|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH Bản án số: 05/2024/HS-ST Ngày: 05/01/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Việt Hoàng;
Thẩm phán: Ông Nguyễn Hữu Hòa.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trương Ngọc Cường;
- Ông Đinh Minh Hải;
- Bà Nguyễn Thị Bẩy.
- Thư ký phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Hồng Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa:
Bà Dương Thị Mai Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 141/2023/TLST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 334/2023/HSST-QĐXX ngày 20/12/2023 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Hải H, sinh ngày 12/8/1991 tại Bắc Ninh; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn M, xã H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đăng H1, sinh năm 1960 và bà Man Thị T, sinh năm 1962; gia đình: có 03 anh em, bị cáo là con thứ ba; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 18/10/2023 Công an tỉnh B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 50/QĐ-XPVPHC hình thức Cảnh cáo do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/6/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B; có mặt.
2. Nguyễn Đức H2, sinh ngày 06/10/1996 tại Bắc Ninh; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: khu phố D, phường N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức H3, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1972; gia đình: có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 18/10/2023 Công an tỉnh B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 51/QĐ-XPVPHC hình thức Cảnh cáo do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/6/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B; có mặt.
- * Người bào chữa cho bị cáo H (do chỉ định): Luật sư Phạm Tuấn A - Công ty L2, Đoàn Luật sư tỉnh B; có mặt.
- * Người bào chữa cho bị cáo H2 (do chỉ định): Luật sư Nguyễn Thị T1 - Công ty L3, Đoàn Luật sư tỉnh B; có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Man Kim B, sinh năm 1995; trú tại: thôn M, xã H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; có mặt.
* Người chứng kiến:
- Anh Nguyễn Văn L1, sinh năm 1974; trú tại: thôn T, xã T, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt.
- Anh Nguyễn Văn Ơ, sinh năm 1970; trú tại: thôn X, xã T, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 21 giờ 30 phút ngày 27/6/2023 tại đoạn đường thuộc khu phố V, phường T, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh, tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy (PC04) Công an tỉnh B phối hợp với Công an phường T, thị xã T bắt quả tang Nguyễn Hải H, sinh năm 1991; Hộ khẩu thường trú (HKTT): thôn M, xã H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh và Nguyễn Đức H2, sinh năm 1996, HKTT: khu phố D, phường N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh có hành vi Mua bán trái phép chất ma túy. Thu giữ trên tay trái của H2 đang cầm 01 túi nilon màu đen, bên trong có 01 túi nilon màu vàng. Mở túi nilon màu vàng bên trong có 30 túi nilon (24 túi màu xanh và 06 túi màu hồng), bên trong 30 túi nilon đều chứa các viên nén màu hồng và màu xanh. H và H2 khai nhận các viên nén màu hồng và màu xanh là ma túy “Ngựa” H và H2 mang đi để bán.
Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong số vật chứng vào hộp giấy trước sự chứng kiến của anh Nguyễn Văn L1, sinh năm 1974, trú tại khu phố T, phường T, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh và anh Nguyễn Văn Ơ, sinh năm 1970, trú tại khu phố X, phường N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Ngoài ra, còn tạm giữ của H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu vàng, lắp sim số 0328961390; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 99F1-625.02. Tạm giữ của H2 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu trắng, lắp sim số 0562437837.
Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của H tại Thôn M, xã H, thị xã T và nơi ở của H2 tại Khu phố D, phường N, thị xã T, không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến ma túy.
Trên cơ sở quyết định trưng cầu giám định chất ma túy của Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) Công an tỉnh B. Ngày 30/6/2023 Phòng K Công an tỉnh B ban hành Kết luận giám định số 1414/KL- KTHS, kết luận:
“Các viên nén màu hồng và màu xanh bên trong hộp giấy gửi giám định có khối lượng là 382,68 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Methamphetamine.
Methamphetamine là chất ma túy được quy định tại Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ ban hành các danh mục các chất ma túy và tiền chất”.
Căn cứ vào lời khai của bị can và chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra thu thập trong hồ sơ vụ án xác định:
Nguyễn Hải H, Nguyễn Đức H2 là bạn quen biết xã hội và cùng quen người phụ nữ tên Q (H và H2 không biết nhân thân, lai lịch, địa chỉ cụ thể của Q). Khoảng 20 giờ 10 phút ngày 27/6/2023, khi H đang ở nhà thì Q sử dụng số điện thoại 0879.117.xxx gọi đến số điện thoại 0328.961.xxx của H nói lát nữa có D (H biết D sinh năm 1990, nhà ở đối diện cổng chùa D2 thuộc phường T, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh) gọi cho H và chỉ chỗ để ma túy. H đi lấy ma túy rồi đón H2 cùng mang đi giao cho khách mua tại khu phố V, phường T, thị xã T và nhận số tiền 120.000.000 đồng, sau đó mang tiền đến khu đô thị V, huyện G, thành phố Hà Nội giao cho Q. Địa điểm giao ma túy thì Q thông báo sau. Quỳnh hứa hẹn, sau khi xong việc Q sẽ cho H và H2 ma túy để sử dụng, H đồng ý. Sau đó, Q nhắn tin số điện thoại 0963.313.xxx của D cho H để liên lạc. Sau khi trao đổi với Q, H gọi điện cho H2 rủ H2 cùng đi giao ma túy và nhận tiền, H2 đồng ý. Sau đó, H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 99F1-625.02 đến nhà H2 đón H2. Trên đường đi, H nói với H2 về việc Q nhờ H và H2 mang ma túy đi giao cho khách mua của Q, rồi nhận 120.000.000 đồng tiền bán ma túy mang về cho Q, H2 đồng ý. Khoảng 21 giờ 25 phút, khi H và H2 đang đi trên đường thì thấy số điện thoại 0963.313.xxx của D gọi cho H nói để ma túy ở trong túi nilon màu đen, giấu bên dưới túi rác đặt cạnh chiếc thùng phi màu đen tại vỉa hè đối diện siêu thị W ở khu vực chùa D2 thuộc khu phố V, phường T, thị xã T. Sau khi nghe điện thoại của D, H điều khiển xe mô tô chở H2 đến khu phố V, phường T, thị xã T và dừng xe, H bảo H2 đứng đợi, còn H một mình điều khiển xe mô tô đến vị trí giấu ma túy mà D chỉ, thấy 01 túi nilon màu đen, bên trong là túi nilon màu vàng chứa các túi nilon màu xanh và màu hồng. H biết đó là ma túy nên cầm lấy, rồi điều khiển xe mô tô quay lại chỗ H2 đang chờ. H đưa túi nilon chứa ma túy cho H2, H2 nhận túi nilon chứa ma túy cầm ở tay trái mục đích để H điều khiển xe mô tô chở H2 ngồi sau mang theo túi nilon chứa ma túy đến địa điểm giao ma túy, nhận 120.000.000 đồng theo chỉ dẫn của Q. H và H2 chưa kịp điều khiển xe mô tô đi giao ma túy và nhận tiền thì bị lực lượng Công an đến kiểm tra, bắt quả tang, thu giữ ma túy như đã nêu trên.
Tiến hành kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu trắng, lắp sim số 0562437837 của H2, xác định: Tại mục danh bạ, H lưu số 0328961390 của H là “A Hưng P”. Phần lịch sử cuộc gọi, có nhiều cuộc gọi liên lạc giữa H2 và H.
Tiến hành kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu vàng, lắp sim số 0328961390 của H xác định: Tại mục danh bạ điện thoại, H lưu số 0879.117.xxx của Q là “chị Q”; số 0562437837 của H2 là “em H2”. Tại mục tin nhắn, có tin nhắn Q gửi số điện thoại 0963.313.xxx của D cho H. Tại phần cuộc gọi có nhiều cuộc gọi liên lạc giữa H, H2, Q và D.
Tra cứu và xác minh thông tin thuê bao di động số 0879.117.990 tại Công ty cổ phần V1, xác định: Chủ thuê bao số 0879.117.990 là anh Nguyễn Tuấn V, sinh năm 2002, trú tại tổ D, phường V, quận L, thành phố Hà Nội. Tiến hành làm việc lấy lời khai, anh V trình bày: Anh không đăng ký và sử dụng số điện thoại 0879.117.xxx, không quen biết ai là Q và H.
Tra cứu và xác minh thông tin thuê bao di động số 0963313023, tại Tập đoàn C, xác định: Chủ thuê bao là Hoàng Tiến D1, sinh năm 1990, trú tại khu phố Đ, phường T, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Tiến hành xác minh D1 tại địa chỉ nêu trên, xác định: D1 không có mặt tại địa phương, đi đâu, làm gì gia đình và địa phương không biết. Tiến hành cho H nhận dạng D1 qua ảnh, H chỉ ra D1 có nhân thân, lai lịch, địa chỉ nêu trên đã gọi điện thoại chỉ chỗ giấu ma túy để H đến lấy.
* Vật chứng của vụ án:
- - 01 (một) hộp giấy đựng mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong đóng dấu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B;
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu vàng, lắp sim số 0328961390 thu giữ của Nguyễn Hải H;
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu trắng, lắp sim số 0562437837 thu giữ của Nguyễn Đức H2.
Tại Cáo trạng số: 171/CT-VKS-P1 ngày 16/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh truy tố các bị cáo Nguyễn Hải H, Nguyễn Đức H2 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, cả 02 bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Các bị cáo thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, không oan.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội giữ nguyên Cáo trạng truy tố. Sau khi phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo đề nghị HĐXX tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hải H, Nguyễn Đức H2 phạm tội “Mua bán trái phép chấp ma túy”.
Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Hải H 20 năm tù. Thời gian chấp hành án tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 28/6/2023.
Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H2 20 năm tù. Thời gian chấp hành án tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 28/6/2023.
Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị:
- - Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại Iphone 13 Pro max màu vàng đã qua sử dụng kèm 01 sim của bị cáo H;
- - Trả lại cho Nguyễn Đức H2 01 điện thoại Iphone Xs max màu trắng đã qua sử dụng kèm 01 sim của bị cáo H2 do bị cáo không dùng vào hành vi phạm tội. Mặc dù H có gọi cho H2 nhưng đến khi gặp trực tiếp H2 thì H mới nói việc đi lấy mà túy. Do đó, chiếc điện thoại H2 sử dụng không xác định sử dụng vào mục đích phạm tội.
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 hộp giấy niêm phong mẫu vật còn lại sau giám định còn nguyên vẹn.
Luật sư bào chữa cho bị cáo H trình bày nhất trí với quan điểm của Viện kiểm sát về tội danh, điều khoản áp dụng và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Mức án mà Viện kiểm sát đề nghị là mức thấp nhất của khung hình phạt. Tuy nhiên, Luật sư vẫn đề nghị HĐXX xem xét thêm chính sách khoan hồng để cho bị cáo mức hình phạt thấp hơn mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị.
Luật sư bào chữa cho bị cáo H2 trình bày nhất trí quan quan điểm của Viện kiểm sát về tội danh, điều khoản áp dụng và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Về hình phạt 20 năm tù mà Viện kiểm sát đề nghị là mức thấp nhất của khung hình phạt, do đó, Luật sư đồng ý và đề nghị HĐXX xem xét chấp nhận mức đề nghị của Viện kiểm sát.
Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tranh luận gì thêm và đồng ý với ý kiến tranh luận của các luật sư.
Tại phần lời nói sau cùng, các bị cáo đều ăn năn hối cải, xin lỗi gia đình và mong HĐXX xem xét khoan hồng cho bị cáo được áp dụng hình phạt thấp nhất để yên tâm cải tạo, sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên toà hôm nay, cả 02 bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Căn cứ vào lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người liên quan, người làm chứng, Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, HĐXX nhận thấy có đủ cơ sở để kết luận: Hồi 21 giờ 30 phút ngày 27/6/2023 tại đoạn đường thuộc khu phố V, phường T, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh, tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy (PC04) Công an tỉnh B phối hợp với Công an phường T, thị xã T bắt quả tang Nguyễn Hải H và Nguyễn Đức H2 đang cầm 382,68 gam ma túy Methamphetamine, mục đích giao cho khách mua ma túy của đối tượng tên Q (không rõ nhân thân lai lịch, địa chỉ) để nhận 120.000.000đồng tiền bán ma túy mang về cho Q. Khi H và H2 chưa kịp giao ma túy và nhận tiền thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang. Do vậy, có căn cứ xét xử các bị cáo Nguyễn Hải H, Nguyễn Đức H2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự như Cáo trạng đã truy tố.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy. Ma túy còn là nguồn gốc dẫn tới nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương, do vậy cần xử lý nghiêm các bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Xét về vai trò đồng phạm của các bị cáo, HĐXX nhận thấy: Đây là vụ án đồng phạm có tính giản đơn. Cả H và H2 đều quen biết Q; nhưng H là người tiếp nhận ý chí của Q trước sau đó trao đổi với H2 và H2 đồng ý đi lấy rồi bán ma túy lấy tiền giúp đối tượng tên Q. Do đó, xét vai trò đồng phạm trong vụ án này thì H có phần cao hơn H2.
[5] Xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của từng bị cáo, HĐXX nhận thấy: Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quá trình điều tra, truy tố các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo H có ông nội (Nguyễn Đăng H4), bà nội (Phạm Thị T2) là người có công với cách mạng, được Nhà nước tặng Huy chương kháng chiến hạng Nhất, N nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Các bị cáo lần đầu phạm tội nhưng là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng vì vậy cần áp dụng hình phạt cách ly các bị cáo một thời gian dài mới có tính răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[6] Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
[7] Về vật chứng:
[8] Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại Iphone 13 Pro max màu vàng đã qua sử dụng kèm 01 sim của bị cáo H;
[9] Trả lại cho bị cáo Nguyễn Đức H2 01 điện thoại Iphone Xs max màu trắng đã qua sử dụng kèm 1 sim của bị cáo H2 không dùng để liên lạc, trao đổi phương thức mua bán ma túy.
[10] Tịch thu tiêu hủy: 01 hộp giấy niêm phong mẫu vật còn lại sau giám định còn nguyên vẹn.
[11] Liên quan đến vụ án:
[12] Đối với đối tượng tên Q theo H khai là người đã nhờ H và H2 đi bán ma túy. Tuy nhiên, H không biết họ, tuổi, lai lịch, địa chỉ cụ thể, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào rõ sẽ xử lý sau là phù hợp.
[13] Đối với Hoàng Tiến D1, theo lời khai của H là người đã gọi điện chỉ vị trí cất giấu ma túy để H đến lấy và đi giao cho khách mua của Q, quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã nhiều lần triệu tập D1 lên làm việc nhưng D1 không có mặt tại địa phương, không xác định được D1 đang làm gì, ở đâu. Cơ quan Cảnh sát điều tra sẽ tiếp tục xác minh, khi có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
[14] Đối với đối tượng mua ma túy, do Q chưa chuyển thông tin nên H2 và H không biết là ai nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xác minh.
[15] Quá trình điều tra, H và H2 khai nhận trước ngày bị bắt có sử dụng trái phép chất ma túy (xét nghiệm nước tiểu của H và H2 đều dương tính với chất ma túy) nên ngày 18/10/2023 Cơ quan CSĐT (PC04) Công an tỉnh B đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, hình thức Cảnh cáo đối với H và H2 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là phù hợp.
[16] Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 99F1-625.02 qua xác minh là tài sản đăng ký sở hữu của anh Man Kim B, sinh năm 1995, trú tại thôn M, xã H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh (là em họ của H). Tối ngày 27/6/2023, anh B cho H mượn xe mô tô trên để sử dụng, anh không biết việc H đi mua bán ma túy nên ngày 17/7/2023, Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô trên cho anh B là phù hợp.
[17] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hải H, Nguyễn Đức H2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
1.1. Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hải H 20 (Hai mươi) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 28/6/2023.
Tiếp tục duy trì Quyết định tạm giam số 268/2023/HSST-QĐTG ngày 17/11/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh để bảo đảm việc thi hành án.
1.2. Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức H2 20 (Hai mươi) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 28/6/2023.
Tiếp tục duy trì Quyết định tạm giam số 267/2023/HSST-QĐTG ngày 17/11/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh để bảo đảm việc thi hành án.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
2.1. Tịch thu tiêu hủy: 01 hộp niêm phong đựng mẫu vật còn lại sau giám định niêm phong một mặt ghi chữ: Kính gửi Cơ quan CSĐT – Công an tỉnh B (PC04); QĐTC 159 ngày 28/6/2023 vụ Nguyễn Đức H2 SN: 1996 ở D, N, T, Bắc Ninh và Nguyễn Hải H SN: 1991 HKTT: Mãn Xá Tây, H, T, Bắc Ninh có hành vi mua bán trái phép chất ma túy kèm theo KLGĐ số 1414/KL-KTHS ghi ngày 30/6/2023 của Phòng KTHS – Công an tỉnh B.
2.2. Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại Iphone 13 Pro max màu vàng đã qua sử dụng kèm 01 sim của bị cáo H;
2.3. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Đức H2 01 điện thoại Iphone Xs max màu trắng đã qua sử dụng kèm 01 sim của bị cáo H2 không dùng để liên lạc, trao đổi phương thức mua bán ma túy.
(Vật chứng có đặc điểm theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số: 29/2024 ngày 10/11/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh).
2.4. Lưu theo hồ sơ vụ án 02 phong bì thư chứa 02 DVD ghi âm, ghi hình buổi làm việc lấy lời khai của các bị cáo.
3. Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Việt Hoàng |
Bản án số 05/2024/HS-ST ngày 05/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về mua bán trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 05/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NGUYEN HAI H VA DONG PHAM TOI MUA BAN TRAI PHEP CHAT MA TUY
