|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH Bản án số: 05/2022/HS-PT Ngày: 18/01/2022 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ----------------------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
- - Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Từ Thị Hải Dương
- Các thẩm phán: ông Võ Bá Lưu và ông Dương Viết Hải
- - Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Đoàn Quang Tiến - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Minh Nguyệt – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 87/2021/HSPT ngày 06/12/2021 đối với bị cáo Đậu Thị L, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 41/2021/HS-ST ngày 28 tháng 10 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình.
- - Bị cáo có kháng cáo: Đậu Thị L, sinh ngày 15/8/1978; Nơi sinh: huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Nơi cư trú: Khu phố 1, phường B, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; giới tính: Nữ; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Cán bộ Trung tâm Văn hoá thị xã B, tỉnh Quảng Bình; Con ông: Đậu Ngọc Đ, sinh năm 1936 (đã chết) và bà Dương Thị L, sinh năm 1940 (đã chết); Chồng: Trần Anh Ph (đã chết), có 02 con; Tiền án, tiền sự: Không. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên toà.
- - Người bị hại: Nguyễn Thị Lệ Gi, trú tại thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào giữa năm 2020, chị Nguyễn Thị Lệ Gi đã tốt nghiệp khoa Sư phạm, ngành Giáo dục mầm non tại trường Đại học Quảng Bình. Sau khi tốt nghiệp xong, do không có việc làm nên chị Gi muốn thi tuyển vào công chức, viên chức Nhà nước. Trong thời gian chờ đợi việc làm, chị Gi tìm hiểu và liên hệ gặp chị Đậu Thị L có khả năng giúp Gi trúng tuyển trong kỳ thi tuyển viên chức giáo viên mầm non tại thị xã Ba Đồn tổ chức vào cuối năm 2020 với chi phí 200.000.000đ (hai trăm triệu đồng).
Ngày 16/9/2020 Đậu Thị L sử dụng số điện thoại 0919023795 đăng nhập vào mạng xã hội Zalo có tài khoản tên Đậu Thị L rồi nhắn tin qua số điện thoại 0823602777 có sử dụng tài khoản Zalo Gi với nội dung chuẩn bị tiền để đưa cho L.
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 02/10/2020, Đậu Thị L trực tiếp đến nhà chị Gi để lấy tiền, hai bên đã thoả thuận số tiền xin việc là 200.000.000đ (hai trăm triệu đồng) có viết giấy giao nhận tiền. L hứa nếu không trúng tuyển sẽ trả lại tiền cho chị Gi. Sau khi nhận tiền, đến ngày 07/11/2020 L thông báo cho chị Gi nộp hồ sơ để chuẩn bị thi tuyển viên chức Mầm non tại thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình. Ngày 27/12/2020 chị Gi tham gia thi tuyển. Đến ngày 31/12/2020 sau khi thi tuyển xong, biết mình không trúng tuyển nên chị Gi đã liên lạc với Đậu Thị L để lấy lại tiền. Qua nhiều lần yêu cầu đòi trả lại tiền, đến ngày 08/02/2021 Đậu Thị L chuyển trả qua tài khoản cho chị Gi số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng). Sau đó L hứa hẹn trả tiền cho chị Gi nhiều lần nhưng không trả nên chị Gi đã làm đơn tố cáo hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Đậu Thị L ra trước cơ quan pháp luật.
Bản Kết luận giám định kỹ thuật hình sự số 698/GĐ-PC09 ngày 19/5/2021 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình kết luận: Chữ ký và dòng chữ ghi rõ họ tên “Đậu Thị L” dưới mục “người nhận” trên mẫu cần giám định ký hiệu A so với chữ ký, chữ viết “Đậu Thị L” trên mẫu so sánh ký hiệu M là do cùng một người ký, viết ra.
Trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra Đậu Thị L đã tự nguyện hoàn trả số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng) mà L đã nhận của chị Nguyễn Thị Lệ Gi. Chị Gi đã nhận lại tiền nên không có yêu cầu bồi thường gì thêm.
Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2021/HS-ST ngày 28/10/2021 của Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Đậu Thị L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đậu Thị L 04 (bốn) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày chấp hành án.
Án sơ thẩm còn quyết định nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Trong thời hạn luật định, ngày 04/11/2021, bị cáo Đậu Thị L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo vì hoàn cảnh gia đình neo đơn, (chồng mất, bố mẹ chồng già yếu bị cáo phải chăm sóc), con bị cáo đang tuổi ăn học, nếu bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì không ai nuôi gia đình;
Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Đậu Thị L khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như án sơ thẩm đã xét xử, giữ nguyên kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tội danh: tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận: Do có khó khăn về kinh tế, khi biết chị Nguyễn Thị Lệ Gi chuẩn bị tham gia thi tuyển công chức, Đậu Thị L đã đưa ra thông tin gian dối về việc mình làm ở Phòng nội vụ UBND Thị xã B, có khả năng giúp Gi thi đậu công chức. Gi đã đưa tiền cho bị cáo 200.000.000 đồng để “lo việc” nhưng bị cáo đã sử dụng vào mục đích cá nhân. Khi biết không đậu công chức, chị Nguyễn Thị Lệ Gi đến đòi lại tiền nhưng bị cáo không trả. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là đúng người, đúng tội.
[2]. Xét nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo của bị cáo Đậu Thị L, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi chiếm đoạt tài sản của bị cáo Đậu Thị L là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, tác động xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội, gây hoang mang, bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo bị xét xử theo khoản 3, Điều 174, có khung hình phạt từ 7 năm đến 15 năm; Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 và áp dụng Điều 54 để xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt bị cáo bị xét xử là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm không có tình tiết giảm nhẹ khác nên không có căn cứ để giảm nhẹ hình phạt và bị cáo không đủ điều kiện để được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự. Vì vậy, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 41/2021/HS-ST ngày 28/10/2021 của Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình.
[3] Bị cáo phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đậu Thị L và giữ nguyên quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số: 41/2021/HS-ST ngày 28/10/2021 của Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174, các điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đậu Thị L 4 (bốn) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.
- Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Đậu Thị L phải chịu 200.000 đồng án phí phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (18/01/2022)
|
Nơi nhận: - VKSND tỉnh Quảng Bình; - TAND huyện Tuyên Hoá; - Chi cục THA huyện Tuyên Hoá; - Công an huyện Tuyên Hóa; - Phòng HSNVCS-CA Quảng Bình; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình; - Bị cáo; - Lưu: HS vụ án, án văn. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Từ Thị Hải Dương |
Bản án số 05/2022/HS-PT ngày 18/01/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 05/2022/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/01/2022
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Kháng cáo không được chấp nhận
