Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LẠNG SƠN

Bản án số: 05/2021/HNGĐ-PT
Ngày 08-7-2021
V/v Ly hôn, tranh chấp tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
_________________________

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Đức Châm.

Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Tuệ; Bà Nguyễn Thị Minh Thùy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hà Mi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn;

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Ngân - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 7 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 05/2021/TLPT-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2021 về Ly hôn, tranh chấp tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn.

Do Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 07/2021/HNGĐ-ST ngày 05 tháng 4 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 08/2021/QĐPT-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2021, giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Ông Lê Hữu T; địa chỉ: Số 02, đường Th1, phường C, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.
  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Bà Chu Thị Bích T - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lạng Sơn; có mặt.
  • Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L; địa chỉ: Số 02, đường Th1, phường C, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.
  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Bà Lương Thị Kim M, Luật sư Cộng tác viên thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lạng Sơn; có mặt.
  • Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
    1. Chị Lê Thị Hồng T. Địa chỉ: Số 2, đường Th1, phường C, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.
    2. Anh Nông Văn G. Địa chỉ: Số 7/1, đường Ph, phường C, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
    3. Chị Nguyễn Thị H. Địa chỉ: Số 84, đường Tr, phường C, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
    4. Chị Nguyễn Thị H1. Địa chỉ: Số 7/7, đường V1, phường C, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
    5. Anh Nguyễn Văn H2. Địa chỉ: Số 71, đường Ng, Phú Lộc 4, phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
    6. Chị Lương Thị D. Địa chỉ: Số 133, Phố M, phường T1, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
    7. Chị Đặng Thị H3. Địa chỉ: Số 96, đường Ph, phường T1, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
    8. Anh Lê Hữu Anh T. Địa chỉ: Số 2, đường Th1, phường C, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.

Người kháng cáo: Ông Lê Hữu T là nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 07/2021/HNGĐ-ST ngày 05 tháng 4 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Hữu T và bà Nguyễn Thị L tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn vào năm 1979 tại UBND phường V, thành phố L. Theo ông Lê Hữu T, sau khi kết hôn ông bà chung sống hạnh phúc đến năm 1988 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng về quan điểm làm ăn nên đã nhiều lần xảy ra mâu thuẫn. Từ năm 2018 ông bà đã ly thân nhau, đã ăn riêng không ai quan tâm đến ai nữa. Ông Lê Hữu T và bà Nguyễn Thị L đều nhất trí ly hôn vì không còn tình cảm.

Về con chung: Có 03 con chung là anh Lê Hữu Anh T, sinh năm 1974; anh Lê Hữu Anh K, sinh năm 1979 (chết năm 2017) và chị Lê Thị Hồng T, sinh năm 1982, các con đều đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Có 01 nhà mái bằng, 01 nhà hai tầng, 02 bếp, 01 bể nước được xây dựng trên diện tích đất tọa tại số 02, đường Th1, phường C, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn và một số tài sản khác như ti vi, tủ lạnh, tủ chè, bàn ghế, nồi quân dụng, xe đạp. Ông Lê Hữu T và bà Nguyễn Thị L đều yêu cầu chia đôi tài sản là nhà đất, mỗi người được 1 nửa, chia bằng hiện vật, cả 2 bên đều yêu cầu được lấy phần đất có nhà cấp 4, có 2 mặt phố và không yêu cầu bên kia phải bù tiền chênh lệch công trình trên đất (nếu có). Về các tài sản là động sản trong gia đình: Ông Lê Hữu T và bà Nguyễn Thị L tự nguyện thỏa thuận, cụ thể: Ông Lê Hữu T lấy bàn ghế, tủ chè, xe đạp, 02 nồi quân dụng; bà Nguyễn Thị L lấy 01 ti vi, 01 tủ lạnh, 02 nồi luộc bánh chưng. Các tài sản khác trong nhà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, ông Lê Hữu T yêu cầu bà Nguyễn Thị L trả ông 1/2 tiền cho anh Nông Văn G thuê nhà từ năm 2017 đến nay, bà Nguyễn Thị L không đồng ý trả ông Lê Hữu T khoản tiền này, vì số tiền này bà đã sử dụng chi tiêu trong gia đình, tổ chức ma chay cho con trai. Về tiền thuê chỗ để bán rau, thịt, cá, hoa quả bà Nguyễn Thị L không yêu cầu chia số tiền ông Lê Hữu T đã thu của những người thuê chỗ bán hàng, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Theo bà Nguyễn Thị L thì hiện nay vợ chồng bà còn nợ chị Đặng Thị H3 (là con nuôi), số tiền: 30.000.000 đồng, ông Lê Hữu T không thừa nhận có khoản nợ trên, tuy nhiên bà Nguyễn Thị L và chị Đặng Thị H3 tự giải quyết và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về chi phí thẩm định, định giá: Ông Lê Hữu T tự nguyện chịu toàn bộ tiền chi phí thẩm định, định giá là: 11.477.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Kháng cáo của ông Lê Hữu T nộp trong thời hạn luật định nên kháng cáo hợp lệ.

[2] Về tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nông Văn G; chị Lương Thị D, chị Nguyễn Thị H1, chị Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Văn H2, anh Lê Anh T2; chị Đặng Thị H3, xét thấy: Những người vắng mặt đều có lời khai trong hồ sơ và đều xác định không liên quan đến việc chia tài sản chung của vợ chồng ông Lê Hữu T và bà Nguyễn Thị L nên việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn và bị đơn trong việc xét xử vụ án, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 269 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án.

[3] Xét nội dung kháng cáo của ông Lê Hữu T: Ông Lê Hữu T kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng ông Lê Hữu T được quyền quản lý, sử dụng 1/2 diện tích đất là 70,85m2 (kí hiệu B1B2B3B4A7A6A5A4A3), thuộc một phần thửa đất số 67, tờ bản đồ 20, bản đồ địa chính phường C, thành phố L, đo đạc năm 2021 (theo bản đồ địa chính năm 1997, thuộc thửa 07, tờ bản đồ số 26) và công trình trên đất bao gồm nhà cấp 4; đổi lại bà Nguyễn Thị L được quyền quản lý, sử dụng 70,85m2 (kí hiệu B1B2B3B4A8A9A1A2), thuộc một phần thửa đất số 67, tờ bản đồ 20, bản đồ địa chính phường C, thành phố L, đo đạc năm 2021 (theo bản đồ địa chính năm 1997, thuộc thửa 07, tờ bản đồ số 26) và sở hữu các công trình có trên đất bao gồm 01 nhà hai tầng.

[5] Hội đồng xét xử, xét thấy: Nguồn gốc tài sản là công sức chung của vợ chồng cùng tạo dựng nên, không phải là tài sản riêng của ông Lê Hữu T hoặc của riêng bà Nguyễn Thị L và cũng không phải là tài sản riêng của ông Lê Hữu T được thừa kế từ bố mẹ. Do đó, ông Lê Hữu T cho rằng trong ngôi nhà mái bằng còn có bàn thờ tổ tiên của gia đình ông và có nguyện vọng đổi lại ngôi nhà 02 tầng, lấy ngôi nhà cấp 4 mái bằng để thờ tổ tiên và sử dụng là không có cơ sở để chấp nhận, cần giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2021/HNGĐ-ST ngày 05 tháng 4 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308; khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Hữu T; giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 07/2021/HNGĐ-ST ngày 05 tháng 4 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
  2. Các phần quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.
  3. Về án phí phúc thẩm: Ông Lê Hữu T được miễn toàn bộ án phí phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:
- TAND cấp cao tại Hà Nội;
- VKSND cấp cao tại Hà Nội;
- VKSND tỉnh Lạng Sơn;
- TAND TP Lạng Sơn, T. Lạng Sơn;
- CCTHADS TP. L, T. Lạng Sơn;
- Các đương sự; người BV quyền và lợi ích hợp pháp của ĐS;
- Lưu: HCTP, HS, TDS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Hồ Đức Châm
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2021/HNGĐ-PT ngày 08/07/2021 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN về ly hôn, tranh chấp tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn

  • Số bản án: 05/2021/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 08/07/2021
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Lê Hữu T và bà Nguyễn Thị L tranh chấp về chia tài sản chung sau ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger