Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC NINH

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

Bản án số: 04/2024/DS-ST

Ngày: 29 tháng 11 năm 2024

"V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng

giữa

Giữa NH TMCP Hàng Hải Việt Nam với

ông Đặng Thanh Tùng "

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Văn Hoan.

Các hội thẩm nhân dân:

  • Ông Bùi Quang Hợi;
  • Bà Nguyễn Thị Liên;

- Những người tiến hành tố tụng khác tại phiên tòa:

Thư ký toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Thao.

Đại diện VKSND thành phố Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh H - Kiểm sát viên

Trong ngày 29 tháng 11 năm 2024. Tại trụ sở toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh mở phiên toà công khai để xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 178/2023/TLST - DS ngày 05 tháng 07 năm 2024 về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2024/QĐXX- ST ngày 15 tháng 10 năm 2024; giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP H4; Địa chỉ: Số E N, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội - Do ông Nguyễn Hoàng L là Tổng Giám đốc đại diện theo pháp luật;

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Theo giấy ủy quyền số 3897/2020/UQ-TGDD12 ngày 20/7/2020): Ông Bùi Đức Q - Tổng Giám đốc Ngân hàng Q1 - Ngân hàng TMCP H4;

Đại diện theo ủy quyền lại của nguyên đơn (Theo giấy ủy quyền số 4310/2024/GUQ-TGĐ12 ngày 28/5/2024):

  • - Bà Nguyễn Thanh H1, sinh năm 1975 - Chuyên viên cao cấp - Phòng tố tụng – NHQLTD (Có mặt);
  • - Bà Hoàng Hồng T, sinh năm 1983 - Chuyên viên cao cấp - Phòng tố tụng - MBS (Vắng mặt);
  • - Bà Trần Thị Phương T1, sinh năm 1982 - Chuyên viên cao cấp - Phòng tố tụng – MBS (Vắng mặt);
  • - Ông Nguyễn Trung H2, sinh năm 1988 - Trưởng nhóm tố tụng - Phòng tố tụng – NHQLTD (Vắng mặt);
  • - Cùng địa chỉ: Tầng B, Tòa nhà T, E, N, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội;

Bị đơn: Ông Đặng Thanh T2, sinh năm 1971; Địa chỉ: Khu B, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (Vắng mặt).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • + Bà Trần Thị N, sinh năm 1986; (Vắng mặt).
  • + Chị Đặng Thanh T3, sinh năm 2006; (Vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Khu B, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 08/05/2024 cùng với các lời khai tiếp theo tại Toà án và tại phiên toà ngày hôm nay, nguyên đơn là Ngân hàng TMCP H4 và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Ngày 18/09/2017, Ngân hàng TMCP H4 (Viết tắt là M) và ông Đặng Thanh T2 có ký kết Hợp đồng cho vay số: 63/2017/HĐCV hai bên thống nhất việc Ngân hàng cho ông Đặng Thanh T2 vay tiền theo nội dung thỏa thuận sau đây:

  • - Số tiền nhận nợ: 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng).
  • - Ngày nhận nợ: 18/09/2017
  • - Thời hạn vay: 60 tháng.
  • - Lãi suất cho vay áp dụng từ ngày giải ngân đầu tiên đến ngày 18/09/2022 là: 18%/năm hàng tháng và được điều chỉnh theo công thức: Lãi suất cho vay - Lãi suất cơ bản áp dụng cho khách hàng cá nhân được công bố tại thời điểm điều chỉnh + biên độ 6%/năm.
  • - Mục đích vay: Sửa chữa nhà ở.
  • - Lãi suất quá hạn bằng: 150% lãi suất cho vay trong hạn.
  • - Hình thức trả nợ gốc và lãi: Nợ gốc trả đều hàng tháng, lãi trả hàng tháng tính trên dư nợ thực tế giảm dần.
  • + Số kỳ trả gốc: 60 kỳ. Ngày trả nợ gốc lần đầu tiên vào ngày 06/11/2017. Các kỳ tiếp theo nợ gốc được trả 01 tháng/lần vào mùng 6 hàng tháng. Số tiền gốc phải trả từ kỳ 1 đến kỳ 59 là 4.166.667 đồng. Riêng kỳ 60 là: 4.166.647 đồng.
  • + Số kỳ trả lãi: 60 kỳ. Ngày trả nợ lãi đầu tiên vào ngày 06/11/2017. Các kỳ tiếp theo nợ lãi được trả 01 tháng/lần vào mùng 6 hàng tháng.

Tài sản đảm bảo cho khoản vay là: Khoản vay trên là khoản vay tín chấp, không có tài sản đảm bảo.

Quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng:

Thực hiện Hợp đồng cho vay nêu trên, M đã giải ngân cho ông Đặng Thanh T2 số tiền 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng) theo Khế ước nhận nợ số: 63/2017/CVCN ngày 18/09/2017.

Trong quá trình thực hiện Hợp đồng, ông Đặng Thanh T2 đã đã trả cho Ngân hàng số tiền 49.990.000 đồng (Bốn mươi chín triệu, chín trăm chín mươi nghìn đồng). Trong đó: trả Nợ gốc là 25.348.564 đồng và trả nợ lãi là 24.641.436 đồng. Ông T2 đã vi phạm nghĩa vụ trả từ ngày 06/4/2018, dẫn đến khoản vay bị chuyển sang nợ quá hạn. Mặc dù, MSB đã đôn đốc, tạo điều kiện nhiều lần nhưng ông Đặng Thanh T2 vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho MSB, làm xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp MSB.

Tạm tính đến hết ngày 08/05/2024, tổng dư nợ khoản vay của ông Đặng Thanh T2 tại M là: 600.567.604 đồng (Sáu trăm triệu năm trăm sáu mươi bày nghìn sáu trăm linh bốn đồng). Trong đó:

  • + Nợ gốc: 224.651.436 đồng.
  • + Nợ lãi : 285.805.590 đồng.
  • + Nợ lãi quá hạn: 90.110.579 đồng.

Nay Ngân hàng TMCP H4 yêu cầu Toà án buộc ông Đặng Thanh T2 có nghĩa vụ thanh toán cho M toàn bộ dư nợ gốc và lãi vay theo Hợp đồng cho vay cùng Khế ước nhận nợ đã ký nêu trên giữa MSB với ông Đặng Thanh T2. Tổng số tiền tạm tính đến hết ngày 08/05/2024, ông Đặng Thành T4 còn nợ MSB là: 600.567.604 đồng (Sáu trăm triệu năm trăm sáu mươi bày nghìn sáu trăm linh bốn đồng). Trong đó, nợ gốc là: 224.651.436 đồng; nợ lãi trong hạn là: 285.805.590 đồng; nợ lãi quá hạn là: 90.110.579 đồng.

Kể từ ngày 09/05/2024, ông Đặng Thanh T2 còn phải chịu lãi suất phát sinh trên dư nợ gốc còn lại theo mức lãi suất nợ quá hạn quy định tại Hợp đồng cho vay, Khế ước nhận nợ đã ký nêu trên cho đến khi ông T2 thanh toán hết nợ cho Ngân hàng TMCP H4.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành triệu tập ông Đặng Thanh T2 để làm rõ việc ông T2 vay nợ của Ngân hàng số tiền bao nhiêu và đã trả được tiền gốc, tiền lãi cho Ngân hàng là bao nhiêu, và quan điểm của ông T2 như thế nào trước yêu cầu của nguyên đơn, nhưng ông T2 cố tình vắng mặt.

Tại phiên tòa ngày hôm nay đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện cụ thể như sau: Yêu cầu Tòa án buộc ông Đặng Thanh T2 phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP H4 toàn bộ số tiền gốc đã vay còn nợ là 224.651.436 đồng cùng với tiền lãi trong hạn là 290.851.144 đồng và tiền lãi quá hạn là 97.833.765 đồng; tổng cộng là 613.336.345 đồng (Tạm tính đến ngày 29/11/2024); ông T2 vẫn phải chịu lãi suất theo thỏa thuận cho tính từ ngày 30/11/2024 đến khi thanh toán xong toàn bộ tiền gốc và lãi cho Ngân hàng.

Toà án đã triệu tập các bên đương sự để hoà giải, do bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nên Tòa án không hòa giải được.

Tòa án đã tiến hành giao quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị đơn là ông Đặng Thanh T2 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị N và chị Đặng Thanh T3, nhưng ông T2, bà N và chị T3 vẫn vắng mặt, nên Tòa án căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do phía nguyên đơn cung cấp để tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định của Pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu và kết luận việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, HĐXX, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật. Về hướng giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 26, 35, 39, 97, 98, 203, 208, 209, 210, 220 BLTTDS; Các Điều 280, 463, 465, 466, 468, 470 BLDS 2015; Các Điều 90, 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH 14 đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP H4.
  • - Buộc ông Đặng Thanh T2 phải trả cho Ngân hàng TMCP H4 toàn bộ số tiền gốc đã vay còn nợ là 224.651.436 đồng, cùng với lãi trong hạn là 290.851.144 đồng và tiền lãi quá hạn là 97.833.765 đồng; tổng cộng là 613.336.345 đồng - Tính đến ngày 29/11/2024; Ông T2 vẫn phải chịu lãi suất theo thỏa thuận cho tính từ ngày 30/11/2024 đến khi thanh toán xong toàn bộ tiền gốc và lãi cho Ngân hàng.
  • + Ông T2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án, Quan hệ tranh chấp và thời hiệu khởi kiện:

Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ Tranh chấp Hợp đồng tín dụng (Hợp đồng vay tài sản) quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh quy định tại Khoản 3 Điều 26; Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thời hiệu khởi kiện: Xét thấy ông T2 và ngân hàng H4 ký kết Hợp đồng cho vay ngày 18/9/2017. Về thời hiệu khởi kiện theo Hợp đồng cho vay thì thời hạn vay là đến ngày 18/9/2022; Ngày 08/05/2024, nguyên đơn nộp đơn khởi kiện là còn thời hiệu khởi kiện quy định tại Điều 429 Bộ luật dân sự và Điều 189, Điều 190 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung:

Do cần tiền để trả tiền để chi tiêu, nên ông Đặng Thanh T2 đã ký hợp đồng tín dụng số 63/2017/HĐCV ngày 18/09/2017 với Ngân hàng TMCP H4, để vay số tiền là 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng), hai bên thỏa thuận thời hạn vay là 60 tháng lãi suất vay: 18%/năm, tính trên dư nợ thực tế và được điều chỉnh theo Thông báo của Ngân hàng TMCP H4. Khoản vay không có tài sản bảo đảm; Mục đích vay: Sửa nhà ở. Lãi suất quá hạn bằng: 150% lãi suất cho vay trong hạn.

Hình thức trả nợ gốc và lãi: Nợ gốc trả đều hàng tháng, lãi trả hàng tháng tính trên dư nợ thực tế giảm dần.

Số kỳ trả gốc: 60 kỳ. Ngày trả nợ gốc lần đầu tiên vào ngày 06/11/2017. Các kỳ tiếp theo nợ gốc được trả 01 tháng/lần vào mùng 6 hàng tháng. Số tiền gốc phải trả từ kỳ 1 đến kỳ 59 là 4.166.667 đồng. Riêng kỳ 60 là: 4.166.647 đồng.

Số kỳ trả lãi: 60 kỳ. Ngày trả nợ lãi đầu tiên vào ngày 06/11/2017. Các kỳ tiếp theo nợ lãi được trả 01 tháng/lần vào mùng 6 hàng tháng.

Ngoài ra hợp đồng còn ghi nhận một số quyền, nghĩa vụ của các bên.

Xét về chủ thể tham gia giao kết hợp đồng:

Xét nội dung của hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật, không vi phạm các điều cấm của pháp luật. Hợp đồng được các bên ký kết hoàn toàn tự nguyện, các chủ thể tham gia ký kết có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự đầy đủ, nội dung và hình thức của hợp đồng có đủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự được quy định tại Điều 117 của BLDS năm 2015. Do vậy hợp đồng hợp pháp.

Sau khi ký kết hợp đồng Ngân hàng đã giải ngân đầy đủ số tiền 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng) vào ngày 18/9/2017 và ông T2 đã nhận đủ tiền. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Đặng Thanh T2 mới thanh toán cho Ngân hàng được số tiền 49.990.000 đồng (Bốn mươi chín triệu, chín trăm chín mươi nghìn đồng). Trong đó: trả Nợ gốc là 25.348.564 đồng (Hai mươi lăm triệu ba trăm bốn mươi tám nghìn năm trăm sáu mươi bốn đồng) và trả nợ lãi là 24.641.436 đồng (Hai mươi bốn triệu sáu trăm bốn mươi mốt nghìn bốn trăm ba mươi sáu đồng). Ông T2 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 06/4/2018, dẫn đến khoản vay bị chuyển sang nợ quá hạn.

Nay Ngân hàng Thương mại cổ phần H4 yêu cầu ông T2 phải thanh toán cho Ngân hàng toàn bộ số tiền gốc đã vay còn nợ là 224.651.436 đồng (Hai trăm hai mươi bốn triệu sáu trăm năm mươi mốt nghìn bốn trăm ba mươi sáu đồng), cùng với lãi trong hạn là 290.851.144 đồng (Hai trăm chin mươi triệu tám trăm năm mươi mốt nghìn một trăm bốn mươi bốn đồng) và tiền lãi quá hạn là 97.833.765 đồng (Chín mươi bẩy triệu tám trăm ba mươi ba nghìn bẩy trăm sáu mươi lăm đồng); Tổng cộng là 613.336.345 đồng (Sáu trăm mười ba triệu ba trăm ba mươi sáu nghìn ba trăm bốn mươi lăm đồng) - tạm tính đến ngày 29/11/2024; ông T2 vẫn phải chịu lãi suất theo thỏa thuận cho tính từ ngày 30/11/2024 đến khi thanh toán xong toàn bộ tiền gốc và lãi cho Ngân hàng.

Xét yêu cầu này của Ngân hàng Thương mại cổ phần H4, Hội đồng xét xử thấy yêu cầu của Ngân hàng là hoàn toàn có căn cứ cần được chấp nhận.

Mặt khác, theo nội dung của hợp đồng, ông T2 vay tiền với mục đích để sửa nhà, chỉ có một mình ông T2 ký hợp đồng; Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập ông T2, vợ của ông T2 là bà Trần Thị N và con của ông T2 là chị Đặng Thanh T3 để làm rõ việc ông T2 vay tiền của Ngân hàng có sử dụng vào việc sửa chữa nhà hay không, nhưng cả ba người này đều vắng mặt, nên không có cơ sở để buộc bà N và chị T3 phải có trách nhiệm cùng với ông T2 trả nợ cho Ngân hàng, mà chỉ có thể buộc ông T2 phải có trách nhiệm trả toàn bộ số tiền đã vay còn nợ cho Ngân hàng.

Tại phiên tòa ngày hôm nay Ngân hàng TMCP H4 bổ sung yêu cầu là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 70; 71 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP H4 được chấp nhận toàn bộ, do vậy ông Đặng Thanh T2 phải chịu toàn bộ án phí theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy Ban T5.

Hoàn trả Ngân hàng TMCP H4 tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các điều 26, 35, 39, 147, 227, 228, 239, 243, 254, 260, 261, 262, 264, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ các Điều 90, 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng.

Căn cứ Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy Ban T5 về thu nộp án phí, lệ phí.

Áp dụng các Điều 398, 463, 466, 468, 470 Bộ luật dân sự năm 2015.

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần H4.
  2. Buộc ông Đặng Thanh T2 phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần H4 toàn bộ số tiền gốc đã vay còn nợ theo hợp đồng tín dụng số 63/2017/HĐCV ngày 18/09/2017 là 224.651.436 đồng (Hai trăm hai mươi bốn triệu sáu trăm năm mươi mốt nghìn bốn trăm ba mươi sáu đồng), cùng với lãi trong hạn là 290.851.144 đồng (Hai trăm chin mươi triệu tám trăm năm mươi mốt nghìn một trăm bốn mươi bốn đồng) và tiền lãi quá hạn là 97.833.765 đồng Chín mươi bẩy triệu tám trăm ba mươi ba nghìn bẩy trăm sáu mươi lăm đồng); Tổng cộng là 613.336.345 đồng (Sáu trăm mười ba triệu ba trăm ba mươi sáu nghìn ba trăm bốn mươi lăm đồng) - Tính đến ngày 29/11/2024; ông T2 vẫn phải chịu lãi suất theo thỏa thuận cho tính từ ngày 30/11/2024 đến khi thanh toán xong toàn bộ tiền gốc và lãi cho Ngân hàng.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  1. Về án phí: Ông Đặng Thanh T2 phải chịu 28.533.454 đồng án phí DSST.

Hoàn trả Ngân hàng TMCP H4 14.010.000 đồng (Mười bốn triệu không trăm mười nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000889 ngày 04/07/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án, hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND TP Bắc Ninh;
  • - THADS TP Bắc Ninh;
  • - Các đương sự.
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Vũ Văn H3

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Quang Hợi

Nguyễn Thị Liên

Vũ Văn Hoan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2024/DS-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 04/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần H4. 2. Buộc ông Đặng T2 Tùng phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần H4 toàn bộ số tiền gốc đã vay còn nợ theo hợp đồng tín dụng số 63/2017/HĐCV ngày 18/09/2017 là 224.651.436 đồng (Hai trăm hai mươi bốn triệu sáu trăm năm mươi mốt nghìn bốn trăm ba mươi sáu đồng), cùng với lãi trong hạn là 290.851.144 đồng (Hai trăm chin mươi triệu tám trăm năm mươi mốt nghìn một trăm bốn mươi bốn đồng) và tiền lãi quá hạn là 97.833.765 đồng Chín mươi bẩy triệu tám trăm ba mươi ba nghìn bẩy trăm sáu mươi lăm đồng); Tổng cộng là 613.336.345 đồng (Sáu trăm mười ba triệu ba trăm ba mươi sáu nghìn ba trăm bốn mươi lăm đồng) - Tính đến ngày 29/11/2024; ông T2 vẫn phải chịu lãi suất theo thỏa thuận cho tính từ ngày 30/11/2024 đến khi thanh toán xong toàn bộ tiền gốc và lãi cho Ngân hàng. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. 3. Về án phí: Ông Đặng Thanh T2 phải chịu 28.533.454 đồng án phí DSST. Hoàn trả Ngân hàng TMCP H4 14.010.000 đồng (Mười bốn triệu không trăm mười nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000889 ngày 04/07/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh. Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 n
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger