|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 05/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 29/11/2024
V/v: Tranh chấp hôn nhân và
gia đình
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Minh.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Minh Phương.
2. Ông Nguyễn Văn Kỹ.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Bình - Thư ký TAND tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Ông Đặng Thanh Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 10/2024/TLST-HNGĐ ngày 04/10/2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04/11/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh X, C - E, sinh năm 1993. Trú tại: Số A, đoạn A, đường L, khóm A, phường Đ, khu T, thành phố Đ, Đài Loan.
Bị đơn: Chị Trần Thị H, sinh năm 1978. HKTT: Thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh.
Các đương sự đều vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn anh X, C - E trình bày: Ngày 12/7/2022 anh và chị Trần Thị H tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn tại UBND huyện L, tỉnh Bắc Ninh. Sau khi kết hôn, anh trở lại Đài Loan sinh sống và làm việc, chị H không sang được định cư cùng anh nên anh thỉnh thoảng về Việt Nam thăm vợ và gia đình vợ. Do xa cách địa lý, vợ chồng không còn tình cảm yêu thương nhau, tính cách sở thích không hòa hợp, dẫn đến thường xuyên cãi vã, vợ chồng đã ly thân nhiều tháng nay. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không đạt được nên anh X, C - En khởi kiện xin ly hôn với chị H.
Về con chung, tài sản chung, công nợ: Không có.
Anh X, C - En đề nghị không tiến hành hòa giải và xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn là chị Trần Thị H trình bày: Chị H xác nhận đã nhận được thông báo thụ lý của của TAND tỉnh Bắc Ninh, chị có ý kiến như sau: Chị kết hôn với anh X, C – En và đăng ký kết hôn ngày 12/7/2022 tại UBND huyện L, tỉnh Bắc Ninh. Sau khi kết hôn, anh X, C - En về Đài Loan, chị không có cơ hội sang Đài Loan định cư với anh X, C - E, do khoảng cách địa lý nên tình cảm không còn hòa hợp, nghị kỵ lẫn nhau, thường xuyên cãi vã trên điện thoại, vợ chồng cắt đứt quan hệ tình cảm. Nay đối với yêu cầu xin ly hôn của anh X, C – E thì chị H đồng ý.
Về con chung, tài sản chung, công nợ: Không có.
Chị H đề nghị không tiến hành hòa giải và xin xét xử vắng mặt.
Tại phiên tòa hôm nay các đương sự đều vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án là đảm bảo đúng quy định của pháp luật tố tụng.. Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn xin ly hôn của anh X, C - E, xử cho anh X, C - En được ly hôn chị H; Về con chung, tài sản chung, công nợ: Không xem xét giải quyết. Về án phí: anh X, C - En phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện lời trình bày của các bên đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp: Theo đơn xin ly hôn, anh X, C - E đề nghị ly hôn với chị Trần Thị H. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thì quan hệ tranh chấp trong vụ án được xác định là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.
Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn là chị Trần Thị H có nơi cư trú tại thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh. Hiện nay, nguyên đơn là anh X, C - En đang cư trú, làm việc tại Đài Loan nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh theo quy định tại Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc tham gia tố tụng của các đương sự: Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt và có đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên theo quy định tại khoản 1 Điều 228 BLTTDS Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh X, C - E có đủ điều kiện kết hôn, khi kết hôn anh chị được tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên là hôn nhân hợp pháp cần được xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.
Sau khi kết hôn, anh X, C - En về Đài Loan sinh sống và làm việc, chị H không sang được theo chồng dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng, tình cảm không còn hòa hợp, nghị kỵ lẫn nhau, thường xuyên cãi vã. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa anh X, C - E và chị H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh X, C - En có đơn xin ly hôn, chị H cũng đồng ý nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử anh X, C - En được ly hôn chị H.
Về con chung, tài sản chung, công nợ: Không có, nên HĐXX không xem xét.
Về án phí: Anh X, C - En phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 28, 35, 37, 38, 146, 147, 227, 228, 271, 273, 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, xử:
- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh X, C - E: Anh X, C - En được ly hôn chị Trần Thị H.
- Về con chung, tài sản chung, công nợ: Không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Anh X, C - En phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận anh X, C - E đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng số 0000245 ngày 04/10/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật; bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Minh |
Bản án số 05/2024/HNGĐ-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 05/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh Xu, Cheng - En được ly hôn chị Trần Thị H.
