Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VÂN HỒ

TỈNH SƠN LA

Bản án số: 05/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 10/9/2024

V/v Xin ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ, TỈNH SƠN LA

Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Phương Giang.

Các hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Thu Thủy và bà Trịnh Thị Kim Oanh

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Huy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Mùi Thị Quyên - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 17/2024/TLST- HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2024 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2024/QĐXX - HNGĐ ngày 04 tháng 8 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 03/2024/QĐST-HPT ngày 30 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Lường Thị V, sinh năm: 1989. Địa chỉ: Bản D, xã T, huyện V, tỉnh Sơn La. Có mặt.
  2. Bị đơn: Anh Vì Văn P, sinh năm: 1983. Địa chỉ: Bản D, xã T, huyện V, tỉnh Sơn La. Vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 28/6/2024, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và trong quá trình xét xử, chị Lường Thị V trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh V1 Văn Pinh kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện V vào ngày 12/9/2007. Cuộc sống chung vợ chồng hạnh phúc đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do không hợp tính tình, thường xuyên xảy ra cãi vã, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Mâu thuẫn đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng không thành. Vợ chồng chị sống ly thân từ năm 2014 cho đến nay. Nay chị V không còn tình cảm với anh P. Chị nhất quyết đề nghị Tòa án nhân huyện V giải quyết cho chị được ly hôn với anh P; Về con chung: Trong thời gian chung sống, anh chị có 02 con chung là cháu Vì Văn Á, sinh ngày 21/7/2008 và cháu Vì Gia B, sinh ngày 07/7/2010. Nguyện vọng của chị chị Lường Thị V là được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu V1 Văn Ánh đến khi cháu trưởng thành, giao cháu V1 Gia Bảo cho anh V1 Văn Pinh chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Không yêu cầu anh P phải cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Vì Văn P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh P không hợp tác, từ chối nhận các văn bản tố tụng của Tòa án, không chấp hành các giấy triệu tập của Tòa án, không đưa ra ý kiến cũng như tài liệu, chứng cứ nào với yêu cầu khởi kiện của chị V. Tòa án không tiến hành lấy được lời khai của anh P. Tại phiên tòa hôm nay anh V1 Văn Pinh vắng mặt, không có lý do.

Qua xác minh, cán bộ tư pháp xã T cho biết:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lường Thị V và anh V1 Văn Pinh tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật; Về con chưa thành niên: Chị V và anh P có 02 con chung là cháu Vì Văn Á, sinh ngày 21/7/2008 và cháu Vì Gia B, sinh ngày 07/7/2010. Cháu Vì Gia B đang ở với bố và ông bà nội tại bản Dạo, xã T, C Vì Văn Á đang ở với mẹ tại bản Dạo, xã T; Về tài sản chung, nợ chung: UBND xã không nắm được. Nay chị V có đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh P, UBND xã cung cấp những thông tin trên đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của Pháp luật.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã lấy lời khai của cháu V1 Gia B và cháu Vì Văn Á. Cháu B khai: Hiện cháu đang ở cùng với bố và ông bà nội, cháu có nguyện vọng được sống cùng bố và ông bà nội để tiếp tục đi học tại Tô Múa nếu như bố mẹ cháu ly hôn; Cháu Á khai: Hiện cháu đang ở cùng với mẹ, cháu có nguyện vọng được sống cùng mẹ vì mẹ có điều kiện để chăm lo cho cháu hơn.

Phát biểu của Kiểm sát viên: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án việc tuân theo pháp luật từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm này Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ, đúng trình tự, thủ tục của vụ án dân sự, bị đơn anh Vì Văn P không chấp hành các giấy triệu tập, từ chối nhận các văn bản tố tụng của Tòa án, không đưa ra ý kiến của mình trước yêu cầu khởi kiện của chị V, vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do.

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Đề nghị:

  • - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn của chị Lường Thị V. Xử cho chị Lường Thị V được ly hôn với anh Vì Văn P.
  • - Về con chung: Giao cho chị Lường Thị V chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Vì Văn Á, sinh ngày 21/7/2008; Giao cho anh V1 Văn Pinh chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Vì Gia B, sinh ngày 07/7/2010, cho đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Không bên nào được cản trở quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.
  • - Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Lường Thị V tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung với anh V1 Văn Pinh cho cháu Vì Gia B, sinh ngày 07/7/2010 mỗi tháng 1.000.000 đồng.
  • - Về tài sản chung, vay nợ chung: Không xem xét giải quyết.

- Về án phí: Chị Lường Thị V được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm và án phí cấp dưỡng định kỳ. Trả lại cho chị Lường Thị V 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí DSST đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001021 quyển số 21 ngày 01/7/2024 của Chi cục THADS huyện V, tỉnh Sơn La.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Lường Thị V khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Vì Văn P, xét thấy là quan hệ tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn anh V1 Văn Pinh cư trú tại bản Dạo, xã T, huyện V, tỉnh Sơn La nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Vì Văn P không chấp hành giấy triệu tập của Tòa án, từ chối nhận các văn bản tố tụng của Tòa án. Mặc dù đã được triệu tập hợp lệ, anh V1 Văn Pinh vắng mặt lần 2 tại phiên tòa, không có lý do. Nên Hội đồng xét xử vắng mặt anh P theo quy định tại khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Ngày 12/9/2007 chị Lường Thị V và anh V1 Văn Pinh tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện V. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị Lường Thị V và anh V1 Văn Pinh là hợp pháp theo quy định của pháp luật. Cuộc sống chung vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2014 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh, chị bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra xô xát. Mâu thuẫn giữa anh chị đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng không thành. Anh, chị đã sống ly thân từ năm 2014 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Chị Lường Thị V cương quyết xin ly hôn với anh Vì Văn P. HĐXX nhận thấy, anh, chị sống ly thân một thời gian dài, không ai quan tâm đến ai, cuộc sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần xử cho chị Lường Thị V được ly hôn với anh Vì Văn P, theo quy định khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Chị Lường Thị V và anh Vì Văn P có 02 con chung là cháu Vì Văn Á, sinh ngày 21/7/2008 và cháu Vì Gia B, sinh ngày 07/7/2010.

Xét khả năng và điều kiện nuôi dưỡng con chung của anh V1 Văn P và chị Lường Thị V: Anh P và chị V đều có đủ năng lực trách nhiệm dân sự, có khả năng lao động. Đều làm nghề nông, có thu nhập đảm bảo nên cả hai đều có điều kiện để chăm sóc các con như nhau. Do đó, yêu cầu của chị Lường Thị V là được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cháu Vì Văn Á giao cháu V1 Gia Bảo cho anh V1 Văn Pinh chăm sóc nuôi dưỡng, cũng như nguyện vọng của cháu V1 Gia B là được ở với bố, cháu V1 Văn Ánh muốn được ở với mẹ là có căn cứ. HĐXX giao cháu Vì Văn Á, sinh ngày 21/7/2008 cho chị Lường Thị V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi, giao cháu Vì Gia B, sinh ngày 07/7/2010 cho anh V1 Văn Pinh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi.

Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung: Tại phiên tòa chị Lường Thị V tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung cho cháu Vì Gia B cùng anh V1 Văn P là 1.000.000đ/tháng cho đến khi cháu V1 Gia Bảo trường thành. Việc chị V cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh P là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc, nên được HDDXX chấp nhận.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu tòa án xem xét, giải quyết.

[5] Đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, nên được HĐXX chấp nhận.

[6] Về án phí: Chị Lường Thị V là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. HĐXX miến án phí dân sự sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Lường Thị V.

[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự. Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, khoản 1, 2 Điều 81; khoản 1, 3 Điều 82, Điều 83 Luật HNGĐ năm 2014; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên xử cho chị Lường Thị V được ly hôn với anh Vì Văn P.
  2. Về con chung: Giao cháu Vì Văn Á, sinh ngày 21/7/2008 cho chị Lường Thị V, giao cháu Vì Gia B, sinh ngày: 07/7/2010 cho anh V1 Văn Pinh trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục cho đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Chấp nhận việc chị Lường Thị V cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Vì Văn P cho cháu Vì Gia B là 1.000.000đ/tháng đến khi cháu B trưởng thành. Chấp nhận việc chị Lường Thị V không yêu cầu anh V1 Văn Pinh phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Vì Văn P, chị Lường Thị V có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Lường Thị V. Chị V được trả lại 300.000đ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền tạm ứng số 0001021 nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La ngày 01/7/2024.
  5. Về quyền kháng cáo: Chị Lường Thị V có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh V1 Văn Pinh được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc từ ngày bản án được niên yết công khai.

Nơi nhận:

  • - Toà án ND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND Tỉnh Sơn La;
  • - VKSND huyện Vân Hồ;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Vân Hồ;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Tô Múa;
  • - Lưu hồ sơ;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Phương Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2024/HNGĐ-ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ, TỈNH SƠN LA về ly hôn

  • Số bản án: 05/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xin ly hon
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger