TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG NHÉ TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số 04/2024/HS-ST Ngày 24-10-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG NHÉ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Nhung
- Các hội thẩm nhân dân: Ông Lầu A Tính
- Ông Vi Văn Thuy
- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Tố Uyên-Thư ký Toà án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thương - Kiểm sát viên.
Ngày 24/10/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên. Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 04/2024/TLST-HS ngày 09/10/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2024/QĐXXST-HS ngày 14/10/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vàng Thị B; Sinh năm 1980 tại huyện Th, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: Bản V, xã N, huyện M, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ văn hoá: không; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vàng A Th (đã chết) và bà Giàng Thị D (sinh năm 1960); có chồng là Lù A Ch (sinh năm 1979) và có 03 con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo chưa bị kết án, chưa bị xử phạt, xử lý hành chính; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/7/2024 đến ngày 08/8/2024, bị tạm giam từ 08/8/2024 đến nay, có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lường Văn B, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 05 giờ ngày 30/7/2024 Vàng Thị B một mình đi bộ từ nhà đến khu vực bản N, xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên tìm mua ma túy về sử dụng, khoảng 15 giờ cùng ngày B đi đến bản N, xã M thì gặp một người đàn ông dân tộc Mông lạ mặt, qua trao đổi B mua được của người đàn ông đó 01 gói thuốc phiện được gói trong mảnh nilon trong suốt với giá tiền 300.000 đồng. Sau khi đưa ma túy cho B người đàn ông lạ mặt đi đâu B không biết, còn B cất giấu số ma túy vừa mua được ở túi quần bên phải mặc trên người, đến 18 giờ 50 phút cùng ngày B đang đi bộ ở bản N, xã M, huyện M thì bị tổ công tác Công an huyện Mường Nhé phát hiện, bắt quả tang. Tổ công tác thu giữ của B 01 gói thuốc phiện có khối lượng 28,31 gam được gói trong mảnh nilon trong suốt. Bị cáo khai nhận mục đích mua ma túy về để sử dụng cho bản thân.
Kết luận giám định số 1291/KL-KTHS ngày 06/8/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Vật chứng thu giữ của Vàng Thị B có khối lượng 28,31 gam chất nhựa dẻo màu nâu đen là chất ma túy: Loại: Thuốc phiện; Hoàn lại đối tượng giám định là 13,9 gam thuốc phiện.
Cáo trạng số 56/CT-VKS-MN ngày 08/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé đã truy tố Vàng Thị B để xét xử về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Cáo trạng truy tố, phần luận tội đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị: Tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, về hình phạt chính, đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù; không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự; Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu tiêu hủy số thuốc phiện được hoàn lại sau giám định là 13,9 gam và 01 mảnh nilon trong suốt; Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội và xét đơn đề nghị miễn án phí của bị cáo đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo nhất trí với Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát, nhất trí với luận tội về tội danh; điều khoản áp dụng; hình phạt bổ sung; xử lý vật chứng vụ án và án phí; phần hình phạt chính đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã tóm tắt ở trên và đúng như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo không tranh luận gì với Luận tội của Viện kiểm sát. Lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Xét hành vi phạm tội và những căn cứ xác định tội danh của bị cáo:
Tại phiên tòa bị cáo Vàng Thị B khai: Khoảng 15 giờ ngày 30/7/2024 bị cáo mua được 28,31 gam thuốc phiện được gói trong mảnh ni lon trong suốt của một người đàn ông dân tộc Mông lạ mặt với giá tiền 300.000 đồng tại bản N, xã M, huyện M. Sau khi mua được ma túy người đàn ông lạ mặt đi đâu bị cáo không biết, còn bị cáo cất số ma túy vừa mua được ở túi quần bên phải, đến 18 giờ 50 phút cùng ngày bị cáo đang đi bộ ở bản N, xã M, huyện M thì bị tổ công tác Công an huyện Mường Nhé phát hiện, bắt quả tang. Tổ công tác thu giữ của bị cáo 01 gói thuốc phiện có khối lượng 28,31 gam được gói trong mảnh nilon trong suốt. Mục đích bị cáo mua thuốc phiện về để sử dụng cho bản thân. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai và các bản cung có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, phù hợp với Kết luận giám định, Kết luận điều tra, Cáo trạng truy tố và các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ để xác định hành vi tàng trữ trái phép 28,31 gam thuốc phiện với mục đích để sử dụng của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé truy tố bị cáo để xét xử về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[2] Xét tính chất vụ án: Đây là vụ án nghiêm trọng về ma túy, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách thống nhất quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, đi ngược lại đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước trong việc đấu tranh phòng ngừa các tội phạm về ma túy, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
[3] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy cần xử phạt bị cáo nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Xét đề nghị của Viện kiểm sát và người bào chữa là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật nên cần xử phạt bị cáo như đề nghị của Viện kiểm sát và người bào chữa.
[5] Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, bị cáo còn có thể chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền, tuy nhiên xét hoàn cảnh kinh tế gia đình của bị cáo khó khăn, xác minh tại nơi ở của bị cáo không có tài sản gì có giá trị, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát và người bào chữa không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
[6] Đối với người đàn ông dân tộc Mông lạ mặt đã bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo không biết tên tuổi địa chỉ của người này, Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh nên không có cơ sở để xử lý.
[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 13,9 gam thuốc phiện được hoàn lại sau khi đã giám định (Khối lượng thuốc phiện thu giữ là 28,31 gam, đã gửi toàn bộ giám định, hoàn lại mẫu vật sau khi giám định là 13,9 gam thuốc phiện) và 01 mảnh nilon trong suốt, xét thấy đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành, vật chứng không có giá trị sử dụng cần căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu, tiêu hủy.
[8] Về án phí: Xét thấy bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, thường trú ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và đã có đơn đề nghị miễn án phí nên căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát và người bào chữa miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
[9] Về quyền kháng cáo: Theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án.
[10] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mường Nhé, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người bào chữa. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người bào chữa đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm b khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố bị cáo Vàng Thị B phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý". Xử phạt bị cáo Vàng Thị B 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 30/7/2024.
- Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu huỷ 13,9 gam thuốc phiện còn lại sau khi đã giám định và 01 mảnh nilon trong suốt. Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/10/2024 giữa Công an huyện Mường Nhé và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Nhé.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 24/10/2024).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Nhung |
Bản án số 04/2024/HS-ST ngày 24/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG NHÉ, TỈNH ĐIỆN BIÊN về hình sự sơ thẩm về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 04/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG NHÉ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vàng Thị B tàng trữ trái phép chất ma túy
