Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 05/2022/KDTM-PT
Ngày 14-6-2022
V/v tranh chấp hợp đồng thuê
trang trại chăn nuôi
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Thanh.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Minh Tấn; Ông Huỳnh Văn Luật.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Dung – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Thủy - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 09 và 14 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh, thương mại thụ lý số 01/2022/TLPT-KDTM ngày 16 tháng 02 năm 2022 về việc “tranh chấp hợp đồng thuê trang trại chăn nuôi”.

Do Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 03/2021/KDTM-ST ngày 18/11/2021 của Tòa án nhân dân huyện U, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 04/2022/QĐ-PT ngày 10/5/2022, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Công ty Cổ phần A; địa chỉ: Phường W, Quận R, Thành phố Hồ Chí Minh.
    Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thạch Thùy T; địa chỉ liên lạc: Phường S, quận M, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền theo Văn bản ủy quyền ngày 29/11/2021, có mặt.
  2. Bị đơn: Bà Phạm Nguyễn Kim H – Chủ Hộ kinh doanh Trang trại C, sinh năm 1997; địa chỉ cư trú của bà H: Khu phố K, phường X, thị xã Y, tỉnh Bình Dương; địa chỉ Hộ kinh doanh Trang trại C: xã Z, huyện U, tỉnh Bình Dương.
    Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Lê Vinh Thái H, sinh năm 1975, địa chỉ: Phường D, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Giấy ủy quyền ngày 26/4/2022), có mặt.
    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: ông Đoàn Đình M, là Luật sư của Văn phòng Luật sư ĐN – chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh, địa chỉ: Phường H, Quận P, Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt khi xét xử vắng mặt khi tuyên án.
  3. Người kháng cáo:
    • 3.1. Nguyên đơn: Công ty Cổ phần A.
    • 3.2. Bị đơn: Bà Phạm Nguyễn Kim H – Chủ hộ kinh doanh Trang trại C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm:

* Tại đơn khởi kiện ngày 24/9/2020 và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 14/11/2018, Công ty Cổ phần A (sau đây gọi tắt là Công ty A) và Hộ kinh doanh Trang trại C (sau đây gọi tắt là Trang trại C) ký kết Hợp đồng thuê trang trại chăn nuôi số 03/HDDV/FARM ngày 14/11/2018 (sau đây gọi tắt là Hợp đồng). Theo đó, Trang trại C có trách nhiệm đầu tư xây dựng toàn bộ các công trình, cơ sở hạ tầng, trang thiết bị; xây dựng và vận hành khu xử lý nước thải; thực hiện tất cả các thủ tục cần thiết với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để Công ty A được cấp phép và duy trì hoạt động chăn nuôi đàn heo quy mô 13.200 con tại các thửa đất số 456, 457, 197, 250, tờ bản đồ số 46 thuộc ấp P, xã TĐ, huyện U, tỉnh Bình Dương. Thời hạn thuê là 12 năm, giá thuê trang trại có 02 giai đoạn gồm: Giai đoạn một giá thuê là 510.000.000 đồng/tháng và giai đoạn hai là 830.000.000 đồng/tháng, tiền đặt cọc là 2.490.000.000 đồng. Ngày 28/01/2019 và 06/3/2019 nguyên đơn đã chuyển toàn bộ số tiền cọc cho bị đơn. Từ ngày Hợp đồng có hiệu lực 14/11/2018 đến ngày 31/01/2020 Công ty A đã thanh toán 6.261.000.000 đồng tiền thuê trang trại cho bị đơn.

Trong quá trình thực hiện Hợp đồng, Trang trại C nhiều lần bị cơ quan có thẩm quyền kiểm tra vào các ngày 27/5/2019, ngày 20/8/2019 và ngày 17/9/2019, kết quả kiểm tra xác định Trang trại C chưa hoàn tất các thủ tục pháp lý (không có báo cáo đánh giá tác động môi trường cho hoạt động chăn nuôi), chưa hoàn thiện hệ thống xử lý nước thải, xả nước thải vượt quy chuẩn cho phép ra môi trường. Công ty A đã bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử phạt ba lần đối với các hành vi trên với tổng số tiền 1.557.555.996 đồng. Toàn bộ số tiền này đã được Công ty A đóng theo quy định của pháp luật.

Ngày 04/10/2019, Công ty A và Trang trại C đã họp và cùng thống nhất nội dung: “Tiền phạt vi phạm môi trường cho cơ quan nhà nước C cam kết chuyển cho Công ty A đóng trong thời hạn theo quyết định xử phạt. Nếu không, A đóng trước cấn trừ vào tiền thuê trại, tính lãi 10%/năm cho C trong thời gian C không trả đúng cam kết theo quyết định xử phạt”. Ngoài nội dung trên, hai bên còn thỏa thuận giá tiền thuê trại sẽ giảm từ 830.000.000/tháng xuống còn 415.000.000 đồng/tháng từ ngày 01/8/2019 cho đến khi bên cho thuê hoàn thành hệ thống xử lý nước thải đủ công suất như cam kết trong hợp đồng và được cơ quan nhà nước phê duyệt; nếu trang trại chăn nuôi bị tạm đình chỉ hoặc đình chỉ hoạt động theo quyết định của cơ quan nhà nước thì hợp đồng thuê sẽ chấm dứt, bên cho thuê phải trả lại tiền đặt cọc cho bên thuê.

Ngày 31/01/2020, giữa Công ty A và Trang trại C đã thỏa thuận chấm dứt hợp đồng thuê trang trại nêu trên vì Quyết định số 2837/QĐ-XPVPHC ngày 01/10/2019 của Chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương đã xử phạt bổ sung với nội dung buộc đình chỉ trang trại chăn nuôi. Hai bên đã tiến hành bàn giao tài sản thuê vào ngày 01/02/2020.

Sau khi chấm dứt hợp đồng, Công ty A đã nhiều lần liên lạc, gửi thư đề nghị Trang trại C xác nhận công nợ và yêu cầu thanh toán các khoản tiền nợ. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, Trang trại C vẫn không thanh toán các khoản tiền còn nợ, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty A. Vì vậy, Công ty A khởi kiện yêu cầu Trang trại C thanh toán cho Công ty A các khoản tiền sau:

  • Tiền đặt cọc theo Hợp đồng thuê trang trại chăn nuôi số 03/HDDV/FARM ngày 14/11/2018: 2.490.000.000 đồng.
  • Tiền điện tại khu vận hành xử lý nước thải mà Công ty A đã thanh toán thay cho Trang trại C (tháng 10/2019, tháng 11/2019, tháng 12/2019, tháng 01/2020): 82.187.600 đồng.
  • Tiền xử phạt vi phạm hành chính Công ty A đã đóng thay Trang trại C: 1.557.555.996 đồng.
  • Tiền lãi phát sinh tính đến ngày 18/11/2021: 751.473.845 đồng.

Sau khi cấn trừ nghĩa vụ, Công ty A yêu cầu Trang trại C phải thanh toán tổng số tiền còn lại là 4.466.217.441 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn đủ điều kiện được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung: Các đương sự thống nhất việc ký kết hợp đồng, nội dung thỏa thuận, việc giao nhận tiền cọc, thay đổi giá thuê, xử phạt vi phạm hành chính, thỏa thuận ngày 04/10/2019, chấm dứt hợp đồng và bàn giao tài sản thuê. Đây là các tình tiết không phải chứng minh.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Tòa án cấp phúc thẩm xét thấy có căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, sửa một phần bản án sơ thẩm. Buộc bị đơn có trách nhiệm hoàn trả cho nguyên đơn tiền đặt cọc, tiền điện và tiền xử phạt vi phạm hành chính sau khi đã khấu trừ các khoản nợ tiền thuê trang trại.

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 308 và Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 422 Bộ luật Dân sự; Điều 306 Luật Thương mại; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.

Tuyên xử: Sửa Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 03/2021/KDTM-ST ngày 18/11/2021 của Tòa án nhân dân huyện U, tỉnh Bình Dương như sau:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần A về việc “tranh chấp hợp đồng thuê trang trại chăn nuôi” với bà Phạm Nguyễn Kim H - Chủ Hộ kinh doanh Trang trại C.
  2. Buộc bà Phạm Nguyễn Kim H - Chủ Hộ kinh doanh Trang trại C phải thanh toán cho Công ty Cổ phần A số tiền 3.500.495.696 đồng (ba tỷ năm trăm triệu bốn trăm chín mươi lăm nghìn sáu trăm chín mươi sáu đồng).
  3. Ghi nhận sự tự nguyện của Công ty Cổ phần A về việc không yêu cầu tính lãi đối với số tiền 82.187.600 đồng.
  4. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần A về việc yêu cầu bà Phạm Nguyễn Kim H thanh toán 308.211.927 đồng tiền lãi suất trên số tiền xử phạt vi phạm hành chính và 751.473.845 đồng tiền lãi suất chậm trả.
  5. Về án phí: Quy định cụ thể mức án phí sơ thẩm và phúc thẩm cho các bên đương sự.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Bình Dương;
- TAND huyện U;
- Chi cục THADS huyện U;
- Các đương sự;
- Tổ HCTP;
- Lưu: Tòa KT, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Thị Tuyết Thanh
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2022/KDTM-PT ngày 14/06/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương về tranh chấp hợp đồng thuê trang trại chăn nuôi

  • Số bản án: 05/2022/KDTM-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thuê trang trại chăn nuôi
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/06/2022
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: sửa án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger