|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 05/2024/HC-PT Ngày 05-12-2024 V/v khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính |
|
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Minh Phương
Các Thẩm phán:
Ông Đặng Minh Hạnh
Ông Nguyễn Quang Kiên
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Nga – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Mai Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 03/2024/TLPT-HC ngày 28 tháng 10 năm 2024 về khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 01/2024/HC-ST ngày 18 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 02/2024/QĐXXPT-HC ngày 14 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 205/2024/QĐPT-HC ngày 27 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Ông Vũ Anh T, sinh năm 1984, nơi cư trú: Tổ A phường T, quận K, thành phố Hải Phòng; có mặt;
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện: Bà Trịnh Thị D, ông Phạm Ngọc H – đều là Luật sư Công ty L; bà D vắng mặt (đề nghị xét xử vắng mặt); ông H vắng mặt;
- Người bị kiện: Trưởng Công an huyện A, thành phố Hải Phòng; địa chỉ trụ sở: Tổ dân phố số G, thị trấn A, huyện A, thành phố Hải Phòng.
- Người đại diện theo uỷ quyền của người bị kiện: Ông Trương Thanh H1, chức vụ: Phó Trưởng Công an huyện A, thành phố Hải Phòng (Theo Văn bản số 732/QĐ-CAAD ngày 27/3/2024); vắng mặt (đề nghị xét xử vắng mặt);
- Người kháng cáo: Ông Vũ Anh T là người khởi kiện.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo Đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung và quá trình giải quyết vụ án tại Toà án cấp sơ thẩm, người khởi kiện – ông Vũ Anh T trình bày:
Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 26/02/2024, ông T điều khiển xe ô tô đầu kéo mang BKS 15C-149.39 kéo theo sơ mi rơ mooc BKS 15R-145.88 trên địa phận xã H thì bị Công an thuộc Đội cảnh sát giao thông trật tự Công an huyện A dừng xe, lập biên bản vi phạm hành chính số 240877/BB-VPHC với lỗi đi vào đường có biển báo hiệu có nội dung cấm đi vào đối với loại phương tiện đang điều khiển. Đến ngày 05/3/2024, Công an huyện A ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số G01.839.817.308-981-24-000951/QĐ-XPHC với nội dung xử phạt ông T với số tiền 2.500.000 đồng, tước giấy phép lái xe 02 tháng.
Ông T cho rằng Công an huyện A xử phạt vi phạm hành chính đối với ông T là không đúng nên không đồng ý với quyết định xử phạt này. Lý do:
Thứ nhất: Ông T không phạm lỗi đi xe vào đường có biển cấm vì nhận thấy biển báo chưa được lắp đặt đúng quy chuẩn.
Vào thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính, có rất nhiều xe ô tô đầu kéo, kéo theo xe sơ mi rơ mooc giống như xe ông T đang điều khiển nhưng lại không bị dừng xe để xử phạt, nên đã hỏi người công an xử phạt, tại sao chỉ mình ông T bị xử phạt lỗi này. Theo Điều 20 của Quy chuẩn 41, trên những đường có 02 làn chạy trở lên trên cùng một chiều biển phải được treo trên giá long môn hoặc cột cần vươn; nếu không được có thể lắp thêm biển báo phía bên trái của xe chạy. Tại vị trí ông T bị xử phạt, biển báo không được lắp đúng quy định. Đây là tuyến đường có nhiều xe tải, container di chuyển nên khi ông T đi qua bị xe cao hơn che khuất tầm nhìn nên không thể nhìn thấy biển. Bên cạnh đó, các xe đầu kéo có kéo theo sơ mi rơ mooc chở hàng đi trước xe do ông T điều khiển đều không bị dừng xe, nhưng xe do ông T điều khiển lại bị dừng.
Đường 17B được nâng cấp từ đường tỉnh lộ 388 theo Quyết định số 1982/QĐ-BGTVT ngày 27/6/2016 của Bộ G. Theo đó, đường quốc lộ này được thiết kế theo tiêu chuẩn V: 2005 nên chịu tải trọng đối với xe đầu kéo là bình thường. Đây cũng không phải là khu vực đông dân cư nên xe đầu kéo không làm ảnh hưởng đến giao thông. Hơn nữa, đây là con đường huyết mạch nối các trung tâm hành chính của ba địa phận Hải Dương, Hải Phòng và Quảng Ninh nên không thể cấm xe chở hàng di chuyển.
Thứ hai: Theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính, Biên bản vi phạm phải nêu rõ người thực hiện hành vi đã vi phạm vào quy định nào của pháp luật. Tại Biên bản vi phạm hành chính số 240877/BB-VPHC, không ghi rõ ông T đã vi phạm vào điều luật cụ thể nào tại Luật Giao thông đường bộ mà chỉ ghi vi phạm điểm b khoản 4 Điều 5 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP “quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt”. Tuy nhiên, Nghị định số 100/2019/NĐ-CP chỉ là văn bản quy định chế tài xử lý chứ không phải là quy định để xác định về hành vi vi phạm.
Thứ ba: Về thời hạn ra quyết định xử phạt: Biên bản được lập ngày 26/02/2024, đến ngày 05/3/2024 thì Công an huyện A ra quyết định xử phạt, thời gian là 08 ngày. Theo quy định tại khoản 1 Điều 66 của Luật Xử lý vi phạm hành chính: “Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính phải ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính”. Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 65 của Luật trên thì đây thuộc trường hợp quá thời hạn ra quyết định xử phạt hành chính, do đó Công an huyện A ra quyết định xử phạt là không đúng quy định pháp luật.
Vì vậy, ông T khởi kiện, đề nghị Toà án giải quyết: Huỷ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số G01.839.817.308-981-24-000951/QĐ-XPHC ngày 05/3/2024 của Trưởng Công an huyện A.
Tại Văn bản số 815/CAAD ngày 08/4/2024 và quá trình giải quyết vụ án tại Toà án cấp sơ thẩm, người bị kiện – Trưởng Công an huyện A, thành phố Hải Phòng trình bày:
Đối với các lý do người khởi kiện căn cứ đề nghị Toà án huỷ Huỷ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số G01.839.817.308-981-24-000951/QĐ-XPHC ngày 05/3/2024 của Trưởng Công an huyện A, người bị kiện có quan điểm như sau:
Quốc lộ A là đường chỉ có 01 làn xe chạy trên một chiều nên biển báo hiệu đường bộ được ngành Giao thông vận tải cắm trên tuyến đường này hiện nay là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật.
Tại Biên bản vi phạm hành chính số 240877/BB-VPHC lập hồi 15 giờ 15 phút ngày 26/02/2024 tại Quốc lộ A (xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng) đã ghi rõ hành vi vi phạm của ông Vũ Anh T được quy định tại điểm b khoản 4 Điều 5 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP được sửa đổi bổ sung tại Nghị định số 123/2021/NĐ-CP. Nội dung ghi tại biên bản nêu trên là đúng quy định của pháp luật vì theo quy định tại Điều 19 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 thì Chính phủ ban hành Nghị định để quy định chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong luật... các biện pháp cụ thể để thi hành luật....
Căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 66 của Luật Xử lý vi phạm hành chính số 31/VBHN-VPQH ngày 07/12/2020 thì “Đối với vụ việc không thuộc trường hợp quy định tại điểm b và điểm c khoản này, thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là 07 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính”. Theo đó, quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông T được ký ngày 05/3/2024 tính từ ngày 26/02/2024 thì mới là 06 ngày làm việc (trừ ngày nghỉ thứ 7 và Chủ nhật, tức ngày 02 và 03 tháng 3 năm 2024) nên trong thời hạn quy định của pháp luật.
Như vậy, Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số G01.839.817.308-981-24-000951/QĐ-XPHC ngày 05/3/2024 của Trưởng Công an huyện A được ban hành đúng quy định của pháp luật nên yêu cầu của người khởi kiện là không có căn cứ.
Với nội dung như trên, tại Bản án hành chính sơ thẩm số 01/2024/HC-ST ngày 18 tháng 9 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng, đã căn cứ khoản 1 Điều 30, khoản 1 Điều 31, điểm a khoản 2 Điều 193, Điều 194 của Luật Tố tụng Hành chính; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, tuyên xử: Bác yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Anh T về việc yêu cầu huỷ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số G01.839.817.308-981-24-000951/QĐ-XPHC ngày 05/3/2024 của Trưởng Công an huyện A, thành phố Hải Phòng.
Ngoài ra, bản án còn tuyên nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm,
Ngày 25/9/2024, ông Vũ Anh T nộp Đơn kháng cáo toàn bộ Bản án hành chính sơ thẩm số 01/2024/HC-ST ngày 18/9/2024. Lý do kháng cáo: Không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm vì tuyên bác yêu cầu khởi kiện của ông T là chưa toàn diện, khách quan và công bằng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người khởi kiện giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và nội dung kháng cáo; giữ nguyên lập luận và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung kháng cáo của người khởi kiện, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu của người khởi kiện.
Đại diện Viện Kiểm sát thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của Luật Tố tụng Hành chính. Người khởi kiện, người bị kiện cơ bản đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định của Luật Tố tụng Hành chính.
Về nội dung kháng cáo của người khởi kiện vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của ông T, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 241 của Luật Tố tụng Hành chính, bác kháng cáo của ông T, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về tố tụng:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Người khởi kiện – ông T khởi kiện: Tuyên huỷ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số G01.839.817.308-981-24-000951/QĐ-XPHC ngày 05/3/2024 của Trưởng Công an huyện A, thành phố Hải Phòng nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án cấp sơ thẩm. Do vụ án có kháng cáo nên thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng theo quy định tại Điều 30, khoản 1 Điều 31 của Luật Tố tụng Hành chính.
[2] Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 11/3/2024 người khởi kiện nộp đơn khởi kiện đề nghị tuyên huỷ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số G01.839.817.308-981-24-000951/QĐ-XPHC ngày 05/3/2024 của Trưởng Công an huyện A, thành phố Hải Phòng. Ông Vũ Anh T nộp đơn khởi kiện trong thời hạn quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 của Luật Tố tụng Hành chính nên Toà án thụ lý, giải quyết yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.
[3] Kháng cáo của người khởi kiện – ông Vũ Anh T trong thời hạn luật định nên được chấp nhận để xét xử theo trình tự phúc thẩm - quy định tại Điều 206 của Luật Tố tụng hành chính.
- Xét kháng cáo của ông Vũ Anh T.
[4.1] Căn cứ hồ sơ xử phạt đối với ông Vũ Anh T, bao gồm: Biên bản vi phạm hành chính số 240877/BB-VPHC lập ngày 26/02/2024; Biên bản tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề số 240877/BB-TG ngày 26/02/2024; Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số G01.839.817.308-981-24-000951/QĐ-XPHC ngày 05/3/2024 của Trưởng Công an huyện A, thành phố Hải Phòng. Theo đó, ông Vũ Anh T bị Trưởng Công an huyện A xử phạt vi phạm hành chính do đã thực hiện hành vi vi phạm hành chính: Điều khiển xe đầu kéo mang biển kiểm soát 15C-149.39, rơ mooc biển kiểm soát 15R-14588 đã đi vào đường có biển báo hiệu có nội dung cấm đi vào đối với loại phương tiện đang điều khiển quy định tại điểm b khoản 4 Điều 5 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 (sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 123/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực hàng hải, giao thông đường bộ, đường sắt; hàng không dân dụng). Mức tiền phạt: 2.500.000 đồng. Hình thức sử phạt bổ sung: Tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 02 tháng Hạng E, FC, số [...], có giá trị đến ngày 10/6/2025; nơi cấp Sở G1, từ ngày 05/03/2024 đến hết ngày 05/05/2024. Thời hạn hình thức xử phạt bổ sung là 02 tháng, kể từ ngày nhận được Quyết định. Tại Biên bản xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Vũ Anh T và Biên bản tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề số 240877/BB-TG ngày 26/02/2024, ông Vũ Anh T đều ký xác nhận, tại phần trình bày ghi: “Không có ý kiến; đúng nội dung”.
[4.2] Các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện Quốc lộ A (xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng) là đường chỉ có 01 làn xe chạy trên một chiều. được ngành Giao thông vận tải cắm biển báo hiệu đường bộ trên tuyến đường này cấm đối với xe tải từ 04 trục trở lên.
[5] Từ những nội dung trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, lời trình bày của các đương sự, có cơ sở để xác định: Ngày 26/02/2024, ông Vũ Anh T điều khiển xe ô tô đầu kéo mang BKS 15C-149.39 kéo theo sơ mi rơ mooc mang BKS 15R-145.88 lưu thông trên địa phận xã H đi vào đường có biển báo hiệu có nội dung cấm đối với xe tải từ 04 trục trở lên (phương tiện ông T đang điều khiển). Do vậy, lực lượng công an đã lập Biên bản vi phạm hành chính ngày 26/02/2024 (tại thời điểm ông T vi phạm) và ngày 05/03/2024, Trưởng Công an huyện A, thành phố Hải Phòng đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số G01.839.817.308-981-24-000951/QĐ-XPHC ngày 05/3/2024; Quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề số 240877/QĐ-TG ngày 26/02/2024 là có căn cứ và đúng với quy định tại điểm b khoản 4 Điều 5 của Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt. Biên bản xử phạt vi phạm hành chính và Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đã tuân thủ quy định về thẩm quyền, thời hạn và hình thức, tuân theo quy định tại khoản 4 Điều 39, các Điều 21, 23, 58, 66, 68, điểm c khoản 1 Điều 125 của Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi bổ sung năm 2020). Các lý do để người kháng cáo cho rằng Bản án sơ thẩm không đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của ông T là không có cơ sở. Tại phiên toà phúc thẩm, ông T không nộp thêm tài liệu, chứng cứ mới. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của ông T nên giữ nguyên bản án sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 241 của Luật Tố tụng Hành chính.
[6.1] Về án phí hành chính sơ thẩm: Ông Vũ Anh T phải chịu án phí hành chính sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hành chính sơ thẩm đã nộp theo quy định tại Điều 347, Điều 348 của Luật Tố tụng Hành chính; khoản 1 Điều 30, Điều 31 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.
[6.2] Về án phí hành chính phúc thẩm: Ông Vũ Anh T phải chịu án phí hành chính phúc thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hành chính phúc thẩm đã nộp theo quy định tại Điều 349 của Luật Tố tụng Hành chính; khoản 1 Điều 34 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 241 của Luật Tố tụng Hành chính;
1. Bác kháng cáo của ông Vũ Anh T và giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
Căn cứ vào Điều 30, điểm a khoản 2 Điều 116 của Luật Tố tụng Hành chính;
Căn cứ vào điểm b khoản 4 Điều 5 của Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt;
Căn cứ vào khoản 4 Điều 39, các Điều 21, 23, 58, 66, 68, điểm c khoản 1 Điều 125 Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020);
Căn cứ vào các Điều 347, Điều 348, 349, khoản 1 Điều 30, Điều 31, khoản 1 Điều 34 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
2. Xử: Bác yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Anh T về việc: Tuyên huỷ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số G01.839.817.308-981-24-000951/QĐ-XPHC ngày 05/3/2024 của Trưởng Công an huyện A, thành phố Hải Phòng.
3. Về án phí hành:
3.1. Ông Vũ Anh T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hành chính sơ thẩm; được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hành chính sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng tại Biên lai thu tạm ứng án phí số 0008412 ngày 10/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương, thành phố Hải Phòng. Ông Vũ Anh T đã nộp đủ án phí hành chính sơ thẩm.
3.2. Về án phí hành chính phúc thẩm: Ông Vũ Anh T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hành chính phúc thẩm; được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng tại Biên lai thu tạm ứng án phí số 0008577 ngày 16/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương, thành phố Hải Phòng. Ông Vũ Anh T đã nộp đủ án phí hành chính phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Phương |
Bản án số 05/2024/HC-PT ngày 05/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính
- Số bản án: 05/2024/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Anh T - Trưởng CAH An Dương
