|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN HÒA TỈNH PHÚ YÊN --- |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc --- |
|
Bản án số: 05/2024/DSST Ngày: 10-5-2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Nam Trung.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Nam và ông Nguyễn Thái Bình.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Trang, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Nga, Kiểm sát viên.
Ngày 10/5/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 125/2023/TLST-DS ngày 11/12/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2024/QĐXXST-DS ngày 09/4/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng N (NN&PTNT) Việt Nam (Sau đây gọi tắt là Ngân hàng). Địa chỉ: B L, Quận B, Hà Nội. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đinh Xuân T - Chức vụ: Phó Giám đốc Ngân hàng N1 – Chi nhánh huyện S, tỉnh Phú Yên; Địa chỉ: C N, thị trấn C, huyện S, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
- Bị đơn: Ông Võ Duy B, sinh năm 1981; bà Phạm Thị Hồng Y, sinh năm 1983. Địa chỉ: Thôn N, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và quá trình tố tụng nguyên đơn trình bày:
Vào năm 2021 và năm 2022, Ngân hàng N1 và ông Võ Duy B, bà Phạm Thị Hồng Y có ký kết 03 Hợp đồng tín dụng (HĐTD), cụ thể như sau:
- HĐTD số 4605LAV202102526 ký ngày 27/9/2021: Số tiền vay: 800.000.000 đồng (T1 trăm triệu đồng); Thời hạn vay: 36 tháng; lãi suất trong hạn: 10%/năm. Lãi suất quá hạn 15.00%/năm; Mục đích vay vốn: Mua bò; Dư nợ: 800.000.000 đồng. Nợ lãi tính đến ngày 10/05/2024: 168.939.041 đồng.
- HĐTD số 4605LAV202200282 ký ngày 26/01/2022: Số tiền vay: 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng); Thời hạn vay: 12 tháng; lãi suất trong hạn: 9%/năm. Lãi suất quá hạn 13.50%/năm; Mục đích vay vốn: Mua bò. Dư nợ: 100.000.000 đồng. Nợ lãi tính đến ngày 10/05/2024: 21.883.563 đồng
- HĐTD số 4605LAV202200388 ký ngày 18/02/2022; Số tiền vay: 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng); Thời hạn vay: 36 tháng; lãi suất trong hạn: 9.5 %/năm. Lãi suất quá hạn 14.25%/năm; Mục đích vay vốn: Mua bò; Dư nợ: 500.000.000 đồng. Nợ lãi tính đến ngày 10/05/2024: 96.834.940 đồng.
Để đảm bảo cho các khoản vay nói trên, Ngân hàng N1 có ký kết 02 Hợp đồng thế chấp tài sản với ông Võ Duy B, bà Phạm Thị Hồng Y, cụ thể như sau:
- Hợp đồng thế chấp tài sản số 4605LCL202105239 ngày 23/09/2021, tài sản thế chấp: Quyền sử dụng đất và tài sản trên đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số G672376 do Ủy ban nhân dân huyện S cấp ngày 19/10/2000.
- Hợp đồng thế chấp tài sản số 4605LCL202200199 ngày 18/02/2022, tài sản thế chấp: Quyền sử dụng đất và tài sản trên đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số G672175 do Ủy ban nhân dân huyện S cấp ngày 19/10/2000.
Hiện tại khoản vay nói trên đã quá hạn mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc. Tính đến ngày 10/05/2024 tổng số nợ khoản vay nói trên: 1.687.657.544 đồng Trong đó: Nợ gốc : 1.400.000.000 đồng; Nợ lãi: 287.657.544 đồng.
Nay Ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc ông Võ Duy B, bà Phạm Thị Hồng Y trả 1.687.657.544 đồng (Một tỷ sáu trăm tám mươi bảy triệu sáu trăm năm mươi bảy ngàn năm trăm bốn mươi bốn đồng) (Trong đó: Nợ gốc : 1.400.000.000 đồng; Nợ lãi: 287.657.544 đồng) và tiền lãi phát sinh theo các Hợp đồng tín dụng số 4605LAV202102526 ký ngày 27/9/2021, số 4605LAV202200282 ký ngày 26/01/2022 và số 4605LAV 202200388 ký ngày 18/02/2022 cho đến ngày trả dứt điểm số nợ vay.
Trường hợp không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, thì ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự phát mãi tài sản bảo đảm để thu hồi nợ theo 02 hợp đồng thế chấp số 4605LCL202105239 ký ngày 23/9/2021 và số 4605LCL202200199 ký ngày 18/02/2022.
Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập, niêm yết các văn bản tố tụng, đăng tải thông tin trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định nhưng bị đơn ông Võ Duy B, bà Phạm Thị Hồng Y vẫn vắng mặt nên không lấy được lời khai, không có văn bản thể hiện ý kiến của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng và cũng không đưa các chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ mà vẫn vắng mặt.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Hòa phát biểu ý kiến tại phiên tòa:
- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình thụ lý, giải quyết, xét xử vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo quy định pháp luật tố tụng; Việc cấp, tống đạt các văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát cùng cấp và người tham gia tố tụng đúng theo quy định.
- Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về án phí: Buộc bị đơn chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền, thời hiệu giải quyết vụ án:
- Về quan hệ tranh chấp: Xét nội dung khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án dân sự “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
- Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn cư trú tại thôn N, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Sơn Hòa theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 36 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về thời hiệu khởi kiện: Thời hiệu khởi kiện vụ án vẫn còn theo quy định tại các Điều 184 và 185 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 429 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
[2] Về sự vắng mặt của bị đơn: Xét thấy, bị đơn ông Võ Duy B, bà Phạm Thị Hồng Y đã được Tòa án triệu tập hợp lệ mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan và không có yêu cầu phản tố. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Việc giao kết các Hợp đồng tín dụng số Hợp đồng tín dụng số 4605LAV202102526 ký ngày 27/9/2021, số 4605LAV202200282 ký ngày 26/01/2022 và số 4605LAV 202200388 ký ngày 18/02/2022 giữa nguyên đơn Ngân hàng với bị đơn ông B, bà Y cùng với 02 hợp đồng thế chấp số 4605LCL202105239 ký ngày 23/9/2021 và số 4605LCL202200199 ký ngày 18/02/2022 là do các bên tự thỏa thuận và hoàn toàn tự nguyện, đúng với các quy định của Bộ luật dân sự; Luật các Tổ chức tín dụng và các quy chế, quy định của Ngân hàng N2 và nguyên đơn Ngân hàng. Bị đơn B, Y đã nhận đủ số tiền vay tuy nhiên từ sau khi vay vốn cho đến nay bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng; mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc, nhắc nợ và tạo điều kiện cho bị đơn trả nợ là đã vi phạm sự thỏa thuận giữa các bên, vi phạm khoản 2 Điều 9, khoản 2 Điều 7 của Hợp đồng tín dụng các bên đã ký kết.
Căn cứ Điều 10 của Hợp đồng tín dụng số 4605LAV202102526 ký ngày 27/9/2021, số 4605LAV202200282 ký ngày 26/01/2022 và số 4605LAV 202200388 ký ngày 18/02/2022, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng và Điều 463 của Bộ luật dân sự nên Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
[4] Về yêu cầu xử lý tài sản thế chấp: Ngày 16/8/2023, Tòa án nhân dân huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp để đảm bảo khoản vay của bị đơn ông B, bà Y. Đối với tài sản thế chấp là các quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo 02 hợp đồng thế chấp số 4605LCL202105239 ký ngày 23/9/2021 và số 4605LCL202200199 ký ngày 18/02/2022 vẫn giữ nguyên hiện trạng như thời điểm thế chấp tại Ngân hàng, không cơi nới, tôn tạo, thêm mới và cũng không chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê cho người khác.
Căn cứ Điều 8 của 03 Hợp đồng tín dụng số 4605LAV202102526 ký ngày 27/9/2021, số 4605LAV202200282 ký ngày 26/01/2022 và số 4605LAV 202200388 ký ngày 18/02/2022 và Điều 6 của 02 hợp đồng thế chấp số 4605LCL202105239 ký ngày 23/9/2021 và số 4605LCL202200199 ký ngày 18/02/2022, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng về việc đề nghị được xử lý tài sản thế chấp để bảo đảm cho khoản vay theo các Hợp đồng tín dụng các bên đã giao kết, trong trường hợp bị đơn B, Y không thanh toán được khoản nợ. Phạm vi bảo đảm là toàn bộ nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn và phạt chậm trả của khoản vay này cho Ngân hàng.
[5] Về án phí, chi phí tố tụng:
[5.1] Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí sơ thẩm, nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp. Bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm đối với vụ án về tranh chấp dân sự có giá ngạch.
[5.2] Về chi phí tố tụng:
- Về chi phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng: Ngân hàng N1 đã nộp 3.888.000 đồng về khoản thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú. Xét Ngân hàng yêu cầu thông báo nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 180 của Bộ luật Tố tụng dân sự, buộc Ngân hàng phải chịu 3.888.000 đồng (Ba triệu tám trăm tám mươi tám ngàn đồng).
- Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Nguyên đơn đã nộp 3.612.000 đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ. Vì yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự buộc bị đơn B, Y phải chịu chi phí tố tụng trên. Bị đơn B, Y có nghĩa vụ hoàn trả số tiền 3.612.000 đồng (Ba triệu sáu trăm mười hai ngàn đồng).
[6] Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 180, Điều 184, Điều 185 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 463 của Bộ luật dân sự;
Căn cứ Điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng;
Căn cứ Điều 7, Điều 8, Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao “Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm”
Căn cứ khoản 3 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N1.
2. Buộc bị đơn ông Võ Duy B, bà Phạm Thị Hồng Y trả 1.687.657.544 đồng (Một tỷ sáu trăm tám mươi bảy triệu sáu trăm năm mươi bảy ngàn năm trăm bốn mươi bốn đồng) (Trong đó: Nợ gốc : 1.400.000.000 đồng; Nợ lãi tính đến ngày xét xử 10/5/2024: 287.657.544 đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 11/5/2024), bị đơn ông Võ Duy B, bà Phạm Thị Hồng Y còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền gốc chưa thanh toán theo các Hợp đồng tín dụng số 4605LAV202102526 ký ngày 27/9/2021, số 4605LAV202200282 ký ngày 26/01/2022 và số 4605LAV 202200388 ký ngày 18/02/2022 cho đến ngày trả dứt điểm số nợ vay.
Trường hợp bị đơn B, Y không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ tại các Hợp đồng tín dụng số 4605LAV202102526 ký ngày 27/9/2021, số 4605LAV202200282 ký ngày 26/01/2022 và số 4605LAV 202200388 ký ngày 18/02/2022, Ngân hàng N1 có quyền xử lý tài sản bảo đảm theo các thỏa thuận tại các hợp đồng thế chấp số 4605LCL202105239 ký ngày 23/9/2021 và số 4605LCL202200199 ký ngày 18/02/2022 hoặc yêu cầu Cơ quan Thi hành án xử lý tài sản bảo đảm của khoản vay như nêu trên để thu hồi nợ cho Ngân hàng. Trường hợp số tiền thu hồi từ việc xử lý tài sản đảm bảo vẫn không đủ trả nợ cho Ngân hàng thì bị đơn B, Y phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay.
3. Về án phí: Buộc ông Võ Duy B, bà Phạm Thị Hồng Y phải chịu 62.630.000 đồng (Sáu mươi hai triệu sáu trăm ba mươi ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho nguyên đơn Ngân hàng N1 29.826.000 đồng (Hai mươi chín triệu tám trăm hai mươi sáu ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008954 ngày 11/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên.
4. Về chi phí tố tụng:
- Về chi phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng: Ngân hàng N1 phải chịu 3.888.000 đồng (Ba triệu tám trăm tám mươi tám ngàn đồng), đã thi hành xong.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Buộc bị đơn Võ Duy B, Phạm Thị Hồng Y hoàn trả cho Ngân hàng N1 3.612.000 đồng (Ba triệu sáu trăm mười hai ngàn đồng).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN Trần Nam Trung |
Bản án số 05/2024/DSST ngày 10/05/2024 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 05/2024/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" Ngân hàng N - Bảo, yến
