Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KIẾN THỤY

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 04/2024/DS-ST

Ngày 29-5-2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

-

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngà

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Cao Văn Tân

Bà Vũ Thị Quỳ

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Phượng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Tuyết C - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Kiến Thụy xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 43/2023/TLST-DS ngày 25 tháng 12 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2024/QĐXX-ST ngày 22 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 08/2024/QĐST-DS ngày 17 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần C2; địa chỉ: Số A T, quận H, thành phố Hà Nội.

- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Vũ Hoàng V - Trưởng phòng bán lẻ; địa chỉ: Số B đường L, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Văn bản ủy quyền số 1190/UQ-HĐQT-NHCT-PCTT3 ngày 05/12/2023); có mặt.

- Bị đơn: Anh Trần Viết C1, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn Đ (nay là Thôn I), xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày: Ngân hàng Thương mại cổ phần C2 cấp tín dụng cho anh Trần Viết C1 theo Hợp đồng cho vay số 18./NVD.016/2018-HĐCV/NHCT162 ngày 24/4/2018; số tiền vay và giải ngân là 647.000.000đ (sáu trăm bốn mươi bẩy triệu đồng) theo giấy nhận nợ số 01/CIF: 2000699284 ngày 24/4/2018; mục đích vay: Thanh toán chi phí mua xe ô tô để phục vụ đi lại; thời hạn vay: 60 tháng; lãi suất cho vay trong hạn : Là lãi suất cho vay ưu đãi tại thời điểm nhận nợ là 8%/năm. Thời hạn ưu đãi: áp dụng 12 tháng kể từ ngày giải ngân khoản nợ này. Hết thời hạn áp dụng lãi suất ưu đãi thì lãi suất cho vay được xác định theo quy định tại Điều 2 Hợp đồng cho vay. Trong đó, lãi suất cho vay được xác định bằng lãi suất cơ sở cộng biên độ 4%/năm; lãi suất đối với dư nợ gốc quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; lãi suất chậm trả bằng 10%/năm tính trên số dư nợ lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lịch trả nợ gốc, lãi vay: Ngày 25 hàng tháng, ngày trả gốc, lãi đầu tiên là 25/05/2018. Mỗi kỳ hạn trả nợ gốc, anh C1 phải trả như sau: Từ kỳ 01 đến kỳ 29: 10.780.000 đồng/kỳ; kỳ 30 phải trả: 10.980.000 đồng. Anh C1 đã nhận đủ số tiền 647.000.000 đồng vào ngày 26/4/2018.

Tài sản bảo đảm thực hiện nghĩa vụ cho hợp đồng vay: Là 01 xe ô tô con nhãn hiệu Ford, màu bạc, biển kiểm soát 15C - 290.07, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 063331 do Phòng Cảnh sát giao thông - Công an thành phố H cấp ngày 18/4/2018 đứng tên chủ xe Trần Viết C1, số máy P5AT2562911, số khung FF50JW802021; theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 18.NVD.016/2018/HĐBĐ/NHCT162 ngày 24/4/2018 ký giữa anh C1Ngân hàng Thương mại cổ phần C2 - Chi nhánh Đ - Phòng G. Hợp đồng thế chấp đã được công chứng tại Văn phòng C3, thành phố Hải Phòng, số công chứng 1608, quyển số 22/2018.TP/CC-SCC/HĐGD ngày 24/4/2018. Tài sản đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại thành phố Hà Nội ngày 20/4/2022 đúng theo quy định pháp luật.

Quá trình thực hiện Hợp đồng cho vay số 18./NVD.016/2018-HĐCV/NHCT162 ngày 24/4/2018: Anh C1 không thanh toán các khoản nợ đến hạn theo đúng các kỳ hạn đã cam kết, để phát sinh khoản nợ quá hạn đầu tiên vào ngày 03/01/2020. Kể từ đó, các khoản nợ gốc, lãi đến hạn đều không thanh toán đúng thời hạn. Ngân hàng thương mại cổ phần C2 đã nhiều lần làm việc với khách hàng để đôn đốc nghĩa vụ trả nợ, nhiều lần gửi Thông báo v/v trả nợ quá hạn vào ngày 09/02/2021 và ngày 07/3/2023 nhưng anh C1 vẫn không thực hiện đầy đủ và đúng hạn các thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, không thực hiện tất toán khoản vay theo thông báo. Tính đến thời điểm xét xử ngày 29/5/2024 anh C1 đã thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần C2 như sau: Nợ gốc đã trả 379.620.000 đồng; nợ lãi đã trả: 210.174.246 đồng; tổng số tiền đã trả: 589.794.246 đồng.

2

Nay Ngân hàng thương mại cổ phần C2 đề nghị Tòa án giải quyết các yêu cầu sau:

  1. Buộc anh C1 phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần C2 số tiền tạm tính đến ngày xét xử ngày 29/5/2024 là: 407.987.303 đồng. Trong đó, nợ gốc: 267.380.000 đồng; lãi trong hạn: 108.079.830 đồng; lãi quá hạn: 32.527.473 đồng. Anh C1 phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh từ ngày 30/5/2024 cho đến khi thanh toán xong cho Ngân hàng thương mại cổ phần C2.
  2. Trong trường hợp anh C1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng thương mại cổ phần C2 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ là 01 xe ô tô con nhãn hiệu Ford, màu bạc, biển kiểm soát 15C - 290.07, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 063331 do Phòng Cảnh sát giao thông - Công an thành phố H cấp ngày 18/4/2018 đứng tên chủ xe Trần Viết C1, số máy P5AT2562911, số khung FF50JW802021.

Bị đơn là anh Trần Viết C1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng thông qua bố đẻ là ông Trần Viết M. Nhưng anh C1 không đến Tòa án để trình bày lời khai, tham gia phiên họp và hòa giải, từ chối khai báo, vắng mặt không có lý do chính đáng. Tòa án mở phiên tòa xét xử lần thứ hai, anh C1 vẫn vắng mặt và không có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần C2.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đầy đủ quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố Tụng dân sự. Tại phiên tòa, anh C1 là bị đơn vắng mặt, nhưng đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai; đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.

- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 116, 117, 274, 275, 280, 317, 318, 319, 320, 323, 357, 463, 466 Bộ luật Dân sự; các điều 90, 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Đề nghị Hội đồng xét xử:

3

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần C2. Buộc anh C1 trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần C2 số tiền nợ tính đến ngày xét xử ngày 29/5/2024 là: 407.987.303 đồng. Trong đó, nợ gốc: 267.380.000 đồng; lãi trong hạn: 108.079.830 đồng; lãi quá hạn: 32.527.473 đồng.

Kể từ ngày 30/5/2024 cho đến khi thi hành án xong, anh C1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số 18./NVD.016/2018-HĐCV/NHCT162 ngày 24/4/2018 và giấy nhận nợ số 01/CIF: 2000699284 ngày 24/4/2018 được ký kết giữa Ngân hàng thương mại cổ phần C2 và anh C1. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

2. Trong trường hợp anh C1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng thương mại cổ phần C2 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản đã thế chấp để thực hiện nghĩa vụ bảo đảm đã cam kết theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 18.NVD.016/2018/HĐBĐ/NHCT162 ngày 24/4/2018 ký giữa Ngân hàng thương mại cổ phần C2 và anh C1 là 01 xe ô tô con nhãn hiệu Ford, màu bạc, biển kiểm soát 15C - 290.07, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 063331 do Phòng Cảnh sát giao thông - Công an thành phố H cấp ngày 18/4/2018 đứng tên chủ xe Trần Viết C1, số máy P5AT2562911, số khung FF50JW802021.

- Về án phí: Anh C1 phải chịu 20.319.492 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét và công bố tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Giữa Ngân hàng thương mại cổ phần C2 và anh C1 có ký hợp đồng tín dụng vay tiền, mục đích vay là thanh toán một phần tiền mua xe ô tô. Nay Ngân hàng thương mại cổ phần C2 yêu cầu anh C1 thực hiện các nghĩa vụ theo hợp đồng đã ký kết. Anh C1 có nơi cư trú tại thôn I, xã T, huyện K; căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đây là quan hệ pháp luật về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy.

4

[2] Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Tại phiên tòa, anh C1 là bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.

[3] Về Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp: Ngân hàng thương mại cổ phần C2 và anh Trần Viết C1 cùng thỏa thuận ký Hợp đồng cho vay số 18./NVD.016/2018-HĐCV/NHCT162 và giấy nhận nợ số 01/CIF: 2000699284 cùng ngày 24/4/2018. Theo hợp đồng, Ngân hàng thương mại cổ phần C2 cho anh C1 vay số tiền 647.000.000₫ (sáu trăm bốn mươi bẩy triệu đồng); thời hạn vay: 60 tháng; lãi suất được quy định cụ thể trong Hợp đồng cho vay và giấy nhận nợ, cụ thể lãi suất cho vay trong hạn : Là lãi suất cho vay ưu đãi tại thời điểm nhận nợ là 8%/năm. Thời hạn ưu đãi: áp dụng 12 tháng kể từ ngày giải ngân khoản nợ này. Hết thời hạn áp dụng lãi suất ưu đãi thì lãi suất cho vay được xác định theo quy định tại Điều 2 Hợp đồng cho vay. Trong đó, lãi suất cho vay được xác định bằng lãi suất cơ sở cộng biên độ 4%/năm; lãi suất đối với dư nợ gốc quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; lãi suất chậm trả bằng 10%/năm tính trên số dư nợ lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Tài sản bảo đảm thực hiện nghĩa vụ cho hợp đồng vay: Là 01 xe ô tô con nhãn hiệu Ford, màu bạc, biển kiểm soát 15C - 290.07, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 063331 do Phòng Cảnh sát giao thông - Công an thành phố H cấp ngày 18/4/2018 đứng tên chủ xe Trần Viết C1, số máy P5AT2562911, số khung FF50JW802021. Ngân hàng thương mại cổ phần C2 và anh Trần Viết C1 cùng thỏa thuận ký Hợp đồng thế chấp tài sản số 18.NVD.016/2018/HĐBĐ/NHCT162 ngày 24/4/2018; đã được công chứng tại Văn phòng C3, thành phố Hải Phòng, số công chứng 1608, quyển số 22/2018.TP/CC-SCC/HĐGD ngày 24/4/2018; đã thực hiện việc đăng ký giao dịch bảo đảm đúng theo quy định của pháp luật về đăng ký biện pháp bảo đảm. Xét thấy khi ký kết Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp các bên tự nguyện, không bị ép buộc; mục đích và nội dung của các hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức của hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật nên làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm hợp đồng được xác lập và buộc các bên phải thực hiện. Quá trình thực hiện hợp đồng, Ngân hàng thương mại cổ phần C2 đã thực hiện nghĩa vụ giao tiền cho anh C1 vay đầy đủ theo đúng cam kết tại Hợp đồng tín dụng. Mặc dù đã nhận tiền vay nhưng anh C1 đã không thực hiện nghĩa vụ trả tiền khi đến hạn. Do anh C1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng thương mại cổ phần C2 khởi kiện là có căn cứ, phù hợp với Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015, cần chấp nhận.

5

[4] Về tài sản bảo đảm: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã ra quyết định tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp là xe ô tô nêu trên. Tuy nhiên, anh C1 vắng mặt và không mang tài sản thế chấp đến địa điểm xem xét, thẩm định nên việc xem xét, thẩm định tại chỗ không tiến hành được. Tòa án đã có công văn gửi Công an huyện K để cung cấp thông tin liên quan đến xe ô tô trên. Tại Công văn số 58/CAKT ngày 24/01/2024 và Phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của Công an huyện K đã xác định: 01 xe ô tô con biển kiểm soát 15C - 290.07, nhãn hiệu Ford, số loại Ranger, màu bạc, số máy P5AT2562911, số khung FF50JW802021, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 063331 do Phòng Cảnh sát giao thông - Công an thành phố H cấp ngày 18/4/2018 đứng tên chủ xe Trần Viết C1 trú tại Đ, T, K, Hải Phòng, trên hệ thống thể hiện trạng thái: “Đang lưu hành, không sang tên, thu hồi”.

[5] Về khoản tiền nợ gốc và nợ lãi: Bảng kê tính gốc, lãi theo hợp đồng tính đến ngày xét xử (ngày 29/5/2024) của Ngân hàng thương mại cổ phần C2 thể hiện anh C1 còn nợ tổng số tiền là 407.987.303 đồng. Trong đó, nợ gốc: 267.380.000 đồng; lãi trong hạn: 108.079.830 đồng; lãi quá hạn: 32.527.473 đồng. Xét đây là khoản tiền các bên đã có thỏa thuận, lãi suất thỏa thuận phù hợp với Điều 275, 280, 357, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015, nên việc Ngân hàng thương mại cổ phần C2 yêu cầu anh C1 trả nợ là có căn cứ chấp nhận.

[6] Kể từ ngày 30/5/2024 cho đến khi thi hành án xong, anh C1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số 18./NVD.016/2018-HĐCV/NHCT162 và giấy nhận nợ số 01/CIF: 2000699284 cùng ngày 24/4/2018 được ký kết giữa Ngân hàng thương mại cổ phần C2 và anh C1. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

[7] Trong trường hợp anh C1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng thương mại cổ phần C2 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản bảo đảm là 01 xe ô tô nêu trên.

[8] Về án phí: Anh C1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án dân sự có giá ngạch theo quy định của pháp luật là: 20.000.000 đồng + 4% của phần giá trị tranh chấp vượt quá 400.000.000 đồng (tức là 4% của 7.987.303 đồng) = 20.319.492 đồng.

[9] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

6

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các điều 116, 117, 274, 275, 280, 282, 317, 318, 319, 320, 323, 357, 463, 466 Bộ luật Dân sự;

Căn cứ các điều 90, 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần C2.

    Buộc anh Trần Viết C1 phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần C2 số tiền tính đến ngày xét xử (ngày 29/5/2024) là: 407.987.303₫ (Bốn trăm linh bảy triệu, chín trăm tám mươi bảy nghìn, ba trăm linh ba đồng). Trong đó, nợ gốc: 267.380.000 đồng; lãi trong hạn: 108.079.830 đồng; lãi quá hạn: 32.527.473 đồng.

    Kể từ ngày 30/5/2024 cho đến khi thi hành án xong, anh Trần Viết C1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số 18./NVD.016/2018-HĐCV/NHCT162 và giấy nhận nợ số 01/CIF: 2000699284 cùng ngày 24/4/2018 được ký kết giữa Ngân hàng thương mại cổ phần C2 và anh Trần Viết C1. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

  2. Trong trường hợp anh Trần Viết C1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng thương mại cổ phần C2 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản đã thế chấp để thực hiện nghĩa vụ bảo đảm đã cam kết theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 18.NVD.016/2018/HĐBĐ/NHCT162 ngày 24/4/2018 đã ký giữa anh Trần Viết C1 - bên thế chấp và Ngân hàng thương mại cổ phần C2 - bên nhận thế chấp. Tài sản thế chấp là 01 xe ô tô con biển kiểm soát 15C - 290.07, nhãn hiệu Ford, số loại Ranger, màu bạc, số máy P5AT2562911, số khung FF50JW802021, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 063331 do Phòng Cảnh sát giao thông - Công an thành phố H cấp ngày 18/4/2018 đứng tên chủ xe Trần Viết C1.
  3. Về án phí: Anh Trần Viết C1 phải chịu 20.319.492đ (hai mươi triệu, ba trăm mười chín nghìn, bốn trăm chín mươi hai đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

    Hoàn trả lại Ngân hàng thương mại cổ phần C2 số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 9.199.000đ (chín triệu, một trăm chín mươi chín nghìn đồng) theo biên lai số 0007820 ngày 25/12/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Thụy.

7

4. Về quyền kháng cáo: Ngân hàng thương mại cổ phần C2 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Anh Trần Viết C1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TANDTP Hải Phòng;
  • - VKSND huyện Kiến Thụy;
  • - Chi cục THADS huyện Kiến Thụy;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Ngà

HỘI THẨM NHÂN DÂN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Văn Tân

Phạm Thị Ngà

Vũ Thị Quỳ

8

9

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2024/DS-ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 04/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP C và Trần Viết C
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger