|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 05/2022/HS-ST Ngày: 11-11-2022 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thùy Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lê Thị Chúc Ngân
Bà Cao Thị Kim Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Quách Thị Khuyến là Thư ký Tòa án - Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 11 năm 2022, tại Hội trường A - Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 03/2022/TLST-HS ngày 06 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 01/2022/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 10 năm 2022 và Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số 02/TB-TA ngày 26 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:
Trần Ngọc T, sinh năm 1998 tại Bình Định; nơi cư trú: Tổ 16, ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Ngọc P (1972) và bà Nguyễn Thị Th (1971); bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có hai anh em và chưa có vợ con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/7/2022 đến ngày 30/7/2022 bị tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Thống Nhất.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
| Bà Nguyễn Thị Th | sinh năm 1971 | (Có mặt) |
| Nơi cư trú: Tổ A, ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai. | (Vắng mặt) | |
- Người làm chứng:
| Anh Đoàn Thế D | sinh năm 1989 | (Vắng mặt) |
| Nơi cư trú: Tổ A ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai. | ||
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Ngọc T là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. Vào khoảng 07 giờ 25 phút ngày 21/7/2022, T mượn điện thoại của một người đang chạy xe trên đường đi làm ngang qua nhà của T (không rõ nhân thân lai lịch, địa chỉ) để gọi điện thoại cho đối tượng tên L (không rõ nhân thân lai lịch, địa chỉ, L sử dụng số điện thoại 0353.397.xxx) hỏi mua ma túy đá về sử dụng, L đồng ý và hẹn giao ma túy cho T tại khu vực cổng ấp văn hóa ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Đến 08 giờ 25 phút cùng ngày, T điều khiển xe môtô biển số 60B7-822.29 đến đoạn đường Quốc lộ 1A, cách cổng ấp văn hóa ấp H, xã H, huyện T khoảng 200m (hướng đi D), T được L bán cho một túi nilon hàn kín chứa ma túy đá với giá 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng). Sau khi có ma túy, T giấu dưới dép đang đi, dùng bàn chân phải đè lên và điều khiển xe về nhà. Trên đường về, T gặp lực lượng Cảnh sát giao thông Công an huyện T đang làm nhiệm vụ tuần tra trên tuyến đường ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai; do lo sợ, T đã làm rơi túi ni lon chứa ma túy xuống đường nên bị lực lượng Công an phát hiện, bắt giữ cùng với tang vật.
Tại Kết luận giám định số 1545/KLGĐ-PC09 ngày 28/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: Mẫu chất màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,1651 gam, loại Methamphetamine.
Tại Cáo trạng số 69/CT-VKS-TN ngày 26 tháng 9 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất truy tố Trần Ngọc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo T từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng đến 02 (Hai) năm tù. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử quyết định về án phí hình sự sơ thẩm và xử lý vật chứng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Ngọc T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không tham gia tranh luận.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo có trong hồ sơ vụ án;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thống Nhất, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo cũng như những người tham gia tố tụng khác khẳng định khai báo tự nguyện, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[1.2] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bà Nguyễn Thị Th và người làm chứng - anh Đoàn Thế D mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt tại phiên tòa (Bà Th và anh D có đơn xin xét xử vắng mặt). Xét thấy, việc vắng mặt của bà Th và anh D không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, căn cứ Điều 292 và Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về tội danh và khung hình phạt: Tại phiên tòa, Trần Ngọc T khai nhận hành vi phạm tội do mình thực hiện như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, lời khai nhận tội này phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 08 giờ 30 phút ngày 21/7/2022, tại ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Trần Ngọc T có hành vi tàng trữ trái phép 0,1651 gam ma túy, loại Methamphetamine thì bị phát hiện bắt quả tang cùng tang vật. Như vậy, hành vi của Trần Ngọc T thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung hình phạt: “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy ..., thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: ...c) ..., Methamphetamine ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng số 69/CT-VKS-TN ngày 26 tháng 9 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất truy tố Trần Ngọc T về tội danh và khung hình phạt như đã nêu trên là đúng người, đúng tội và không oan sai cho bị cáo.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi của bị cáo: Xét tính chất của vụ án thấy rằng, tình hình tội phạm ma túy nói chung và trên địa bàn huyện Thống Nhất nói riêng có chiều hướng phức tạp, với tính chất ngày càng nghiêm trọng, gây nhức nhối cho xã hội và trở thành nỗi lo của nhiều gia đình. Hậu quả do tệ nạn ma túy gây ra rất nghiêm trọng, làm tổn hại sức khỏe của một bộ phận nhân dân, đồng thời là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước. Ma túy là chất gây nghiện, người nghiện ma túy ảnh hưởng nghiêm trọng đến thể chất và tinh thần. Vì vậy, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
[4] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bản thân bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo phạm tội lần đầu là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, là căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[5] Về quyết định hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nên cần tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để bị cáo có thời gian suy nghĩ về hành vi phạm tội của mình, tự giác cải tạo, học tập, lao động trở thành công dân sống lương thiện, có ích cho xã hội và biết tuân thủ pháp luật.
[6] Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền...”. Tuy nhiên, do bị cáo không có thu nhập và tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về vật chứng vụ án:
- - Một gói niêm phong số 1545/KLGĐ-PC09, bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định (0,1132 gam, loại Methamphetamine) là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
- - Một xe mô tô biển số 60B7-822.29 là tài sản của bà Nguyễn Thị Th (mẹ của bị cáo), bà Th để xe ở nhà cho người thân và bị cáo sử dụng để làm phương tiện đi lại và không biết bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, xe có giấy tờ hợp lệ nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thống Nhất đã trả lại cho bà Th (Theo Quyết định xử lý vật chứng số 64/QĐ-CSĐT ngày 25/8/2022 và Biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu ngày 27/8/2022) là phù hợp.
[8] Các vấn đề khác: Đối với đối tượng tên “L”, theo bị cáo khai là người bán ma túy cho bị cáo sử dụng, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả. Mặt khác, số thuê bao điện thoại 0353.397.xxx của đối tượng “L”, Cơ quan điều tra đã có văn bản gửi ban Thanh tra - Kiểm toán - Tập đoàn công nghiệp - Viễn thông Quân đội thuộc chi nhánh Viettel Đồng Nai nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả trả lời. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thống Nhất tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ, khi đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
[9] Xét ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về phần tội danh, điều khoản truy tố và hình phạt là có căn cứ, phù hợp với các tình tiết của vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa nên chấp nhận.
[10] Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 46; Điều 47; Điều 50 và điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
- - Điều 106; khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Trần Ngọc T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/7/2022.
2. Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy một gói niêm phong số 1545/KLGĐ-PC09, bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định (0,1132 gam loại Methamphetamine) (Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 05/10/2022 giữa Công an huyện Thống Nhất và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thống Nhất).
3. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Ngọc T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Thùy Trang |
Bản án số 05/2022/HS-ST ngày 11/11/2022 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT, TỈNH ĐỒNG NAI về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 05/2022/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/11/2022
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Ngọc T - Tàng trữ trái phép chất ma túy
