|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA TỈNH SƠN LA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 05/2023/HNGĐ – ST Ngày 21/12/2023 V/v: Tranh chấp xin ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Lê Lương Anh
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Lò Thị Quỳnh .
- Bà Bồ Thị Thái.
Thư ký phiên tòa: bà Lường Khánh Ly – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Bằng Phi – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 12 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 17/2023/TLST – HNGĐ, ngày 11 tháng 10 năm 2023 về việc Tranh chấp xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2023/QĐXXST – HNGĐ, ngày 05 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Điêu Thị H, sinh năm 1982. Địa chỉ: Xóm A, xã M, huyện Q, tỉnh Sơn La.
- Bị đơn: ông Đỗ Đức T, sinh năm 1958. Địa chỉ: tổ H, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La. Hiện cư trú tại tổ A, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La.
Hai bên đương sự đều có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện về việc xin ly hôn, bản tự khai, ý kiến trình bày tại phiên tòa nguyên đơn chị Điêu Thị H trình bày:
Bà và ông Đỗ Đức T kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố S vào ngày 04/9/2019 trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn thì hai người chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì mâu thuẫn vợ chồng phát sinh do bất đồng quan điểm sống, không hòa hợp được với nhau. Sau khi kết hôn một thời gian thì bà H đi làm công nhân tại thành phố Hải Phòng đến nay đã được 04 năm, trong thời gian này giữa hai người mới thỉnh thoảng gặp nhau một năm hai, ba lần, tình cảm vợ chồng không hàn gắn được. Đến nay bà H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, bà H kiên quyết xin ly hôn ông T.
Về con chung: Từ sau khi kết hôn đến nay thì giữa hai vợ chồng bà không có con chung và hiện nay bà không mang thai.
Về tài sản chung: Hai vợ chồng không có tài sản chung vì mỗi người đều có nhà riêng.
Về tài sản riêng: Trước khi kết hôn với ông T thì bà H đã có một ngôi nhà xây tại xóm A, xã M, huyện Q và ông T cũng có nhà riêng ở phường C, thành phố S nên bà H không yêu cầu Tòa án xem xét, xét giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Trong bản tự khai, ý kiến tại phiên hòa giải và ý kiến tại phiên tòa bị đơn ông Đỗ Đức T trình bày:
Về thời gian kết hôn và nơi kết hôn thì ông nhất trí như bà H đã trình bày, ông bà kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc, sau khi kết hôn thì hai người vẫn chung sống bình thường, không có mâu thuẫn gì lớn dẫn đến mức ly hôn, khoảng 04 năm nay bà H đi làm công nhân tại Hải Phòng và thỉnh thoảng ông vẫn xuống thăm hoặc khi bà H về Sơn La thì giữa hai ông bà vẫn thỉnh thoảng gặp nhau. Đến nay ông T xác định vẫn còn tình cảm vợ chồng và ông không nhất trí ly hôn bà H.
Về con chung: Hai vợ chồng không có con chung.
Về tài sản chung: Không có.
Về tài sản riêng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Quá trình giải quyết vụ án, đương sự đã cung cấp cho Tòa án những tài liệu, chứng cứ gồm: Đơn khởi kiện về việc xin ly hôn; Giấy chứng nhận kết hôn (bản gốc); Bản tự khai bà H, ông T; Giấy xác nhận thông tin nơi cư trú; Căn cước công dân (bản sao);
Tài liệu do Tòa án thu thập gồm: Biên bản xác minh chính quyền Xóm A, xã M, huyện Q; Biên bản xác minh tại chính quyền tổ H, tổ A, phường C, thành phố S; Biên bản việc tống đạt, công khai các tài liệu có trong hồ sơ cho ông Đỗ Đức T.
Quá trình giải quyết vụ án, các bên đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án, vì vậy vụ án được đưa ra xét xử
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, thành viên Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đúng thành phần trong quyết định đưa vụ án ra xét xử, các trình tự của phiên tòa diễn ra theo đúng quy định của pháp luật.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, đã thực hiện đúng các quy định tại các điều 70, 71, 72 và 209 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: áp dụng điều 51, điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình: Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Điêu Thị H, đề nghị xử cho bà Điêu Thị H được ly hôn ông Đỗ Đức T.
Về tài sản chung; Về nợ chung: Không có.
Về tài sản riêng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: bà Điêu Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên. Tòa án nhận định như sau:
[1] Về thẩm quyền: Bà Điêu Thị H và ông Đỗ Đức T là vợ chồng, có đăng ký kết hôn theo quy định, bà H cư trú tại huyện Q, ông T có hộ khẩu, cư trú tại phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La. Hiện ông bà có tranh chấp về ly hôn, xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La theo quy định tại khoản 1 điều 28; điểm a khoản 1 điều 35; điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự;
[2] Về quan hệ hôn nhân:
Vợ chồng bà H ông T kết hôn hợp pháp, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố S, được pháp luật thừa nhận. Tại phiên tòa, bà H kiên quyết xin ly hôn ông T vì không còn tình cảm vợ chồng, không thể tiếp tục chung sống hạnh phúc, bà H không chấp nhận đoàn tụ gia đình. Ông T không nhất trí ly hôn và mong muốn đoàn tụ gia đình.
Xét thấy: Tòa án sau khi thụ lý hồ sơ về việc xin ly hôn đã động viên, khuyên giải bà H để vợ chồng ông bà đoàn tụ vợ chồng, cùng nhau tiếp tục cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, nhưng bà H kiên quyết xin ly hôn, ông T mong muốn đoàn tụ gia đình. Qua quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, nhận thấy hiện nay ông T mặc dù mong muốn đoàn tụ gia đình nhưng ông không có hướng khắc phục mâu thuẫn để hàn gắn tình cảm vợ chồng, để vợ chồng có thể tiếp tục chung sống hạnh phúc.
Nhận thấy mâu thuẫn của ông bà đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ điều 51, điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cần chấp nhận yêu cầu của bà H, xử cho bà H được ly hôn ông T.
[3] Về con chung: Ông bà chưa có con chung.
[4] Về tài sản chung: Không có.
[5] Về tài sản riêng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[6] Về nợ chung: Không có.
[7] Đối với ý kiến của bị đơn ông T theo bản tự khai đề ngày 23/10/2023 và tại buổi hòa giải ngày 31/10/2023 ông T có trình bày khi tìm hiểu bà H, thấy hoàn cảnh bà H có khó khăn, ngôi nhà xây của bà H chưa được hoàn thiện sửa sang, ông có bỏ ra số tiền 74.527.000,đ để giúp bà H sửa sang lại ngôi nhà tại xóm A, xã M, huyện Q, tuy nhiên ông không có tài liệu, chứng cứ nào chứng minh việc đã bỏ ra số tiền cụ thể để sửa sang lại ngôi nhà cho bà H, sửa những hạng mục gì, bao nhiêu tiền.
Tại phiên tòa bà H thừa nhận khi ông T tìm hiểu bà thì ông T có bỏ ra một số tiền để bà thiện căn nhà của mình tại Xóm A, xã M, huyện Q, nhưng không phải là số tiền như ông T đã trình bày mà chỉ khoảng 30.000.000,đ, mặt khác đây là do ông T hoàn toàn tự nguyện bỏ ra chứ bà không vay hay buộc ông T phải bỏ số tiền đó ra để bà hoàn thiện căn nhà do đó tại phiên tòa bà H không nhất trí thanh toán trả cho ông T số tiền trên.
Hội đồng xét xử xét thấy: Đối với ý kiến của ông Đỗ Đức T về việc ông có hỗ trợ một số tiền để sửa chữa, hoàn thiện nhà cho bà H là có cơ cở, tuy nhiên tại phiên tòa ông không có yêu cầu bà H phải hoàn trả cho ông số tiền ông đã bỏ ra để sửa nhà cho bà H, do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này, nếu ông T có yêu cầu bà H phải hoàn trả cho ông số tiền trên thì ông T có quyền khởi kiện thành một vụ án dân sự khác khi có yêu cầu theo quy định của pháp luật.
[8] Về án phí: Nguyên đơn bà Điêu Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các điều 51, điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; khoản 4 điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Xử cho bà Điêu Thị H được ly hôn ông Đỗ Đức T.
- Về con chung: Không có.
- Về tài sản chung: Không có.
- Về tài sản riêng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có.
- Về án phí: Bà Điêu Thị H phải chịu 300.000,₫ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Được khấu trừ vào khoản tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu, quyển số: 003, số 0000116, ngày 11/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La. Bà Điêu Thị H đã thực hiện xong nghĩa vụ về án phí.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 22 điều 70; điều 271; điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015: Nguyên đơn bà Điêu Thị H, bị đơn ông Đỗ Đức T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 21/12/2023.
|
Nơi gửi:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Lê Lương Anh |
Bản án số 05/2023/HNGĐ – ST ngày 21/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA về tranh chấp xin ly hôn
- Số bản án: 05/2023/HNGĐ – ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/12/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn giữa bà Điêu Thị H và ông Đỗ Đức T
