Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÀ BẮC

TỈNH HOÀ BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 05/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 03/09/2024

(V/v yêu cầu ly hôn)

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÀ BẮC, TỈNH HOÀ BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Lự.
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Trọng Huề
  • Bà Phạm Thị Dần.
  • - Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Bùi Thanh Tùng
  • - Đại diện VKSND huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Diệu H - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 09 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình, mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án về tranh chấp Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 10/2024/TLST-HNGĐ, ngày 18 tháng 03 năm 2024, về việc yêu cầu ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 25 tháng 07 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số: 04/QĐST- HNGĐ ngày 12/08/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình giữa:

  1. Nguyên đơn: Chị Xa Thị H1 - sinh năm 1991.
  2. Địa chỉ: xóm S, xã C, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình. Có mặt

  3. Bị đơn: Anh Xa Quang T - sinh năm 1992.
  4. Địa chỉ: xóm S, xã C, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt lần hai, không có lý do.

  5. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng C- Phòng giao dịch NHCSXH huyện Đ.
  6. Địa chỉ: Tiểu Khu M, Thị Trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai thì nội dung vụ án được xác định như sau:

Chị Xa Thị H1 và anh Xa Quang T được tìm hiểu nhau tự nguyện có đăng ký kết hôn ngày 27/11/2013 tại Ủy ban nhân dân xã C huyện Đ tỉnh Hòa Bình. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống trong gia đình bố mẹ đẻ của anh T một thời gian ngắn thì ra ở riêng tại xóm S xã C. Anh,chị chung sống với nhau hạnh phúc chỉ được mấy năm đầu sau dó phát sinh mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng và căng thẳng nguyên nhân là do hoàn cảnh kinh tế khó khăn anh T chơi bời không chịu làm ăn nợ nần bên ngoài chồng chất chị H1 nhắc nhở anh T nhiều lần nhưng anh T không nghe còn chửi bới chị thậm tệ. Chị H1 không chịu đựng được cảnh sống chung với anh T, đến tháng 01 năm 2021 chị H1 bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở xóm C, xã T, huyện Đ từ đó đến nay vợ chồng không quan tâm gì đến nhau. Chị H1 thấy tình cảm không còn chị làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn anh X QuangTú.

- Về con chung: Anh, chị sinh được 02 con chung các cháu tên là: Xa Hoàng N, sinh ngày 23/10/2013 và cháu Xa Bảo K, sinh ngày 30/10/2019. Hiện nay cháu Xa Hoàng N đang ở với anh T và ông bà nội ở xóm S, xã C và đang học lớp 6 trường tiểu học và trung học cơ sở xã C, huyện Đ, còn cháu Xa Bảo K còn nhỏ đang ở với chị H1 và ông bà ngoại ở xóm C, xã T, huyện Đ. Được ly hôn chị H1 đề nghị xin được nuôi con Xa Bảo K vì cháu K còn nhỏ. Cháu N hiện ở với ông bà nội và anh T và cháu đang học lớp 6 trường tiểu học và trung học cơ sở xã C, chị đề nghị anh T có trách nhiệm nuôi cháu Xa Hoàng N, chị không yêu cầu việc cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết:

Về công nợ chung: Vợ chồng có vay khoản nợ của Phòng giao dịch Ngân hàng CSXH huyện C số tiền gốc là 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng) tiền gốc và lãi theo hợp đồng vay ngày 19/05/2019. Đối với số tiền nợ này chị đề nghị anh T phải có nghĩa vụ trả nợ. Nay được biết anh T đã trả hoàn tất cho NHCSXH khoản nợ này, ngoài ra vợ chồng không còn có nợ ai và cho ai vay nợ, anh T có nợ riêng ai thì chị không biết.

Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Tòa án thông báo thụ lý, triệu tập hợp lệ và thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải đối với anh Xa Quang T nhiều lần nhưng anh T không hợp tác và không có mặt ở Tòa án để giải quyết việc ly hôn,Tòa án đã xác minh anh T vẫn có mặt ở tại xóm S, xã C, huyện Đ.

Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai các tài liệu, văn bản theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xác minh tại gia đình anh T, UBND xã C và tống đạt hợp lệ các giấy triệu tập, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng anh Xa Quang T cố tình không chấp hành và vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

Tại phiên tòa chị Xa Thị H1 vẫn giữ nguyên quan điểm yêu cầu ly hôn anh Xa Quang T.

*Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đà Bắc.

-Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng quy định và thời hạn, nội dung thẩm quyền của Bộ luật tố tụng dân sự.

Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình như chấp hành nội quy phiên tòa. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên HĐXX xử vắng mặt anh Xa Quang T là đúng quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Về nội dung: Từ những tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, thấy rằng hôn nhân giữa chị Xa Thị H1 và anh Xa Quang T trước khi đăng ký kết hôn được tìm hiểu nhau tự nguyện không ai ép buộc, do đó quan hệ hôn nhân hợp pháp. Sau khi đăng ký kết hôn anh chị chung sống với nhau mấy năm đầu hạnh phúc sau đó mâu thuẫn và không thể sống chung với nhau bởi điều kiện hoàn cảnh khó khăn anh T không chịu làm ăn chơi bời không vun vén gia đình thường xuyên xảy ra cãi vã nhau chị H1 bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở tại xóm C, xã T từ tháng 01 năm 2021 và ly thân cho đến nay. Trong quá trình Tòa án giải quyết anh T cố tình vắng mặt không thể hiện quan điểm của mình về vấn đề ly hôn điều đó chứng tỏ anh T có ý định không muốn kéo dài cuộc hôn nhân với chị H1. Do vậy tình cảm của anh chị không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đính hôn nhân không đạt được do đó đề nghị HĐXX căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật HNGĐ chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Xa Thị H1 với anh Xa Quang T.

- Về con chung: Cháu Xa Hoàng N, sinh ngày 23/10/2013 hiện đang học lớp 6 tiểu học và trung học cơ sở xã C và đang ở với anh T và ông bà nội tại xóm S, xã C đang có cuộc sống bình thường, sức khỏe tốt, được học hành đầy đủ. Mặt khác, theo nguyện vọng của cháu N là muốn được ở cùng ông bà nội để có điều kiện được ăn học đầy đủ, xét thấy để đảm bảo cho cháu ăn học cần giao cháu cho anh Xa Quang T và bố mẹ đẻ anh T chăm sóc nuôi dưỡng. Đối với cháu Xa Bảo K, sinh ngày 30/10/2019 còn nhỏ, hiện đang ở với chị Xa Thị H1 ở xóm C, xã T, có cuộc sống bình thường, sức khỏe tốt, xét thấy cần giao cháu cho chị Xa Thị H1 nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục là phù hợp với thực tế.

- Về tài sản chung: Chị Xa Thị H1 không yêu cầu giải quyết.

- Về công nợ chung: Xác nhận anh Xa Quang T đã trả tất toán đối với khoản nợ vay Phòng giao dịch NHCSXH huyện Đ theo Thông báo số: 208/TB-NHCSXH ngày 21/06/2024. Theo đơn khởi kiện thì gia đình chị H1 anh T vay người thân, trong quá trình làm việc tại Tòa án, chị H1 tự nguyện nhận là người trả số nợ này, do đó không đề cập.

- Về án phí: Căn cứ Điều 147 BLTTDS 2015; điều 27 nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án, nguyên đơn chị Xa Thị H1 phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Đề nghị HĐXX tuyên quyền kháng cáo của các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh luận tại phiên tòa ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Chị Xa Thị H1 có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đà Bắc giải quyết việc hôn nhân giữa chị và anh Xa Quang T, anh T có hộ khẩu thường trú tại xóm S, xã C, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình. Do đó căn cứ tại khoản 1 điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp hôn nhân và gia đình về “Tranh chấp ly hôn”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình.

Tòa án triệu tập và thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải hợp lệ nhưng anh Xa Quang T vắng mặt tại Tòa án, nên không thể tiến hành hòa giải được tại Tòa án. Tòa án đã xác minh, niêm yết các tài liệu giấy tờ theo quy định của pháp luật nhưng bị đơn vẫn cố tình vắng mặt không có lý do HĐXX căn cứ vào các Điều 227, 228 của BLTTDS, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Xa Quang T. Anh Xa Quang T không thực hiện nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự nên phải chịu hậu quả của việc không giao nộp chứng cứ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình được quy định tại các Điều 91, 96 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân:

Chị Xa Thị H1 và anh Xa Quang T tự nguyện tìm hiểu nhau không có sự ép buộc và có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện Đ từ năm 2013 và có tổ chức cưới hỏi có sự chứng kiến của hai bên gia đình họ hàng nội ngoại, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ, Sau khi cưới chị H1 về làm dâu nhà anh T được khoảng một khoảng 05 năm thì anh chị ra ở riêng. Quá trình chung sống với nhau chỉ được mấy năm đầu là hạnh phúc sau đó phát sinh mâu thuẫn vợ chồng. Nguyên nhân chính là do điều kiện kinh tế khó khăn anh T không chịu làm ăn tu chí vun vén gia đình và chơi bời nên vợ chồng thường xuyên cãi vã chửi mắng nhau. Đến tháng 01 năm 2021 chị H1 bỏ về nhà mẹ đẻ ở xóm C, xã T, sinh sống từ thời gian đó cho đến nay vợ chồng sống ly thân không quan tâm gì đến nhau, chị H1 thấy tình cảm vợ chồng không còn nên làm đơn đề nghị xin ly hôn anh T. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã xác minh tại địa phương cũng như tại phiên tòa anh T không hợp tác cố tình trốn tránh, không thể hiện quan điểm của mình mặc dù Tòa án đã tống đạt các giấy triệu tập cũng như các văn bản theo quy định của BLTTDS nhưng anh T cố tình vắng mặt mà không có lý do thể hiện quan điểm nên anh T không có thiện chí trở thành vợ chồng với chị Xa Thị H1.

Qua xác minh gia đình và chính quyền địa phương đều khẳng định chị Xa Thị H1 và anh Xa Quang T có đăng ký kết hôn ngày 27/11/2013 tại xã C, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình sau khi đăng ký kết hôn anh T và chị H1 có tổ chức cưới có hai bên gia đình họ hàng nội ngoại chứng kiến anh chị chung sống với nhau chỉ được mấy năm đầu là hạnh phúc sau đó xảy ra mâu thuẫn vợ chồng liên tục cãi vã nhau đến tháng 01 năm 2021 chị H1 bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở tại xóm C, xã T và ly thân nhau từ đó đến nay không quan tâm gì đến nhau.

Hội đồng xét xử nhận thấy cả hai anh chị sống ly thân nhau trong thời gian dài và không quan tâm gì đến nhau, vi phạm quyền nghĩa vụ của vợ chồng tình trạng hôn nhân của anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.

Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Xa Thị H1 đối với chị Xa Quang T là phù hợp với quy định tại Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.

(3) Về tài sản: Không yêu cầu tòa án giải quyết nên Tòa không xét giải quyết.

(4) Về công nợ: Xác nhận anh Xa Quang T đã trả tất toán đối với khoản nợ vay Phòng giao dịch NHCSXH huyện Đ theo Thông báo số: 208/TB-NHCS ngày 21/06/2024 Đại diện NHCSXH có đơn xin xét xử vắng mặt và không có ý kiến gì thêm.

[5] Về con chung:

Chị Xa Thị H1 và anh Xa Quang T sinh được hai con chung là cháu Xa Hoàng N, sinh ngày 23/10/2013 và cháu Xa Bảo K, sinh ngày 30/10/2019: Xét thấy anh chị đã ly thân từ năm 2021 hiện nay cháu N đang ở với bố và ông bà nội ở xã C và cháu đang học lớp 6 trường tiểu học và trung học cơ sở xã C, để đảm bảo cho cháu N được học hành thuận tiện gần trường học của cháu nên cần giao cháu Xa Hoàng N cho anh Xa Quang T nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục cháu là phù hợp cần giao cháu Xa Bảo K cho chị H1 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục là phù hợp với nguyện vọng của chị H1 và phù hợp với thực tế.

Ghi nhận sự tự nguyện của chi H1 hiện tại chị chưa yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con.

[6] Về án phí: Chị Xa Thị H1 phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo : Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273, Điều 280 BLTTDS.

Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân & gia đình.

Căn cứ Điều 147 BLTTDS, Điều 27 của Nghị quyết số 326/ 2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị Xa Thị H1, cho chị Xa Thị H1 được ly hôn anh Xa Quang T.
  2. Về con chung: Giao chị Xa Thị H1 trực tiếp trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng cháu Xa Bảo K, sinh ngày 30/10/2019 cho đến khi cháu K đủ 18 tuổi. Giao anh Xa Quang T trực tiếp trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng cháu Xa Bảo N1, sinh ngày 23/10/2013 cho đến khi cháu N1 đủ 18 tuổi.
  3. Chưa yêu cầu giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con hoặc quy định khác của pháp luật. Anh Xa Quang T và chị Xa Thị H1 có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở anh, chị thực hiện quyền này.

    Khi có thay đổi chị H1 và anh T có quyền làm đơn quyền trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn hoặc theo yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

  4. Về quan hệ tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.
  5. Về công nợ: Ghi nhận anh Xa Quang T đã trả tất toán đối với khoản nợ chung vay Ngân hàng C, Phòng giao dịch NHCSXH huyện Đ theo thông báo số :208/TB-NHCS ngày 21/06/2024 của Phòng giao dịch NHCSXH huyện Đ.
  6. Về án phí: Chị Xa Thị H1 phải nộp 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0002624 ngày 18/03/2024 của Chi cục THADS huyện Đ, tỉnh Hoà Bình. Chị H1 đã nộp đủ án phí.
  7. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận :

  • - TAND, tỉnh Hòa Bình;
  • - VKSND tỉnh Hòa Bình;
  • - VKSND huyện Đà Bắc;
  • - Chi cục THADS huyện Đà Bắc;
  • - UBND xã Cao Sơn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Văn Lự

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2024/HNGĐ-ST ngày 03/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÀ BẮC, TỈNH HOÀ BÌNH về yêu cầu ly hôn

  • Số bản án: 05/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÀ BẮC, TỈNH HOÀ BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chị Xa Thị H1 và anh Xa Quang T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger