|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC SƠN TỈNH LẠNG SƠN _________________ Bản án số: 05/2021/HNGĐ-ST Ngày 26-01-2021 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc _________________________________ |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Công Đức.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Hoàng Văn Đạo.
- 2. Ông Phan Văn Trường.
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Lệ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Lương Thị Mai Quỳnh, Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 164/2020/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 11 năm 2020 về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2020, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Dương Thị H, sinh năm 1994.
Nơi cư trú: Thôn H, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, có mặt.
- Bị đơn: Anh Dương Công N, sinh năm 1990.
Nơi cư trú: Thôn T, xã B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện của nguyên đơn và các lời khai tại Tòa án, chị Dương Thị H trình bày như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Thị H kết hôn với anh Dương Công N, trước khi kết hôn anh chị có được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B nay là xã B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn vào ngày 12/11/2013. Sau khi kết hôn chị H và anh N chung sống cùng gia đình nhà anh N, cuộc sống chung vợ chồng bình thường. Quá trình chung sống đến năm 2014 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Dương Công N không tu trí làm ăn hay uống rượu vì thế vợ chồng thường xuyên cãi nhau, chị H và gia đình nhiều lần khuyên bảo, góp ý nhưng anh Dương Công N vẫn không thay đổi mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không thể hòa giải. Vợ chồng chị đã sống ly thân từ tháng 10 năm 2018 đến nay, chị H thấy rằng không còn tình cảm vợ chồng với anh Dương Công N nữa. Vì vậy, chị Dương Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Dương Công N.
- Về con chung: Có một người con chung tên là Dương Công Bảo N1, sinh ngày 15/02/2012. Khi ly hôn chị H yêu cầu anh Dương Công N trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành, chị H cấp dưỡng tiền nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000 đồng (một triệu đồng).
- Về tài sản chung và nợ chung vợ chồng: Không có.
Về phía bị đơn, anh Dương Công N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án tham gia tố tụng. Tòa án đã tiến hành xác minh tại Ban Công an xã B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn và tại gia đình anh Dương Công N, ông Dương Công V là bố đẻ của anh Dương Công N cư trú tại thôn T, xã B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn khẳng định anh Dương Công N vẫn có hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, tuy nhiên hiện nay anh Dương Công N đi làm xa nên không về tham gia tố tụng tại Tòa án được. Các văn bản tố tụng của Tòa án ông Việt đã thông báo cho anh Dương Công N, anh Dương Công N có biết việc chị Dương Thị H hiện nay đang yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh và biết việc Tòa án đã gửi, tống đạt các văn bản tố tụng để triệu tập anh đến Tòa án tham gia tố tụng. Tuy nhiên, anh Dương Công N không đến Tòa án mà không có lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Dương Thị H khởi kiện yêu cầu ly hôn, giải quyết về con chung khi ly hôn Vì vậy quan hệ pháp luật là "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn" theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Dương Công N có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã B, huyện B. Do đó, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
[2] Anh Dương Công N vắng mặt tại phiên tòa xét xử lần thứ hai không có lý do, mặc dù đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Dương Công N theo quy định của pháp luật.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Dương Thị H và anh Dương Công N là hợp pháp, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 12/11/2013, tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Dương Công N không tu trí làm ăn, chị Dương Thị H và gia đình đã nhiều lần khuyên bảo nhưng anh Dương Công N vẫn không thay đổi, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 10 năm 2018 đến nay. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị Dương Thị H đều trình bày không còn tình cảm vợ chồng với anh Dương Công N chị yêu cầu xin được ly hôn với anh Dương Công N.
[4] Xác định tình trạng hôn nhân giữa chị Dương Thị H và anh Dương Công N thấy rằng: Anh Dương Công N không hợp tác với Tòa án trong quá trình giải quyết ly hôn và cũng không có ý kiến về việc chị Dương Thị H có đơn xin ly hôn với anh. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh N đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Dương Thị H yêu cầu ly hôn với anh Dương Công N là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu ly hôn của chị Dương Thị H là có căn cứ, cần chấp nhận.
[5] Về con chung: Có một người con chung tên là Dương Công Bảo N1, sinh ngày 15/02/2012. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị Dương Thị H có ý kiến yêu cầu anh Dương Công N là người trực tiếp nuôi con, chị H cấp dưỡng tiền nuôi con chung 1.000.000 đồng một tháng, nguyện vọng của cháu Dương Công Bảo N1 cũng muốn được ở với bố là anh Dương Công N. Xét thấy hiện nay cháu Dương Công Bảo N1 đang ở với anh N và để ổn định cuộc sống của cháu nên chấp nhận yêu cầu của chi Dương Thị H giao cháu Dương Công Bảo Nam cho anh Dương Công N trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục là phù hợp. Chị Dương Thị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Chị Dương Thị H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con định kỳ mỗi tháng là 1.000.000 đồng (một triệu đồng) đến khi cháu Dương Công Bảo N1 trưởng thành (đủ 18 tuổi). Thời điểm cấp dưỡng nuôi con tính từ ngày xét xử sơ thẩm, ngày 26/01/2021.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điều 357 của Bộ luật Dân sự. Căn cứ vào Điều 51; khoản 1 Điều 56; các Điều 57, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn chị Dương Thị H. Chị Dương Thị H được ly hôn với anh Dương Công N.
- Về con chung: Giao cháu Dương Công Bảo N1, sinh ngày 15 tháng 02 năm 2012 cho anh Dương Công N được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Chị Dương Thị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Chị Dương Thị H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con định kỳ mỗi một tháng là 1.000.000 đồng (một triệu đồng) đến khi cháu Dương Công Bảo N1 trưởng thành (đủ 18 tuổi). Thời điểm cấp dưỡng nuôi con tính từ ngày xét xử sơ thẩm, ngày 26/01/2021.
- Về tài sản chung và nợ chung vợ chồng: Không có.
- Về án phí: Chị Dương Thị H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn và 300.000 đồng tiền án phí cấp dưỡng nuôi con định kỳ, tổng cộng chị Dương Thị H phải chịu 600.000 đồng tiền án phí để nộp ngân sách Nhà nước. Xác nhận chị Dương Thị H đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai số: AA/2012/05928 ngày 05 tháng 11 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Chị Dương Thị H còn phải nộp 300.000 đồng tiền án phí để nộp ngân sách Nhà nước.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn; - Chi cục THADS huyện Bắc Sơn; - UBND xã B, huyện B; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Phạm Công Đức |
Bản án số 05/2021/HNGĐ-ST ngày 26/01/2021 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 05/2021/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/01/2021
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dương Thị H yêu cầu được ly hôn với anh Dương Công Nghĩa
