Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔ LƯƠNG

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 05/2024/HNGĐ-ST

Ngày 20 – 02 – 2025

“V/v ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Trần Văn Hải.

- Ông Nguyễn Tất Quang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Dung – Thẩm tra viên của Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh – Kiểm sát viên

Ngày 20 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 302/2024/HNGĐ-ST ngày 25 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn, nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2025/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Lê Trung H. Sinh năm 198x. Địa chỉ khối A, thị trấn ĐL, huyện ĐL, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên tòa (Có đơn đề nghị xử vắng mặt).

- Bị đơn: Bà Trương Thị L. Sinh năm 199x. Địa chỉ khối B, thị trấn ĐL, huyện ĐL, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải nguyên đơn là ông Lê Trung H trình bày như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Trung H và bà Trương Thị L làm thủ tục đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân thị trấn ĐL, huyện ĐL, tỉnh Nghệ An cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 22/3/201x. Từ khi kết hôn đến tháng 12/2023 vợ chồng sống hạnh phúc. Từ tháng 01/2024 đến nay hai người sống ly thân. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống. Đến nay ông Lê Trung H thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ông Lê Trung H được ly hôn bà Trương Thị L.

- Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, ông Lê Trung H và bà Trương Thị L có 02 (Hai) con chung là Lê Đăng Kh – sinh ngày 09/5/201x, Lê Đăng Ng – sinh ngày 16/10/202x. Ly hôn thì ông Lê Trung H đề nghị Tòa án giao 02 (Hai) con chung cho ông Lê Trung H được quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông Lê Trung H không đề nghị Tòa án buộc bà Trương Thị L phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Ông Lê Trung H không yêu cầu Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung, nợ chung trong thời kỳ hôn nhân khi ly hôn.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án không thu thập được ý kiến trình bày của bà Trương Thị L.

Tòa án đã tiến hành xác minh thông qua bà Nguyễn Thị T (Sinh năm 196x. Địa chỉ khối B, thị trấn ĐL huyện ĐL, tỉnh Nghệ An; là mẹ đẻ của bà Trương Thị L) tại biên bản xác minh ngày 14/01/2025 bà Nguyễn Thị T cho biết thông tin như sau: Gia đình bà Nguyễn Thị T, ông Trương Công L đã nhận được các văn bản do Tòa án gửi qua bưu điện cho chị Trương Thị L gồm Thông báo về việc thụ lý vụ án số 302 ngày 25/11/2024; Thông báo số 303 ngày 25/11/2024 và Thông báo số 310 ngày 10/12/2024 về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ số 305 ngày 25/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Sau khi nhận được các văn bản này thì bà Nguyễn Thị T đã thông báo cho chị Trương Thị L biết nội dung của các văn bản và chị Trương Thị L đã biết về yêu cầu khởi kiện của anh Lê Trung H. Anh Lê Trung H và chị Trương Thị L làm thủ tục đăng ký kết hôn và được UBND thị trấn ĐL, huyện ĐL, tỉnh Nghệ An cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 22/3/2017. Từ khi sống ly thân thì chị Trương Thị L có về sinh sống tại nhà ông Trương Công L, bà Nguyễn Thị T một thời gian ngắn, sau đó đi vào miền Nam làm việc. Bà Nguyễn Thị T không biết địa chỉ sinh sống, làm việc hiện nay của chị Lộc ở miền Nam.

Sau khi biết nội dung khởi kiện của anh Lê Trung H thì chị Trương Thị L phản hồi thông tin qua bố mẹ như sau: Chị Trương Thị L đồng ý ly hôn theo yêu cầu khởi kiện của anh Lê Trung H. Ly hôn thì chị Trương Thị L đề nghị Tòa án giao 02 (Hai) con chung là Lê Đăng Kh – sinh ngày 09/5/201x, Lê Đăng Ng – sinh ngày 16/10/202x cho anh Lê Trung H chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi. Chị Trương Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung, nợ chung trong thời kỳ hôn nhân khi ly hôn.

Tại phần tranh luận: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An sau khi nhận xét, đánh giá việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, các đương sự và phân tích nội dung vụ án; đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Lê Trung H được ly hôn bà Trương Thị L.

- Về con chung: Giao 02 (Hai) con chung chưa thành niên là Lê Đăng Kh, sinh ngày 09/5/201x và Lê Đăng Ng, sinh ngày 16/10/202x cho ông Lê Trung H được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Do ông Lê Trung H không yêu cầu Tòa án buộc bà Trương Thị L phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét.

- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết việc chia tài sản chung, nợ chung trong thời kỳ hôn nhân khi ly hôn nên không xem xét.

- Về án phí: Buộc ông Lê Trung H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Bị đơn là bà Trương Thị L có đăng ký hộ khẩu thường trú tại khối B, thị trấn ĐL, huyện ĐL, tỉnh Nghệ An. Ông Lê Trung H có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn, nuôi con với bà Trương Thị L, do đó đây là vụ án ly hôn, tranh chấp nuôi con chung. Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án phải tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa mà không có lý do chính đáng. Hội đồng xét xử thấy rằng quá trình giải quyết vụ án, bị đơn đã được Tòa án gửi các văn bản tố tụng và đã biết nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng bị đơn không có ý kiến trình bày bằng văn bản. Nguyên đơn đã có ý kiến trình bày đầy đủ và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Xét việc vắng mặt của các đương sự tại phiên toà không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Vì vậy căn cứ quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xem xét giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ ý kiến trình bày của Ủy ban nhân dân thị trấn ĐL, huyện ĐL, tỉnh Nghệ An tại Công văn số 99 ngày 27/12/2024, ý kiến trình bày của nguyên đơn và bà Nguyễn Thị T, Hội đồng xét xử xác định ông Lê Trung H và bà Trương Thị L làm thủ tục đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân thị trấn ĐL, huyện ĐL, tỉnh Nghệ An cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 22/3/2017; việc kết hôn trên tinh thần tự nguyện, không bị ai ép buộc, do đó hôn nhân giữa ông Lê Trung H và bà Trương Thị L là hợp pháp.

Hội đồng xét xử thấy ông Lê Trung H có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết việc ly hôn nhưng bà Trương Thị L không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, cũng không tham gia tố tụng tại phiên tòa, không có ý kiến phản hồi bằng văn bản; điều đó cho thấy bà Trương Thị L và ông Lê Trung H đều không còn quan tâm đến nhau, không người nào có biện pháp để giữ gìn hạnh phúc gia đình, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Trung H và giải quyết cho ông Lê Trung H được ly hôn bà Trương Thị L.

[4] Về con chung: Trên cơ sở ý kiến trình bày của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn, UBND thị trấn ĐL cung cấp, Hội đồng xét xử xác định trong thời kỳ hôn nhân, ông Lê Trung H và bà Trương Thị L có 02 (Hai) con chung là Lê Đăng Kh – sinh ngày 09/5/201x, Lê Đăng Ng – sinh ngày 16/10/202x. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Lê Trung H đề nghị Tòa án giao 02 (Hai) con chung cho ông Lê Trung H được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Hiện nay các con chung đang sinh sống ổn định với ông Lê Trung H tại khối A, thị trấn ĐL, huyện ĐL, tỉnh Nghệ An. Trong khi hiện nay bà Trương Thị L đang đi làm ở xa nên không thể giao con chung cho bà Trương Thị L chăm sóc nuôi dưỡng. Do đó Hội đồng xét xử thấy rằng để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển lâu dài của các con nên giao cho ông Lê Trung H được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung chưa thành niên là Lê Đăng Kh, Lê Đăng Ng cho đến khi đủ tuổi trưởng thành là phù hợp.

[5] Về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Lê Trung H không yêu cầu bà Trương Thị L phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về tài sản chung và nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đều không yêu cầu Toà án giải quyết việc chia tài sản chung, nợ chung trong thời kỳ hôn nhân khi ly hôn nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Ông Lê Trung H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 71, Điều 72, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Trung H.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Lê Trung H được ly hôn bà Trương Thị L.
  2. Về con chung: Giao cho ông Lê Trung H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 (Hai) con chung chưa thành niên là Lê Đăng Kh – sinh ngày 09/5/201x, Lê Đăng Ng – sinh ngày 16/10/202x cho đến khi đủ 18 tuổi.
    • - Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không xem xét.

    Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

    Bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

    Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  3. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
  4. Trường hợp Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  5. Về án phí: Ông Lê Trung H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) do ông Lê Trung H đã nạp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009745 ngày 25/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.
  6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Đô Lương;
  • - Chi cục THADS huyện Đô Lương;
  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - UBND thị trấn ĐL;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hồng Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2024/HNGĐ-ST ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN về ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 05/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án giải quyết ly hôn, nuôi con giữa ông Lê Trung H và bà Trương Thị L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger