ trang 01 đến trang 117 ở những trang có nội dung (sổ theo dõi mua gỗ) là chứng cứ liên quan đến vụ án do đó cần tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án là có căn cứ.

[19] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.

[20] Về đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát: Quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà cơ bản phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[21] Bị cáo, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 243; Điều 50; điểm b, điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022, sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo.

Căn cứ vào điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 262; Điều 292; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 46, Điểm a khoản 1 Điều 47 khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 357, 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589 của Bộ luật Dân sự.

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 3; khoản 1, 3 Điều 21; điểm a, g khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Quang D phạm tội “Hủy hoại rừng”.

Xử phạt bị cáo Đỗ Quang D 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 17/4/2024.

Giao bị cáo Đỗ Quang D cho Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

11

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được cho hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho UBND xã Thiện Thuật số tiền 62.030.250 đồng (sáu mươi hai triệu không trăm ba mươi nghìn hai trăm năm mươi đồng). Được khấu trừ vào số tiền bị cáo Đỗ Quang D đã nộp là 42.031.000 đồng (bốn mươi hai triệu không trăm ba mươi mốt nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số AA/2021/0003489 ngày 26/02/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn. Buộc bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền 19.999.250 đồng cho UBND xã T.

Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu; mà người phải thi hành án chưa thi hành thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015.

3. Về xử lý vật chứng:

3.1. Giao cho Ủy ban nhân dân xã T quản lý, xử lý đối với số vật chứng: 67,49m³ gỗ tạm giữ tại hiện trường (hiện ở trên rừng), hiện đang do UBND xã T và Công an xã T quản lý.

3.2. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 272 khúc gỗ = 9,699m³ gỗ và 2.463 kg củi tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Gia.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/3/2024 giữa Công an huyện B và Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Gia)

3.3. Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án 01 quyển sổ có bìa màu đen, kích thước (20,5x30,5) cm bên trong được đánh số thứ tự từ trang 01 đến trang 117 ở những trang có nội dung (sổ theo dõi mua gỗ).

4. Về án phí: Bị cáo Đỗ Quang D phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 1.000.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.

5. Quyền kháng cáo: Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

12

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND tỉnh Lạng Sơn;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn;
  • - Công an huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn;
  • - Bị cáo;
  • - Nguyên đơn dân sự;
  • - Người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;
  • - Lưu HS, HСТР.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Hoàng Văn Khi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2024/HS-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN về hủy hoại rừng

  • Số bản án: 05/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hủy hoại rừng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng tháng 05/2023, bị cáo Đỗ Quang D đã trực tiếp thuê người tiến hành chặt phá diện tích rừng 49.563,5m2 tại khu rừng Khu Ổ, thuộc thôn P, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, thuộc lô 60 và 74, khoảnh 3, tiểu khu A, Bản đồ hiện trạng rừng xã T năm 2022. Qua giám định diện tích rừng bị chặt phá thuộc quy hoạch rừng sản xuất là rừng tự nhiên, trạng thái là rừng tự nhiên nghèo kiệt. Tổng trị giá lâm sản bị thiệt hại là 62.030.250 đồng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger