TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LÁT TỈNH THANH HOÁ Bản án số: 05/2023/HS-ST Ngày 11/01/2023. | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LÁT, TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Dũng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Gia Văn Tính và Bà Phan Thị Mấy.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Viết Mạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát tham gia phiên tòa:
Ông Hà Văn Cảnh - Kiểm sát viên.
Ngày 11/01/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hoá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 72/2022/TLST-HS ngày 22/12/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2022/QĐXXST-HS ngày 28/12/2022, đối với bị cáo:
Họ và tên: Sùng A S, sinh năm 1976. Tên gọi khác: Không.
Nơi sinh: Xã Chiềng Ân, huyện Mường La, tỉnh Sơn La;
Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: Bản Pá Búa, xã Trung Lý, huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa. Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: Không biết chữ;
Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Sùng A C (đã mất), Con bà: Cứ Thị M, sinh năm: 1954; Vợ: Giàng Thị N, sinh năm: 1982, bị cáo có 04 người con, lớn nhất sinh năm: 1998, nhỏ nhất sinh năm 2008. Hiện vợ, con của bị cáo đều đang sinh sống tại: Bản Pá Búa, xã Trung Lý, huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa.
Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 20/9/2022 chuyển tạm giam ngày 29/9/2022 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Hà Văn K – Trợ giúp viên pháp lý – Chi nhánh số 1 – thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 20/9/2022, Tổ công tác Công an huyện Mường Lát phối hợp phòng PC04 Công an tỉnh Thanh Hóa, Đồn biên phòng Trung Lý và Công an xã Trung Lý tiến hành tuần tra, kiểm soát tại khu vực xã Trung Lý, huyện Mường Lát. Khi đến bản Pá Búa, xã Trung Lý, Tổ công tác phát hiện tại nhà ở của Sùng A S, sinh năm: 1976 (là người nghiện ma túy) có biểu hiện nghi vấn về tội phạm ma túy, nên vào kiểm tra, khi bước vào nhà thì thấy Sùng A S đứng ở đầu giường và trên tay vừa mới thả một gói nilon màu xanh xuống nền nhà, Tổ công tác yêu cầu bị cáo nhặt lên, mở ra để kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện bên trong có 03 (ba) viên nén hình trụ tròn, màu hồng. Sùng A S khai đó là ma túy tổng hợp, mua về để sử dụng cho bản thân. Sau đó, Tổ công tác đã tuyên bố bắt người phạm tội quả tang đối với Sùng A S.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận như sau: Sáng ngày 20/9/2022, bị cáo mua 100.000 VNĐ (Một trăm nghìn đồng) với người phụ nữ tên là Thào Thị S, trú ở cùng bản với S được 03 viên hồng phiến mục đích để sử dụng cho bản thân. Đến buổi tối cùng ngày, khi bị cáo đang mang số ma túy ra chuẩn bị sử dụng thì bị bắt quả tang, thu giữ toàn bộ ma túy.
Tại bản kết luận giám định số: 3306/KL- KTHS ngày 26/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: 03 (Ba) viên nén màu hồng hình tròn của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng là 0,277g (không phẩy hai bảy bảy gam) loại: Methamphetamine.
Quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Bản cáo trạng số: 05/CT-VKS-ML ngày 22/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo xác nhận trong quá trình điều tra, truy tố không bị Cơ quan tiến hành tố tụng sử dụng biện pháp ép cung, bức cung hay nhục hình, không ai xúi giục hay ép buộc nhận tội thay người khác. Bị cáo khai, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy trái phép là vi phạm pháp luật và bị Nhà Nước nghiêm cấm nhưng do là người nghiện ma túy, nên không kìm chế được bản thân và đã cố tình phạm tội. Bị cáo công nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã nêu là đúng, không khai báo thêm tình tiết mới.
Tranh luận và luận tội: Tại phiên tòa. Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Sùng A S theo toàn bộ nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: Điều 38; điểm s khoản 1, Điều 51; Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Về tội danh: Tuyên bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Sùng A S từ 15 đến 18 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ;
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, vì bị cáo làm nghề trồng trọt, thu nhập không ổn định, lại là hộ nghèo, nên không có tính khả thi.
Về Án phí: Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Tuyên, miễn án hình sự sơ thẩm cho bị cáo vì bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, thuộc diện hộ nghèo.
Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định là chất Nhà nước Việt Nam cấm lưu hành, là vật chứng vụ án.
Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo: Người bào chữa đồng tình với quan điểm truy tố của VKS về tội danh, điều luật áp dụng và khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ TNHS mà đại diện VKS đã đề nghị đối với bị cáo. Người bào chữa cho rằng: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là người dân tộc thiểu số lại sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình là hộ nghèo, nên đề nghị HĐXX mức án từ 13-15 tháng tù là phù hợp, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện cho bị cáo sửa chữa lỗi lầm. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo và miễn án phí hình sự cho bị cáo, vì bị cáo làm nghề trộng trọt thu nhập không ổn định thuộc diện hộ nghèo của xã Trung Lý.
Bị cáo nhận tội, đồng tình với lời bào chữa của người bào chữa cho bị cáo, bị cáo không bổ sung thêm gì làm thay đổi nội dung vụ án, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện VKS.
Lời nói sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét mức án thấp nhất để bị cáo sớm được về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Xét hành vi, quyết định tố tụng: Trong giai đoạn tiến hành tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mường Lát, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Chứng cứ xác định có tội, không có tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Điều tra, lời khai của người chứng kiến, kết luận giám định, thời gian, không gian, địa điểm và chứng cứ khác trong hồ sơ, đủ cơ sở khẳng định: Bị cáo tàng trữ ma túy là Methamphetamine có tổng khối lượng là 0,277g (Không phẩy hai bảy bảy gam) với mục đích sử dụng cho bản thân, không nhằm mục đích nào khác, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, khối lượng ma túy thu giữ đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, vì bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo biết ma túy là chất gây nghiện, bị pháp luật nghiêm cấm, khi sử dụng sẽ phải phụ thuộc hoàn toàn vào ma túy, ma túy còn hủy hoại thể chất, tinh thần và đồng thời cũng là tác nhân phát sinh các tội phạm khác, nhưng bị cáo vẫn cố ý tàng trữ với mục đích sử dụng, hành vi của bị cáo là lỗi cố ý trực tiếp, đã xâm phạm đến sự quản lý độc quyền về quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an trên địa bàn.
[4]. Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình, thái độ ăn năn hối cải, nên HĐXX cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 BLHS để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật và để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Với tình tiết, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo thì HĐXX sẽ xem xét, xử bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, để răn đe, phòng ngừa chung.
[5]. Xét về hình phạt:
Hình phạt chính: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy rằng: Cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất mức độ, hành vi của bị cáo gây ra, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, phòng ngừa, đồng thời để bị cáo có thời gian cai nghiện chất ma túy; Thấy rằng đề nghị về hình phạt của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với hành vi phạm tội, khối lượng chất ma túy thu giữ, đủ sức răn đe, phòng ngừa chung.
Hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, cho thấy bị cáo làm nghề trồng trọt thu nhập không ổn định, gia đình bị cáo là hộ nghèo. Nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6]. Xét về vật chứng trong vụ án: Số ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định là chất nhà nước cấm lưu hành, là vật chứng vụ án, cần tịch thu, tiêu hủy.
Tang vật của vụ án liên quan đang được bảo quản tại kho tang vật Chi cục THADS huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa.
[7]. Xét về án phí: Bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc diện hộ nghèo và đã có đơn xin miễn án phí, nên HĐXX miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
[8]. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Bị cáo có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
[9]. Các nhận định khác: Đối với người phụ nữ tên Thào Thị S, sinh năm: 1975, trú tại bản Pá Búa, xã Trung Lý, huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa. Qua xác minh, hiện nay Thào Thị S không có mặt tại địa phương, hiện Cơ quan Công an huyện Mường Lát đang tiếp tục xác minh, làm rõ. Khi nào bắt được và nếu đủ căn cứ thì sẽ xử lý trong một vụ án khác.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Sùng A S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Sùng A S 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (20/9/2022).
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: Phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành sau giám định ghi vụ Sùng A S được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên của Lê Minh T, Phạm Văn H và các hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự làm giáp lai.
Vật chứng kể trên đang lưu giữ, bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa. Theo Biên bản giao nhận vật chứng số: 26/2023/TV-CCTHADS ngày 22/12/2022 giữa Công an huyện Mường Lát và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa
Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên miễn tiền án phí HSST cho bị cáo Sùng A S.
Quyền kháng cáo, kháng nghị: Căn cứ Điều 331, Điều 333, Điều 336, Điều 337 Bộ luật tố tụng hình sự.
Án xử công khai, có mặt bị cáo và người bào chữa; Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận :
| T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tiến Dũng |
Bản án số 05/2023/HS-ST ngày 11/01/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LÁT, TỈNH THANH HOÁ về hình sự
- Số bản án: 05/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/01/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LÁT, TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 20/9/2022, Tổ công tác Công an huyện Mường Lát phối hợp phòng PC04 Công an tỉnh Thanh Hóa, Đồn biên phòng Trung Lý và Công an xã Trung Lý tiến hành tuần tra, kiểm soát tại khu vực xã Trung Lý, huyện Mường Lát. Khi đến bản Pá Búa, xã Trung Lý, Tổ công tác phát hiện tại nhà ở của Sùng A S, sinh năm: 1976 (là người nghiện ma túy) có biểu hiện nghi vấn về tội phạm ma túy, nên vào kiểm tra, khi bước vào nhà thì thấy Sùng A S đứng ở đầu giường và trên tay vừa mới thả một gói nilon màu xanh xuống nền nhà, Tổ công tác yêu cầu bị cáo nhặt lên, mở ra để kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện bên trong có 03 (ba) viên nén hình trụ tròn, màu hồng. Sùng A S khai đó là ma túy tổng hợp, mua về để sử dụng cho bản thân. Sau đó, Tổ công tác đã tuyên bố bắt người phạm tội quả tang đối với Sùng A S. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận như sau: Sáng ngày 20/9/2022, bị cáo mua 100.000 VNĐ (Một trăm nghìn đồng) với người phụ nữ tên là Thào Thị S, trú ở cùng bản với S được 03 viên hồng phiến mục đích để sử dụng cho bản thân. Đến buổi tối cùng ngày, khi bị cáo đang mang số ma túy ra chuẩn bị sử dụng thì bị bắt quả tang, thu giữ toàn bộ ma túy.
