Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 05/2024/HC-PT

Ngày 09-01-2024

V/v khiếu kiện Quyết định hành chính trong lĩnh

vực xây dựng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồ Tâm Tú

Các Thẩm phán: Ông Ngô Đức Thọ

Bà Trần Thị Thúy Hồng

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khánh, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Nguyễn Văn Phượng – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 09 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 564/2023/TLPT-HC ngày 16 tháng 8 năm 2023 về “Khiếu kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực xây dựng”.

Do Bản án hành chính sơ thẩm số 506/2023/HC-ST ngày 14 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2545/2023/QĐ-PT ngày 06/10/2023, giữa các đương sự:

  1. Người khởi kiện: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1959;Địa chỉ: Số C khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)
  2. Người bị kiện:
    1. Chánh Thanh tra Sở Xây dựng Thành phố H;

      Người đại diện hợp pháp: Ông Huỳnh Lê Công T – Phó Chánh Thanh tra Sở Xây dựng là người đại diện theo ủy quyền (Theo văn bản ủy quyền ngày 23 tháng 12 năm 2022).

      Địa chỉ: Số F, đường T, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

    2. Giám đốc Sở Xây dựng Thành phố H;

      Địa chỉ: Số F, đường T, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

Người bị kiện vắng mặt, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Giám đốc Sở Xây dựng Thành phố H: Ông Phạm Hữu T1, phó Trưởng phòng Quản lý chất lượng công trình xây dựng. (Có mặt)

  1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Phương D, sinh năm 1964

    Địa chỉ: Số C khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)

  2. Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn Đ là người khởi kiện.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại các đơn khởi kiện ngày 09/01/2021, ngày 10/3/2021 và các lời khai tiếp theo; nội dung theo Bản án sơ thẩm. Người khởi kiện ông Nguyễn Văn Đ trình bày:

Ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị Phương D đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và đất ở số 2928 do Ủy ban nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 21/4/2004, tại địa chỉ số C, khu phố A, phường T, Quận A.

Ngày 27/3/2015, ông Nguyễn Văn Đ được Ủy ban nhân dân Quận A cấp giấy phép xây dựng số 1312/GPXD/UBND tại số C, khu phố A, phường T, Quận A, thửa đất số 482-1, tờ bản đồ số 1Q (sơ đồ nền), với tổng diện tích sàn xây dựng 181,3m², diện tích sàn xây dựng tầng trệt là 50,41m². Ông Nguyễn Văn Đ đã tiến hành xây dựng nhà theo đúng giấy phép xây dựng đã được cấp.

Ngày 22/11/2018, Thanh tra Sở Xây dựng Thành phố H ban hành Quyết định số 2335/QĐ-XPVPHC ngày 22/11/2018, xử phạt do có hành vi xây dựng sai nội dung giấy phép xây dựng số 1312/GPXD/UBND ngày 27/3/2015.

Ngày 22/3/2019, Thanh tra Sở Xây dựng Thành phố H ban hành Quyết định số 630/QĐ-CCXP ngày 22/3/2019 về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả.

Ngày 28/3/2020, Giám đốc Sở Xây dựng Thành phố H ban hành Quyết định số 787/QĐ-SXD-QLCLXD ngày 28/5/2020 về phê duyệt phương án phá dỡ công trình, bộ phận công trình vi phạm trật tự xây dựng tại số C, khu phố A, phường T, Quận A, thửa đất số 482-1, tờ bản đồ số 1Q (sơ đồ nền).

Ông Nguyễn Văn Đ cho rằng ông bị áp đặt là vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng, bị vu khống xây dựng nhà sai nội dung giấy phép xây dựng số 1312/GPXD/UBND ngày 27/3/2015. Ông Đ xác định không thực hiện hành vi vi phạm, không tiến hành xây dựng mới phần công trình bị xử phạt, công trình hiện hữu đã có trước khi xin giấy phép xây dựng số 1312/GPXD-UBND ngày 27/3/2015. Người bị kiện xử lý hành vi xây dựng sai nội dung Giấy phép xây dựng số 1312/GPXD-UBND ngày 27/3/2015, xây tăng mật độ xây dựng với tổng diện tích 29,07m² là không đúng quy định. Ngoài ra, nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính là một hành vi vi phạm không xử phạt 02 lần, hành vi vi phạm này người bị kiện đã xử phạt tại Quyết định số 1056/QĐ-UBND ngày 31/8/2015 và lại tiếp tục ban hành Quyết định số 2335/QĐ-XPVPHC ngày 22/11/2018. Về Quyết định số 630/QĐ-CCXP ngày 22/3/2019 của Chánh Thanh tra Sở Xây dựng Thành phố H về cưỡng chế công trình của ông Đ là ban hành sai thẩm quyền, vì chỉ có Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp quận mới có thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế trong lĩnh vực xây dựng. Về Quyết định số 787/QĐ-SXD-QLCLXD ngày 28/5/2020 của Giám đốc Sở Xây dựng Thành phố H đã cố tình thông tin sai sự thật, áp đặt, vu khống cho chủ đầu tư là vi phạm, là xây dựng sai nội dung giấy phép xây dựng số 1312/GPXD-UBND ngày 27/3/2015.

Tại đơn ngày 27/3/2023, ông Nguyễn Văn Đ vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, ý kiến trình bày tại Bản tự khai ngày 21/11/2022. Ông Nguyễn Văn Đ yêu cầu hủy các quyết định gồm:

  • Quyết định số 2335/QĐ-XPVPHC ngày 22/11/2018 của Chánh Thanh tra Sở Xây dựng Thành phố H;
  • Quyết định số 630/QĐ-CCXP ngày 22/3/2019 của Chánh Thanh tra Sở Xây dựng Thành phố H;
  • Quyết định số 787/QĐ-SXD-QLCLXD ngày 28/5/2020 của Giám đốc Sở Xây dựng Thành phố H;

Đồng thời yêu cầu bồi thường thiệt hại theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước số tiền là 6.659.313.704 đồng, bao gồm thiệt hại vật chất xây dựng là 3.409.313.704 đồng và thiệt hại chênh lệch số tiền kinh phí xây dựng nhà của chủ đầu tư đã bị thiệt hại theo giá thị trường là 3.250.000.000 đồng.

Người bị kiện Chánh Thanh tra Sở Xây dựng Thành phố H có ý kiến trình bày tại Văn bản số 8490/TT-Đ12 ngày 23/12/2022 như sau:

Công trình tại số C tổ I, Khu phố A, phường T, Quận A do ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị Phương D làm chủ đầu tư, được Ủy ban nhân dân Quận A cấp Giấy Chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 2928 ngày 21/4/ 2004 với quy mô: nhà ở 01 tầng, tường gạch, mái tôn, diện tích 94,1m²; diện tích đất ở là 132,1m².

Ngày 07/01/2014, Ủy ban nhân dân Quận A cấp Giấy phép xây dựng số 82/GPXD-UBND cho ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị Phương D được xây dựng nhà ở tại C tổ I, Khu phố A, phường T, Quận A với quy mô xây dựng: 02 tầng, diện tích xây dựng tầng trệt 24,33m²; mật độ xây dựng là 74,46% (bao gồm phần diện tích 24,33m² theo GPXD và phần diện tích hiện trạng cũ được thể hiện trên Giấy CNQSHNO&QSDĐƠ).

Ngày 27/3/2015, Ủy ban nhân dân Quận A tiếp tục cấp Giấy phép xây dựng số 1312/GPXD-UBND cho ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị Phương D được phép xây dựng nhà ở tại địa chỉ số C, Khu phố A, phường T, Quận A với quy mô xây dựng: 04 tầng, diện tích xây dựng tầng trệt 50,41m²; mật độ xây dựng là 71,87% (bao gồm phần diện tích 50,41m² theo GPXD số 1312/GPXD-UBND và phần diện tích 24,33m² theo GPXD số 82/GPXD-UBND, không bao phần diện tích hiện trạng cũ), hệ số sử dụng đất là 2,06 (kể cả công trình hiện hữu).

Trong quá trình triển khai thi công xây dựng công trình tại địa chỉ số C, Khu phố A, phường T, Quận A theo Giấy phép xây dựng số 1312/GPXD-UBND ngày 27/3/2015 của Ủy ban nhân dân Quận A, ông Nguyễn Văn Đ đã không tháo dỡ phần hiện trạng cũ để đảm bảo mật độ xây dựng là 71,87% theo đúng nội dung yêu cầu tại Giấy phép xây dựng số 1312/GPXD-UBND và bản vẽ đính kèm giấy phép.

Ngày 25/01/2016, Ủy ban nhân dân Quận A có Công văn số 837/UBND-ĐT về việc giải quyết khiếu nại của ông Nguyễn Văn Đ, tại phường Đ, Quận A. Theo đó, Ủy ban nhân dân Quận A có ý kiến: “nếu Chủ đầu tư không tháo dỡ phần hiện trạng cũ được thể hiện tại Họa đồ vị trí của bản vẽ duyệt kèm Giấy phép xây dựng số 1312/GPXD-UBND do Ủy ban nhân dân cấp ngày 27/3/2015, sẽ làm thay đổi các chỉ tiêu xây dựng theo giấy phép được cấp nêu trên (tăng mật độ xây dựng và hệ số sử dụng đất), là hành vi xây dựng sai phép”.

Ngày 03/8/2018, Thanh tra Sở Xây dựng có Công văn số 5129/TT-TCD&GQKNTC gửi cho ông Nguyễn Văn Đ về việc tháo dỡ phần hiện trạng cũ tại công trình số C đường Đ, khu phố A, phường T, Quận A có nội dung: “...Thanh tra Sở Xây dựng yêu cầu ông Nguyễn Văn Đ nghiêm túc tháo dỡ phần hiện trạng cũ, đảm bảo đúng mật độ xây dựng theo yêu cầu tại nội dung Giấy phép xây dựng số 1312/GPXD-UBND ngày 27/3/2015 do Ủy ban nhân dân Quận A cấp trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận Công văn này. Trường hợp ông Nguyễn Văn Đ không tự giác chấp hành, Thanh tra Sở Xây dựng sẽ lập hồ sơ xử lý vi phạm theo đúng quy định.”

Tuy nhiên, ông Nguyễn Văn Đ đã hoàn thiện công trình và đưa vào sử dụng nhưng không chấp hành tháo dỡ phần hiện trạng cũ để đảm bảo đúng mật độ xây dựng theo yêu cầu tại nội dung Giấy phép xây dựng số 1312/GPXD-UBND ngày 27/3/2015 và bản vẽ đính kèm giấy phép. Do đó ngày 29/10/2018, Đội Thanh tra địa bàn Quận A - Thanh tra Sở Xây dựng đã lập Biên bản vi phạm hành chính số 1567/BB-VPHC đối với ông Nguyễn Văn Đ do có hành vi Tổ chức thi công xây dựng công trình sai nội dung giấy phép xây số 1312/GPXD-UBND ngày 27/3/2015 của A cấp cho ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị Phương D.

Ngày 22/11/2018, Phó Chánh Thanh tra Sở Xây dựng ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 2335/QĐ-XPVPHC đối với ông Nguyễn Văn Đ do có hành vi tổ chức thi công xây dựng sai nội dung giấy phép xây dựng số 1312/GPXD-UBND ngày 27/3/2015 của Ủy ban nhân dân Quận A cấp đối với trường hợp cấp phép xây dựng mới với mức phạt tiền là 7.500.000 đồng (bảy triệu năm trăm ngàn đồng) và buộc tháo dỡ toàn bộ phần công trình vi phạm, với diện tích 29,07m², thời gian thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả là 10 (mười) ngày kể từ ngày nhận được quyết định.

Ngày 04/12/2018, Ủy ban nhân dân phường T, Quận A triển khai Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 2335/QĐ-XPVPHC ngày 22 tháng 11 năm 2018 của Phó Chánh Thanh tra Sở Xây dựng, bằng hình thức niêm yết công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân Phường và tại công trình vi phạm.

Ngày 18/12/2018, Đội Thanh tra địa bàn Quận A - Thanh tra Sở Xây dựng thuộc Thanh tra Sở Xây dựng có Biên bản làm việc số 4940/BBLV về việc kiểm tra việc thực hiện Quyết định của ông Nguyễn Văn Đ, tại công trình số C Khu phố A, phường T, Quận A, ghi nhận: Ông Nguyễn Văn Đ đã nhận được Quyết định nêu trên, ông Đ chưa nộp tiền phạt và chưa thực hiện tháo dỡ công trình vi phạm theo quyết định.

Ngày 22/03/2019, Phó Chánh Thanh tra Sở Xây dựng ban hành Quyết định số 630/QĐ-CCXP về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với ông Nguyễn Văn Đ, tại công trình vi phạm số C tổ I, Khu phố A, phường T, Quận A.

Ngày 29/03/2019, Đội Thanh tra địa bàn Quận A - Thanh tra Sở Xây dựng có Biên bản làm việc số 4921/BBLV về việc triển khai Quyết định số 630/QĐ-CCXP ngày 22 tháng 3 năm 2019 của Phó Chánh Thanh tra Sở Xây dựng đến với bà Nguyễn Thị Phương D (vợ ông Nguyễn Văn Đ) tại công trình số C Khu phố A, phường T, Quận A.

Ngày 18/4/2019, Đội Thanh tra địa bàn Q dựng tiến hành làm việc với ông Nguyễn Văn Đ và có Biên bản làm việc số 1012/BBLV đề nghị ông Đ chấp hành đầy đủ nội dung Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 2335/QĐ-XPVPHC ngày 22/11/2018 của Chánh Thanh tra Sở và cung cấp số tài khoản cá nhân của ông Nguyễn Văn Đ cho Đội Thanh tra địa bàn Quận A – Thanh tra Sở Xây dựng, ông Đ có ý kiến như sau: Không chấp hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 2335/QĐ-XPVPHC và Quyết định Cưỡng chế số 630/QĐ-CCXP, ông Đ cung cấp cho Đội Thanh tra địa bàn Quận A, tài khoản số 0071001104405 Chi nhánh V phường T, Quận A.

Ngày 26/02/2020, Ủy ban nhân dân phường T, Quận A ban hành Thông báo số 62/TB-UBND về việc tổ chức thi hành Quyết định Cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả của Thanh tra Sở Xây dựng.

Ngày 03/7/2020, Ủy ban nhân dân phường T có Báo cáo số 518/BC-UBND về công trình vi phạm xây dựng sai phép của ông Nguyễn Văn Đ, phường T, có ghi nhận nội dung: “Ủy ban nhân dân phường phối hợp Đội Thanh tra địa bàn Quận A, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc phường, Cấp ủy khu phố, Văn phòng K tổ chức vận động ông Nguyễn Văn Đ tự giác chấp hành Quyết định số 630/QĐ-CCXP ngày 22/3/2019 của Thanh tra Sở Xây dựng về cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả. Qua vận động ông Nguyễn Văn Đ tự giác chấp hành khắc phục tháo dỡ phần công trình vi phạm sai phép. Đến nay, qua kiểm tra ông Nguyễn Văn Đ đã chấp hành khắc phục tháo dỡ phần công trình vi phạm sai phép (kèm hình ảnh, Biên bản ngày 01/7/2020)".

Từ những cơ sở nêu trên và căn cứ Điều 3 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012, Nghị định số 121/2013/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ, Nghị định số 139/2017/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2017 của Chính phủ và hiện trạng thực tế công trình xây dựng tại thời điểm lập Biên bản, Thanh tra Sở Xây dựng nhận thấy đã đủ cơ sở pháp lý xác định công trình xây dựng tại địa chỉ số C, Khu phố A, phường T, Quận A do ông Nguyễn Văn Đ là chủ đầu tư xây dựng sai so với nội dung giấy phép xây dựng được Ủy ban nhân dân Quận A cấp. Do đó việc lập biên bản vi phạm hành chính của Đội Thanh tra địa bàn Quận A - Thanh tra Sở và việc ban hành các Quyết định xử lý vi phạm của Thanh tra Sở Xây dựng, đối với ông Nguyễn Văn Đ là theo đúng quy định của pháp luật. Do đó, đề nghị Tòa án nhân dân Thành phố xét xử, không chấp nhận toàn bộ nội dung đơn khởi kiện của ông Nguyễn Văn Đ.

Người bị kiện Giám đốc Sở Xây dựng Thành phố H có ý kiến trình bày tại Văn bản số 8490/TT-Đ12 ngày 23/12/2022 như sau:

Công trình tại số C tổ I, Khu phố A, phường T, Quận A do ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị Phương D làm chủ đầu tư, được Ủy ban nhân dân Quận A cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 2928 ngày 21 tháng 4 năm 2004 với quy mô: nhà ở 01 tầng, tường gạch, mái tôn, diện tích 94,1m²; diện tích đất ở là 132,1m².

Ngày 07/01/2014, Ủy ban nhân dân Quận A cấp Giấy phép xây dựng số 82/GPXD-UBND cho ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị Phương D được xây dựng nhà ở tại C tổ I, Khu phố A, phường T, Quận A với quy mô xây dựng: 02 tầng, diện tích xây dựng tầng trệt 24,33m²; mật độ xây dựng là 74,46% (bao gồm phần diện tích 24,33m² theo GPXD và phần diện tích hiện trạng cũ được thể hiện trên Giấy CNQSHNO&QSDĐ).

Ngày 27/3/2015, Ủy ban nhân dân Quận A tiếp tục cấp Giấy phép xây dựng số 1312/GPXD-UBND cho ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị Phương D được phép xây dựng nhà ở tại địa chỉ số C, Khu phố A, phường T, Quận A với quy mô xây dựng: 04 tầng, diện tích xây dựng tầng trệt 50,41m²; mật độ xây dựng là 71,87%, hệ số sử dụng đất là 2,06 (kể cả công trình hiện hữu).

Ngày 22/11/2018, Phó Chánh Thanh tra Sở Xây dựng ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 2335/QĐ-XPVPHC đối với ông Nguyễn Văn Đ do có hành vi tổ chức thi công xây dựng sai nội dung giấy phép xây dựng số 1312/GPXD-UBND ngày 27/3/2015 của Ủy ban nhân dân Quận A cấp đối với trường hợp cấp phép xây dựng mới với mức phạt tiền là 7.500.000 đồng (bảy triệu năm trăm ngàn đồng) và buộc tháo dỡ toàn bộ phần công trình, với diện tích vi phạm 29,07m², thời gian thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả là 10 (mười) ngày kể từ ngày nhận được quyết định.

Ngày 22/03/2019, Phó Chánh Thanh tra Sở Xây dựng ban hành Quyết định số 630/QĐ-CCXP về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với ông Nguyễn Văn Đ, tại công trình vi phạm số C tổ I, Khu phố A, phường T, Quận A.

Ngày 22/4/2020, Ủy ban nhân dân Quận A có Công văn 3003/UBND-ĐT về việc kiến nghị Sở Xây dựng thẩm định, phê duyệt phương án cưỡng chế tháo dỡ công trình, bộ phận công trình vi phạm trật tự xây dựng.

Ngày 28/5/2020, Giám đốc Sở Xây dựng có Quyết định số 787/QĐ-SXD-LCLXD phê duyệt phương án phá dỡ công trình, bộ phận công trình vi phạm trật tự xây dựng tại số C khu phố E, phường Đ cũ, nay thuộc khu phố A, phường T, Quận A, thửa đất số 482-1, tờ bản đồ 482-1, tờ bản đồ số 1Q (sơ đồ nền) do ông Nguyễn Văn Đ làm chủ đầu tư.

Qua xem xét, Sở Xây dựng nhận thấy việc ông Nguyễn Văn Đ tổ chức thi công xây dựng sai nội dung giấy phép xây dựng số 1312/GPXD-UBND ngày 27/3/2015 của Ủy ban nhân dân Quận A cấp, đã được Thanh tra Sở Xây dựng ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 2335/QĐ-XPVPHC ngày 22/11/2018 và Quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả số 630/QĐ-CCXP ngày 22/ 3/2019 đối với ông Nguyễn Văn Đ, theo đúng quy định.

Căn cứ Quyết định số 30/2019/QĐ-UBND ngày 02 tháng 12 năm 2019 của Ủy ban nhân dân Thành phố về việc ban hành quy chế phối hợp quản lý trật tự xây dựng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh và nội dung kiến nghị của Ủy ban nhân dân Quận A tại Công văn số 3003/UBND-ĐT ngày 22/4/2020 về việc thẩm định, phê duyệt phương án cưỡng chế tháo dỡ công trình, bộ phận công trình vi phạm trật tự xây dựng, Sở Xây dựng đã có Quyết định số 787/QĐ-SXD-QLCLXD ngày 28/5/2020 về việc phê duyệt phương án phá dỡ công trình, bộ phận công trình vi phạm trật tự xây dựng tại số C khu phố E, phường Đ cũ, nay thuộc khu phố A, phường T, Quận A, thửa đất số 482-1, tờ bản đồ 482-1, tờ bản đồ số 1Q (sơ đồ nền) do ông Nguyễn Văn Đ làm chủ đầu tư, là đúng trình tự, thủ tục quy định của pháp luật.

Do đó, Sở Xây dựng kiến nghị Tòa án nhân dân Thành phố xét xử, không chấp nhận toàn bộ nội dung khởi kiện của ông Nguyễn Văn Đ về việc yêu cầu hủy Quyết định số 787/QĐ-SXD-QLCLCT ngày 28/5/2020 của Giám đốc Sở Xây dựng và yêu cầu bồi thường thiệt hại theo Luật Trách nhiệm bồi thường nhà nước, liên quan đến công trình tại số C đường Đ, tổ I, Khu phố A, phường T, Quận A.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Phương D trình bày: Thống nhất với lời trình bày yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện ông Nguyễn Văn Đ.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 506/2023/HC-ST ngày 14/4/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đã căn cứ: Điều 3, Điều 30, Điều 32, Điều 116, Điều 158, Điều 193, Điều 194, Điều 206 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015; Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Luật Xây dựng năm 2014; Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017; Nghị định số 121/2013/NĐ-CP ngày 10/10/2013 của Chính phủ; Nghị định số 139/2017/NĐ-CP ngày 27/11/2017 của Chính phủ; Nghị định 166/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ; Căn cứ Nghị định 97/2017/NĐ-CP ngày 18/8/2017 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ; Thông tư số 03/2018/TT-BXD ngày 24/4/2018 của Bộ X; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Đ về việc yêu cầu hủy Quyết định số 2335/QĐ-KPHQ ngày 22/11/2018, Quyết định số 630/QĐ-CCXP ngày 22/3/2019 của Chánh Thanh tra Sở Xây dựng Thành phố H, Quyết định số 787/QĐ-SXD-QLCLCT ngày 28/5/2020 của Giám đốc Sở Xây dựng Thành phố H và yêu cầu bồi thường thiệt hại theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước số tiền là 6.659.313.704 đồng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn giải quyết các vấn đề liên quan đến án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ông Nguyễn Văn Đ có làm đơn kháng cáo toàn bộ bản án, nêu lý do: Bản án sơ thẩm xét xử không thỏa đáng, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông, đề nghị xét xử phúc thẩm lại theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • Người khởi kiện vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Đồng thời chưa yêu cầu người bị kiện bồi thường 20.296.910.214 đồng vì chưa có giám định của cơ quan có thẩm quyền.
  • Người khởi kiện trình bày tranh luận cho rằng cơ quan có thẩm quyền không giải thích rõ cho ông biết có được phép tồn tại công trình cũ hay không mà lại ra quyết định xử phạt là không đúng.
  • Thẩm quyền xử phạt của Thanh tra Sở Xây dựng là không đúng mà thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân các cấp.
  • Một hành vi nhưng xử phạt 02 lần, đã xử phạt rồi nay lại tiếp tục xử phạt là trái quy định của pháp luật.
  • Cấp sơ thẩm không xem xét trách nhiệm của Ủy ban nhân dân Quận A trong lĩnh vực xây dựng là thiếu sót.
  • Từ đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo của ông, sửa bản án sơ thẩm.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm cho rằng: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Những người tham gia phiên tòa cũng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo luật định.

Về nội dung: Xét thấy người khởi kiện kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ gì mới. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 241 của Luật Tố tụng hành chính không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục kháng cáo:

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 11 tháng 5 năm 2023 người khởi kiện ông Nguyễn Văn Đ làm Đơn kháng cáo đúng theo trình tự, thủ tục quy định tại các Điều 55, Điều 204, Điều 205, Điều 206, Điều 209 của Luật Tố tụng hành chính nên được xem xét, xét xử theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Căn cứ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Đ thì vụ án có quan hệ tranh chấp về: “Khiếu kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực xây dựng”.

Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng quan hệ tranh chấp và giải quyết đúng thẩm quyền được pháp luật quy định tại khoản 2 Điều 3; khoản 1 Điều 30; khoản 3 Điều 32; điểm a khoản 2 Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính.

[3] Về sự vắng mặt của đương sự tại phiên tòa phúc thẩm: Người bị kiện đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt họ.

[4] Về nội dung giải quyết yêu cầu kháng cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

[4.1] Các Quyết định số 2335/QĐ-KPHQ ngày 22/11/2018, Quyết định số 630/QĐ-CCXP ngày 22/3/2019 của Chánh Thanh tra Sở Xây dựng Thành phố H, Quyết định số 787/QĐ-SXD-QLCLCT ngày 28/5/2020 của Giám đốc Sở Xây dựng Thành phố H được ban hành theo đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định tại các Điều 46, Điều 58, Điều 66, Điều 59, Điều 67, Điều 86 và Điều 87 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Điểm a Khoản 4, điểm d khoản 11, Điều 15 Nghị định 139/2017/NĐ-CP ngày 27/11/2017 của Chính phủ; Điểm b khoản 4 Điều 6 Thông tư số 03/2018/TT-BXD ngày 24/4/2018 của Bộ X; Điểm b khoản 5 Điều 13 Nghị định số 121/2013/NĐ-CP ngày 10/10/2013; Nghị số 46/2015/NĐ-CP ngày 12/5/2015 của Chính phủ; Luật Xây dựng năm 2014.

[4.2] Về công trình xây dựng của người khởi kiện:

[4.2.1] Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 2928 ngày 21 tháng 4 năm 2004 được Ủy ban nhân dân Quận A cấp cho ông Đ và bà D thì công trình có quy mô là nhà ở 01 tầng, diện tích 94,1m², diện tích đất ở 132,1m².

Giấy phép xây dựng số 82 ngày 07 tháng 01 năm 2014 của Ủy ban nhân dân Quận A cấp cho ông Đ và bà D, công trình có quy mô xây dựng 02 tầng, diện tích tầng trệt 24,33m², mật độ xây dựng 74,46%.

Giấy phép xây dựng số 1312 ngày 27 tháng 3 năm 2015 của Ủy ban nhân dân Quận A cấp cho ông Đ và bà D công trình có quy mô xây dựng 04 tầng diện tích xây dựng tầng trệt 50,41m², mật độ xây dựng 71,87%, hệ số sử dụng đất là 2,06 (kể cả công trình hiện hữu).

[4.2.2] Như vậy, theo Giấy phép xây dựng số 1312/GPXD-UBND ngày 27 tháng 3 năm 2015 của Ủy ban nhân dân Quận A và bản vẽ đính kèm Giấy phép thì khi thi công xây dựng công trình trên, ông Đ phải tháo dỡ phần hiện trạng cũ để đảm bảo mật độ xây dựng là 71,87% theo đúng nội dung yêu cầu tại Giấy phép xây dựng số 1312 và bản vẽ đính kèm.

[4.3] Về nội dung Quyết định số 2335/QĐ-KPHQ ngày 22/11/2018:

[4.3.1] Theo Quyết định số 2335/QĐ-KPHQ ngày 22/11/2018 của Chánh Thanh tra Sở Xây dựng Thành phố H về xử phạt vi phạm hành chính và biện pháp khắc phục hậu quả đối với ông Nguyễn Văn Đ tại số C khu phố A, phường T, Quận A, thửa đất số 482-1, tờ bản đồ 482-1, tờ bản đồ số 1Q (sơ đồ nền) theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và đất ở số 2928 do Ủy ban nhân dân Quận A cấp ngày 21/4/2004 do ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị Phương D đứng tên sử dụng, có hành vi tổ chức thi công xây dựng công trình sai nội dung Giấy phép xây dựng số 1312/GPXD-UBND ngày 27/3/2015, với hình thức xử phạt chính là phạt tiền 7.500.000 đồng (bảy triệu năm trăm ngàn đồng) và biện pháp khắc phục hậu quả: buộc ông Đ tháo dỡ phần hiện trạng cũ với diện tích 29,07m² không đúng với Giấy phép xây dựng số 1312/GPXD-UBND ngày 27/3/2015 theo quy định tại điểm a Khoản 4, điểm d khoản 11, Điều 15 Nghị định 139/2017/NĐ-CP ngày 27/11/2017, điểm b khoản 4 Điều 6 Thông tư số 03/2018/TT-BXD ngày 24/4/2018 và điểm b khoản 5 Điều 13 Nghị định số 121/2013/NĐ-CP ngày 10/10/2013.

Xét Biên bản vi phạm hành chính về trật tự xây dựng số 0001567/BB-VPHC ngày 29/10/2018 của Thanh tra Sở xây dựng lập đối với ông Nguyễn Văn Đ, Biên bản Xác minh tình tiết của vụ việc vi phạm hành chính số 000217/BB-XM ngày 30/10/2018, cho thấy ông Nguyễn Văn Đ có hành vi tổ chức thi công xây dựng công trình sai nội dung giấy phép xây dựng số 1312/GPXD-UBND ngày 27/3/2015, cụ thể không tháo dỡ phần hiện trạng cũ có diện tích là 29,07m² để đảm bảo mật độ xây dựng theo bản vẽ kèm theo giấy phép xây dựng số 1312/GPXD-UBND ngày 27/3/2015. Người khởi kiện cho rằng không thực hiện hành vi vi phạm, không tiến hành xây dựng mới phần công trình bị xử phạt, công trình hiện hữu này đã có trước khi xin Giấy phép xây dựng số 1312/GPXD-UBND ngày 27/3/20 nên người khởi kiện một không đồng ý tháo dỡ phần hiện trạng cũ diện tích là 29,07m² và đưa vào sử dụng từ ngày 09/11/2017. Hội đồng xét xử nhận thấy tại Họa đồ vị trí của hệ số Bản vẽ xin cấp phép xây dựng nhà ở duyệt kèm Giấy phép xây dựng số lê 1312/GPXD-UBND ngày 27/3/2015 của Công ty cổ phần Đ2 ngày 05/3/2015, cho thấy hiện trạng trống không có công trình xây dựng trên đất, mật độ xây dựng 71,87% hệ số sử dụng 2,06 kể cả công trình hiện hữu do đó việc người khởi kiện không đồng ý tháo dỡ và giữ nguyên phần hiện trạng cũ là sai nội dung Giấy phép xây dựng số 1312/GPXD-UBND ngày 27/3/2015.

[4.3.2] Đối với ý kiến của người khởi kiện cho rằng nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính quy định một hành vi vi phạm không xử phạt 02 lần, hành vi vi phạm này đã bị Chánh Thanh tra Sở Xây dựng Thành phố H xử phạt tại Quyết định số 1056/QĐ-XPVPHC ngày 31/8/2015, người bị kiện đã vi phạm nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính.

Hội đồng xét xử nhận thấy tại Quyết định số 120/QĐ-TT ngày 05/8/2016 của Chánh Thanh Sở Xây dựng Thành phố H về việc thu hồi, hủy bỏ Quyết định số 1056/QĐ-XPVPHC ngày 31/8/2015, Quyết định số 1417/QĐ-ĐC ngày 17/11/2015 và Quyết định số 01/QĐ-TT ngày 05/8/2016 của Chánh Thanh tra Sở Xây dựng Thành phố H. Như vậy, Quyết định số 1056/QĐ-XPVPHC ngày 31/8/2015 đã bị Chánh Thanh tra Sở Xây dựng Thành phố H thu hồi, hủy bỏ bởi Quyết định số 120/QĐ-TT ngày 05/8/2016 của Chánh Thanh tra Sở Xây dựng Thành phố H và việc Chánh Thanh tra Sở Xây dựng Thành phố H ban hành Quyết định số 120/QĐ-TT ngày 05/8/2016 thu hồi Quyết định số 1056/QĐ-XPVPHC ngày 31/8/2015 và các quyết định nêu trên là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 18 của Luật Xử lý vi phạm hành chính, việc ban hành Quyết định số 2335/QĐ-KPHQ ngày 22/11/2018 là phù hợp với khoản 9 Điều 1 Nghị định số 97/2017/NĐ-CP ngày 18/8/2017 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 81/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính, do đó ý kiến của người khởi kiện là không có cơ sở.

[4.3.3] Từ những căn cứ trên cho thấy ông Nguyễn Văn Đ đã có hành vi tổ chức thi công xây dựng nhà ở riêng lẻ sai nội dung giấy phép xây dựng số 1312/GPXD-UBND ngày 27/3/2015 là hành vi trái pháp luật. Chánh Thanh tra Sở Xây dựng Thành phố H xử lý hành chính theo quy định đổi với hành vi tổ chức thi công xây dựng công trình sai nội dung giấy phép xây dựng của ông Đ là có căn cứ pháp luật.

[4.3.4] Về nội dung Quyết định số 630/QĐ-CCXP ngày 22/3/2019 về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả và Quyết định số 787/QĐ-SXD-QLCLXD về việc phê duyệt phương án phá dỡ công trình, bộ phận công trình vi phạm trật tự xây dựng:

Sau khi hết thời hạn thi hành quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả nhưng ông Đ không chấp hành nên theo quy định tại Điều 86, Điều 73 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Chánh Thanh tra Sở Xây dựng Thành phố H tiếp tục ban hành Quyết định số 630/QĐ-CCXP ngày 22/3/2019 về việc cưỡng chế thi hành quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là phù hợp. Đồng thời, theo quy định tại khoản 4 Điều 4 Thông tư số 03/2018/TT-BXD ngày 24/4/2018 của Bộ X, Giám đốc Sở Xây dựng Thành phố H ban hành Quyết định số 787/QĐ-SXD-QLCLCT ngày 28/5/2020 về việc phê duyệt phương án phá dỡ công trình, bộ phận công trình vi phạm trật tự xây dựng của ông Nguyên Văn Đ là đúng quy định pháp luật.

Tại Báo cáo số 518/BC-UBND ngày 03/7/2020 của Ủy ban nhân dân phường T và Biên bản ngày 01/7/2020. Hội đồng xét xử nhận thấy công trình xây dựng sai nội dung giấy phép xây dựng cụ thể là phần hiện trạng cũ diện tích là 29,07m² tại địa chỉ số tại số C khu phố A, phường T, Quận A, thửa đất số 482-1, tờ bản đồ 482-1, tờ bản đồ số 1Q (sơ đồ nền) do ông Nguyễn Văn Đ làm chủ đầu tư đã được thực hiện tháo dỡ nên Quyết định số 630/QĐ-CCXP ngày 22/3/2019 và Quyết định số 787/QĐ-SXD-QLCLXD ngày 28/5/2020 chưa thi hành.

[5] Từ những phân tích trên, Chánh Thanh tra Sở Xây dựng Thành phố H ban hành Quyết định số 2335/QĐ-KPHQ ngày 22/11/2018 và Quyết định số 630/QĐ-CCXP ngày 22/3/2019, Giám đốc Sở Xây dựng Thành phố H ban hành Quyết định số 787/QĐ-SXD-QLCLCT ngày 28/5/2020 là có căn cứ, đúng pháp luật. Ông Nguyễn Văn Đ yêu cầu Tòa án tuyên hủy Quyết định số 2335/QĐ-KPHQ ngày 22/11/2018, Quyết định số 630/QĐ-CCXP ngày 22/3/2019 của Chánh Thanh tra Sở Xây dựng Thành phố H và Quyết định số 787/QĐ-SXD-QLCLCT ngày 28/5/2020 của Giám đốc Sở Xây dựng Thành phố H là không có cơ sở.

[6] Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước số tiền là 6.659.313.704 đồng.

Như đã phân tích ở các mục [4], [5] Chánh Thanh tra Sở Xây dựng Thành phố H, Giám đốc Sở Xây dựng Thành phố H ban hành các quyết định xử phạt là đúng với quy định pháp luật nên không phải chịu trách nhiệm dân sự. Do đó, yêu cầu bồi thường thiệt hại theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước số tiền là 6.659.313.704 đồng của ông Đ là không có căn cứ chấp nhận.

[7] Từ những phân tích trên thấy rằng, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đ là có căn cứ. Tại cấp phúc thẩm, người khởi kiện kháng cáo nhưng cũng không cung cấp được tài liệu chứng cứ gì mới để chứng minh cho yêu cầu của mình, nên không có cơ sở chấp nhận. Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[8] Về án phí hành chính phúc thẩm: Do không chấp nhận kháng cáo nên ông Đ phải chịu án phí theo luật định. Ông Đ là người cao tuổi nên được miễn án phí hành chính phúc thẩm theo luật định.

[9] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật thi hành.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 241 của Luật Tố tụng hành chính.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn Đ.

Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 506/2023/HC-ST ngày 14/4/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Căn cứ các Điều 3, Điều 30, Điều 32, Điều 116, Điều 158, Điều 193, Điều 194, Điều 206 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015; Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Luật Xây dựng năm 2014; Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017; Nghị định số 121/2013/NĐ-CP ngày 10/10/2013, Nghị định số 139/2017/NĐ-CP ngày 27/11/2017, Nghị định 166/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013, Nghị định 97/2017/NĐ-CP ngày 18/8/2017 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ; Thông tư số 03/2018/TT-BXD ngày 24/4/2018 của Bộ X; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Đ về việc yêu cầu hủy Quyết định số 2335/QĐ-KPHQ ngày 22/11/2018, Quyết định số 630/QĐ-CCXP ngày 22/3/2019 của Chánh Thanh tra Sở Xây dựng Thành phố H, Quyết định số 787/QĐ-SXD-QLCLCT ngày 28/5/2020 của Giám đốc Sở Xây dựng Thành phố H và yêu cầu bồi thường thiệt hại theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước số tiền là 6.659.313.704 đồng.
  2. Về án phí hành chính phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn Đ được miễn án phí hành chính phúc thẩm.
  3. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật thi hành.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - TAND TP.HCM;
  • - Cục THADS TP.HCM;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu VP; HSVA; NVK.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hồ Tâm Tú

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2024/HC-PT ngày 09/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực xây dựng

  • Số bản án: 05/2024/HC-PT
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực xây dựng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 09/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo, giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger