Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TIÊN YÊN

TỈNH QUẢNG NINH

Bản án số: 04/2024/DS-ST

Ngày: 24/6/2024

V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín

dụng, hợp đồng thế chấp

quyền sử dụng đất”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN YÊN, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Nhật Quang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Mạnh Cường

Ông Nguyễn Trung Bang

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Phương Liên, là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Ông Đặng Quang Sơn - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 18 và 24 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 08/2023/TLST-DS ngày 19/5/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2024/QĐXXST-DS ngày 07/5/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 03/2024/QÐST-DS ngày 24/5/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Q (V1). Địa chỉ trụ sở: Tầng A (tầng trệt) và Tầng B, Tòa nhà S - A P, phường B, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh. Đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Ngọc V – Chức vụ: Tổng giám đốc;

Đại diện theo ủy quyền: Ông Hà Hoàng H – Chức vụ: Giám đốc Trung tâm Q1 – Khối Ngân hàng bán lẻ V1, theo Giấy ủy quyền số: 106957.22 ngày 03/10/2022; Địa chỉ liên lạc: Tầng A, Tòa nhà C, Số D T, phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội;

Người được ông Hà Hoàng H ủy quyền lại (theo Giấy ủy quyền số 180953.23 ngày 06/11/2023): Bà Vũ Thị T, ông Nguyễn Ngọc C, ông Nguyễn Đức P, đều là Cán bộ Ngân hàng TMCP Q, địa chỉ liên hệ: Tầng B, Số H đường L, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; Số điện thoại: 0965.143.xxx. Bà T, ông P có mặt khi xét xử (ngày 18/6/2024), vắng mặt khi tuyên án (ngày 24/6/2024); ông C vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Vương Văn C1, sinh năm 1993; và bà Phạm Thị Kim C2, sinh năm 1998; cùng địa chỉ: thôn Đ (nay là thôn Đ), xã Đ, huyện T, tỉnh Quảng Ninh. Ông C1, bà C2 đều vắng mặt tại phiên tòa.

Đại diện theo ủy quyền của bà Phạm Thị Kim C2 (Giấy ủy quyền lập ngày 15/02/2024, UBND xã Đ chứng thực số 31, quyển số 01/2024-SCT/CK,ĐC): Ông Phạm Văn K, sinh năm 1974 (là bố của bà C2), địa chỉ: thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

1) Ông Vương Văn T1, sinh năm 1972 (là bố của ông Vương Văn C1), địa chỉ: thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.

2) Bà Đỗ Thị Hồng Á – Nguyên Giám đốc Ngân hàng B, Ngân hàng TMCP Q Chi nhánh C3. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn trình bày:

Ngân hàng thương mại cổ phần Q (viết tắt là V1) đã ký với ông Vương Văn C1 và bà Phạm Thị Kim C2 Hợp đồng tín dụng số 4875236.20 ngày 24/12/2020 với nội dung: VIB cho ông Vương Văn C1 và bà Phạm Thị Kim C2 vay số tiền 1.140.000.000 đồng (Một tỷ một trăm bốn mươi triệu đồng) ; Mục đích vay: Xây mới nhà để ở tại địa chỉ: thôn Đ (nay là thôn Đ), xã Đ, huyện T, tỉnh Quảng Ninh; Thời hạn vay: 180 tháng, từ ngày 26/12/2020 đến ngày 25/12/2035; Lãi suất vay và kỳ hạn điều chỉnh lãi suất: Lãi suất tại thời điểm giải ngân: 10,1%/ năm. Lãi suất này là lãi suất ưu đãi và chỉ được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân khoản tín dụng. Hết thời hạn ưu đãi nói trên, lãi suất sẽ được điều chỉnh 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 4,1%/ năm; Số tiền/ ngày hoàn trả: Hoàn trả khoản tín dụng gốc: 03 tháng/ lần, vào ngày 25 của tháng, số tiền gốc phải trả mỗi kỳ là 19.000.000 VND, số tiền gốc còn lại sẽ được trả vào cuối kỳ, kỳ trả gốc đầu tiên là ngày 25/3/2021; Phương thức trả lãi: hàng tháng; Trả phí: theo quy định của V1 từng thời kỳ.

Tài sản bảo đảm cho khoản vay là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 654, tờ bản đồ số: 120, có địa chỉ tại: thôn Đ (nay là thôn Đ), xã Đ, huyện T, tỉnh Quảng Ninh theo GCNQSDĐ số BQ582729, số vào sổ cấp GCN: CH00332 do UBND huyện T, tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 12/3/2020 cho ông Vương Văn C1 và bà Phạm Thị Kim C2. Tài sản này được thế chấp tại VIB theo Hợp đồng thế chấp số công chứng: 1945/2020, Quyển số: 02/TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C4, tỉnh Quảng Ninh công chứng ngày 24/12/2020. Việc thế chấp và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.

Ngày 25/12/2020, V1 đã giải ngân cho ông Vương Văn C1 và bà Phạm Thị Kim C2 theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 4875236(1).20 với số tiền theo đúng yêu cầu của khách hàng và phù hợp với hợp đồng tín dụng (HĐTD).

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Vương Văn C1 và bà Phạm Thị Kim C2 đã vi phạm nội dung thỏa thuận tại HĐTD đã ký. Vì vậy, V1 đã thông báo khoản vay bị quá hạn thanh toán từ ngày 26/9/2022, đến ngày 04/01/2023 V1 đã có Thông báo số 000768.23 về việc thu hồi toàn bộ dư nợ khoản vay, chuyển toàn bộ số dư nợ gốc còn lại sang nợ quá hạn, áp dụng lãi suất quá hạn từ ngày 13/01/2023 (Thông báo được gửi đi ngày 06/01/2023, phát thành công cho khách hàng C1, C2 vào ngày 09/01/2023).

Sau khi phát sinh nợ quá hạn, V1 đã nhiều lần đôn đốc, tạo điều kiện cho ông Vương Văn C1 và bà Phạm Thị Kim C2 thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho V1, nhưng ông C1 và bà C2 vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả hết nợ, đã gây ảnh hưởng lớn đến quyền và lợi ích hợp pháp của V1.

Tại đơn khởi kiện đề ngày 13/01/2023, Ngân hàng V1 yêu cầu Tòa án buộc ông C1, bà C2 phải trả tổng số tiền tạm tính đến ngày 13/01/2023 là 1.079.212.498 đồng (Một tỷ không trăm bảy mươi chín triệu, hai trăm mười hai nghìn, bốn trăm chín mươi tám đồng), bao gồm: Nợ gốc 1.026.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 51.096.888 đồng; Nợ lãi quá hạn: 2.115.610 đồng;

Tính đến thời điểm ngày xét xử sơ thẩm (ngày 18/6/2024), ông Vương Văn C1 và bà Phạm Thị Kim C2 còn nợ V1 tổng số tiền là 1.419.469.283₫ (Một tỷ, bốn trăm mười chín triệu, bốn trăm sáu mươi chín nghìn, hai trăm tám mươi ba đồng); trong đó: Nợ gốc là 1.026.000.000đ, Nợ lãi trong hạn là 51.096.888đ, T2 lãi chậm trả lãi [với mức lãi suất 10%/ năm tính trên số tiền lãi trong hạn chưa trả (51.096.888đ) với thời hạn 523 ngày, từ ngày 13/01/2023 đến 18/6/2024] là 7.321.554đ, nợ lãi quá hạn tính đến thời điểm ngày 18/6/2024 là 335.050.841₫.

Ngân hàng V1 yêu cầu Tòa án giải quyết các nội dung cụ thể như sau:

Thứ nhất, buộc ông Vương Văn C1 và bà Phạm Thị Kim C2 phải thanh toán cho Ngân hàng V1 ngay sau khi Bản án/Quyết định có hiệu lực thi hành, số tiền tạm tính đến ngày 18/6/2024 tổng là 1.419.469.283 đồng, với chi tiết như nêu trên.

Thứ hai, đề nghị Tòa án tiếp tục tính lãi, lãi quá hạn, lãi chậm trả lãi kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, nghĩa là từ ngày 19/6/2024 cho đến khi ông Vương Văn C1 và bà Phạm Thị Kim C2 thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định tại hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ đã ký [chi tiết xem hợp đồng tín dụng số 4875236.20 ngày 24/12/2020; đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 4875236.(1)20 ngày 25/12/2020];

Thứ ba, trường hợp ông C1, bà C2 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho V1, đề nghị Tòa án tuyên Ngân hàng V1 có quyền được tự phát mại tài sản bảo đảm hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên phát mại tài sản bảo đảm, cụ thể là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 654, tờ bản đồ số 120, có địa chỉ tại: thôn Đ (nay là thôn Đ), xã Đ, huyện T, tỉnh Quảng Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BQ 582729, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH00332 do UBND huyện T, tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 12/3/2020 cho ông Vương Văn C1 và bà Phạm Thị Kim C2. Tài sản này được thế chấp tại VIB theo hợp đồng thế chấp số công chứng 1945/2020 quyển số 02/TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C4, tỉnh Quảng Ninh công chứng ngày 24/12/2020, bao gồm nhưng không giới hạn các vật phụ, hoa lợi, lợi tức các quyền phát sinh từ tài sản thế chấp, tài sản hay tiền đền bù, bồi thường của cơ quan nhà nước hoặc bên thứ ba bất kỳ và toàn bộ các quyền lợi theo hợp đồng bảo hiểm ký kết với công ty B1 được V1 chấp thuận. Bất kỳ sự thay đổi (bao gồm cả việc xây dựng mới/tạo lập thêm tài sản khác gắn liền trên thửa đất), sửa chữa, nâng cấp nào của ông C1, bà C2 đối với tài sản thế chấp làm tăng giá trị thực tế của tài sản thế chấp sẽ được coi là bộ phận không thể tách rời thuộc tài sản thế chấp, để thu hồi nợ vay cho V1 (chi tiết tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, số công chứng 1945/2020, quyển số 02/TP/CC-SCC/HĐGD, do Văn phòng C4, tỉnh Quảng Ninh công chứng ngày 24/12/2020).

Thứ tư, toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán toàn bộ nghĩa vụ trả nợ cho bên vay vốn với V1. Trường hợp nếu số tiền thu được từ xử lý tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán hết nợ thì bên vay vốn vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại cho V1.

- Bị đơn ông Vương Văn C1, vắng mặt tại phiên tòa, vắng mặt trong tất cả quá trình tố tụng khi Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án; không có quan điểm, ý kiến về việc giải quyết vụ kiện.

- Bị đơn bà Phạm Thị Kim C2 có lời khai trong quá trình giải quyết vụ án: Bà C2 chỉ ký hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp nhưng không đọc nội dung, cán bộ ngân hàng cũng không đến để thẩm định nhà đất thế chấp; Ngôi nhà cấp 4 diện tích khoảng 110m², có sân và mái hiên khoảng 40m² lợp mái tôn, khung thép, là do vợ chồng ông C1, bà C2 xây dựng từ năm 2019, bà C2 đồng ý thế chấp đất và các tài sản trên đất. Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng yêu cầu bà C2 và ông C1 phải trả số tiền vay theo hợp đồng tín dụng gồm tiền nợ gốc và nợ lãi, bà C2 không đồng ý trả vì khoản vay là do ông C1 bảo bà đi vay và ký cùng, bà không được sử dụng số tiền vay. Đối với yêu cầu của Ngân hàng về việc xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất trong trường hợp không trả được nợ, bà C2 đồng ý phát mại tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và nhà đã xây hiện trạng hiện nay để trả nợ.

- Đại diện theo ủy quyền của bị đơn Phạm Thị Kim C2 – ông Phạm Văn K (bố của bà C2) có ý kiến: Ông K không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Việc vay nợ với Ngân hàng V1 là việc riêng của vợ chồng anh chị C1, C2. Thửa đất và ngôi nhà liên quan đến thế chấp với Ngân hàng V1 có nguồn gốc là do ông K bỏ tiền ra mua (mua đất của gia đình ông Hoàng Văn H1) rồi cho vợ chồng anh chị C1, C2, nhà và đất thuộc sở hữu của anh C1, chị C2. Ông K có yêu cầu làm rõ vấn đề tại sao trong biên bản thẩm định khi cho vay Ngân hàng V1 ghi nhận là nhà 2,5 tầng nhưng thực tế chỉ là ngôi nhà 01 tầng; hiện nay anh C1, chị C2 đã ly hôn, ông K đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. (BL197-198).

- Người làm chứng – ông Vương Văn T1 (bố của bị đơn C1) có lời khai: Ông T1 có biết việc anh C1, chị C2 vay vợ ngân hàng sau khi vợ chồng anh chị giải quyết ly hôn. Nguồn gốc thửa đất là do anh C1, chị C2 mua, nhà anh chị xây dựng khoảng tháng 5, tháng 6 năm 2020. Ông T1 không có ý kiến gì về vấn đề vay nợ, quan điểm của ông T1 là đã vay thì phải trả; tuy nhiên đối với việc thế chấp, ông T1 không hiểu tại sao có thể vay số tiền 1.176.305.450đ khi thế chấp căn nhà đó. (BL195-196).

- Tòa án xác minh thông tin về tình trạng hôn nhân của bị đơn, kết quả thể hiện: Ông Vương Văn C1 và bà Phạm Thị Kim C2 đã được Tòa án giải quyết ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 01/2021/QÐST-HNGĐ ngày 05/01/2021, khi ly hôn ông C1 và bà C2 không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung.

- Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ [Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ các ngày 17/8/2023 và 24/01/2024, kèm theo Phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất (BL 140-143, 275-276)], kết quả thể hiện như sau:

+ Về xác định hiện trạng đất: Tổng diện tích đất 191,8m²; diện tích sử dụng riêng: 191,8m², sử dụng chung: 0m²; có tứ cận: phía Đông giáp đường nông thôn, phía Tây giáp mương, phía Bắc giáp hộ gia đình ông Trần Anh T3, phía Nam giáp hộ gia đình ông Hoàng Văn H1. [Theo GCNQSDĐ số BQ582729, số vào sổ cấp GCN: CH-00332 do UBND huyện T cấp ngày 12/3/2020, mang tên ông Vương Văn C1, bà Phạm Thị Kim C2, diện tích được cấp: 191,8m², thửa đất số 654, tờ bản đồ số 120, địa chỉ tại thôn Đ (nay là thôn Đ), xã Đ, huyện T, tỉnh Quảng Ninh; mục đích sử dụng: Đất ở 100m² + 91,8m² đất trồng cây lâu năm. Tại GCNQSDĐ số BQ582729 không thể hiện tài sản trên đất].

+ Về xác định hiện trạng hạ tầng và công trình xây dựng trên đất:

Tài sản trên đất gồm: 01 nhà 01 tầng, xây dựng năm 2019 (theo cung cấp của ông K – bố chị C2), loại nhà Cấp 4, diện tích xây dựng 109,4m², toàn bộ hệ thống tường nhà đã trát hoàn thiện, chưa sơn. Nhà có sân và mái hiên, diện tích 39,5m²; sân có mái tôn (tôn xốp) kết cấu khung thép hộp gồm 06 cây $76x1,40mm, diện tích mái tôn 39,5m². Nhà cấp 4 có 01 (một) phòng khách, 02 (hai) phòng ngủ, 01 (một) phòng bếp, 02 (hai) nhà vệ sinh. Cấp công trình: cấp IV; Kết cấu công trình: Tường gạch ba banh dày 15cm, mái bằng, nhà khung sàn bê tông cốt thép; 01 cửa chính, 02 cửa phòng, 03 cửa sổ, 02 cửa nhà vệ sinh là loại cửa nhôm hình Xingfa, 01 cửa ngách là cửa sắt.

- Tại phiên tòa:

Nguyên đơn giữ nguyên quan điểm khởi kiện như đã trình bày; đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (bà T) bổ sung yêu cầu đề nghị Tòa án tuyên chấm dứt Hợp đồng tín dụng số 4875236.20 ngày 24/12/2020 giữa Ngân hàng V1 và ông C1, bà C2; buộc ông C1, bà C2 phải trả cho Ngân hàng V1 tổng dư nợ (tính đến ngày 18/6/2024) là : 1.419.469.283 đồng, trong đó nợ gốc 1.026.000.000 đồng, nợ lãi quá hạn tính đến ngày 18/6/2024 là 335.050.841 đồng, nợ lãi trong hạn là 51.096.888 đồng, tiền lãi chậm trả lãi tính đến ngày 18/6/2024 là 7.321.554 đồng; (Chi tiết theo Bảng kê dư nợ đến ngày 18/6/2024);

Về xử lý tài bảo đảm (trong trường hợp ông C1, bà C2 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ) đại diện Ngân hàng V1 đề nghị Tòa án xử lý đối với tài sản thế chấp là quyền sử dụng 191,8m² đất và tài sản gắn liền với đất là ngôi nhà 01 tầng, loại nhà Cấp 4, diện tích xây dựng 109,4m² theo hiện trạng thực tế đã được Tòa án xem xét, thẩm định tại chỗ;

Đối với chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ mà Ngân hàng V1 đã nộp, và vấn đề án phí; tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Yên phát biểu ý kiến:

+ Về tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn chấp hành tốt quy định của pháp luật về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ, bị đơn chấp hành chưa tốt quy định về nghĩa vụ tham gia tố tụng.

+ Về thời hạn giải quyết vụ án: Đúng thời hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

+ Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

+ Về án phí, chi phí tố tụng: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị đơn phải chịu án phí và chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn liên quan đến hợp đồng tín dụng số 4875236.20 ngày 24/12/2020 giữa Ngân hàng V1 với ông Vương Văn C1 và bà Phạm Thị Kim C2, đây là tranh chấp về giao dịch dân sự theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự bị đơn ông Vương Văn C1, bà Phạm Thị Kim C2 có nơi cư trú tại huyện T, tỉnh Quảng Ninh, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiên Yên theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thời hiệu khởi kiện, tranh chấp xảy ra trong thời hạn của hợp đồng tín dụng, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn còn thời hiệu.

Về sự vắng mặt của bị đơn ông C1, bà C2 và người đại diện theo ủy quyền (ông K), những người này đã triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vẫn vắng mặt, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người đại diện theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về xác định quan hệ pháp luật tranh chấp: Các bên ký kết hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp trên cơ sở tự nguyện, mục đích và nội dung của hợp đồng phù hợp với quy định tại các Điều 116, 117 của Bộ luật Dân sự 2015 nên có giá trị pháp lý, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng. Nguyên đơn là tổ chức tín dụng, bị đơn là các cá nhân, mục đích vay vốn của bị đơn là xây mới nhà để ở, nên xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất” do hai bên ký kết tại hợp đồng tín dụng số 4875236.20 ngày 24/12/2020, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 9827197.20 ngày 24/12/2020.

[3] Về nội dung vụ án và các vấn đề cần giải quyết:

[3.1] Về giao dịch tín dụng:

Các chứng cứ được thu thập trong quá trình giải quyết vụ án thể hiện, ông Vương Văn C1 và bà Phạm Thị Kim C2 có ký kết hợp đồng tín dụng số hợp đồng tín dụng số 4875236.20 ngày 24/12/2020 với Ngân hàng thương mại cổ phần Q - Chi nhánh C3, khoản tín dụng (số tiền) 1.140.000.000 đồng, mục đích: xây mới nhà để ở; T hời hạn vay: 1 80 tháng, từ 26/12/2020 đến 25/12/2035; Lãi suất và kỳ điều chỉnh lãi suất: lãi suất tại thời điểm giải ngân: 10,1%/ là lãi suất ưu đãi và chỉ được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ Ngày giải ngân (25/12/2020), hết thời hạn ưu đãi, lãi suất sẽ được điều chỉnh 03 tháng một lần bằng Lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 4,1%/năm; Trả gốc: 03 tháng/ lần, vào ngày 25 của tháng, số tiền gốc phải trả mỗi kỳ là 19.000.000đ, số tiền gốc còn lại sẽ được trả vào kỳ cuối, kỳ trả gốc đầu tiên là ngày 25/03/2021; Ngày trả lãi: ngày 25 hàng tháng, ngày trả lãi đầu tiên vào ngày 25/01/2021; Trả phí: theo quy định của V1 từng thời kỳ.

Hội đồng xét xử thấy rằng: Nguyên đơn VIB xác định tính đến ngày 18/6/2024, tổng dư nợ gốc ông C1, bà C2 còn nợ V1 là: 1.419.469.283 đồng, trong đó nợ gốc 1.026.000.000 đồng, nợ lãi quá hạn tính đến ngày 18/6/2024 là 335.050.841 đồng, nợ lãi trong hạn 51.096.888 đồng, tiền lãi chậm trả lãi tính đến ngày 18/6/2024 là 7.321.554 đồng.

Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bị đơn C2 và đại diện theo ủy quyền không có ý kiến gì về số liệu dư nợ gốc, lãi mà Ngân hàng đưa ra.

Bà Phạm Thị Kim C2 có lời khai cho rằng chỉ ký hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp nhưng không đọc nội dung, bà C2 không được nhận tiền nên không đồng ý trả nợ gốc và nợ lãi. Ý kiến của bị đơn C2 là không có cơ sở để chấp nhận.

Xét thấy, hợp đồng tín dụng được các bên tự nguyện ký kết, hình thức, nội dung thỏa thuận của các bên là phù hợp, không trái quy định pháp luật, nên có giá trị pháp lý, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng. Thời hạn của hợp đồng tín dụng là 15 năm, quá trình thực hiện hợp đồng bên vay đã vi phạm thời hạn trả nợ nhiều kỳ (trả nợ gốc, lãi) nên phát sinh căn cứ để Ngân hàng V1 yêu cầu thu hồi toàn bộ khoản vay, đòi tiền gốc, tiền nợ lãi phát sinh.

Ngày 04/01/2023 Ngân hàng V1 đã ra Thông báo số 000768.23 về việc thu hồi toàn bộ dư nợ khoản vay và chuyển nợ quá hạn, gửi đi ngày 06/01/2023 theo dấu bưu cục nơi gửi, phát thành công cho bên vay vào ngày 09/01/2023, thông báo chuyển toàn bộ số dư nợ gốc còn lại sang nợ quá hạn từ ngày 13/01/2023 (BL 309-313).

Xét thấy yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng đòi khoản tiền nợ gốc 1.026.000.000đ còn lại là có căn cứ, nên cần chấp nhận.

Đối với yêu cầu khởi kiện về đòi số tiền lãi và tiếp tục tính lãi, xét thấy yêu cầu của Ngân hàng là có căn cứ. Căn cứ Bảng kê dư nợ (đến ngày 18/6/2024) do đại diện Ngân hàng giao nộp, đối chiếu với các quy định tại hợp đồng tín dụng và tài liệu về điều chỉnh lãi suất, và các quy định tại Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, phương pháp xác định và cách tính toán. Hội đồng xét xử xét thấy, số liệu tính toán mà đại diện Ngân hàng V1 đưa ra là chính xác và đúng quy định, nên chấp nhận yêu cầu về đòi tiền lãi của Ngân hàng V1, với chi tiết cụ thể như sau:

  • Lãi trong hạn:51.096.888₫;
  • Lãi quá hạn: 335.050.841đ, với chi tiết như sau:
    • + Từ 13/01/2023 đến 25/3/2023 (72 ngày): {72 x [(15,6%x1,5/365) x 1.026.000.000]} = 47.359.036₫;
    • + Từ 26/3/2023 đến 25/3/2024 (366 ngày): {366 x [(15,6%x1,5/365) x 1.026.000.000]} = 240.741.764₫;
    • + Từ 26/3/2024 đến 18/6/2024 (85 ngày): {85 x [(13,1%x1,5/365) x 1.026.000.000]} = 46.950.041₫;
  • Lãi chậm trả lãi 10% (Từ 13/01/2023 đến 18/6/2024 = 523 ngày): [523 x (10%/365) x 51.096.888] = 7.321.554₫. (*)

Tổng tiền lãi là : 51.096.888₫ + 335.050.841₫ + 7.321.554₫ = 393.469.283₫.

Tổng cộng tiền nợ gốc và lãi được chấp nhận là: 1.026.000.000đ + 393.469.283đ = 1.419.469.283đ (Một tỷ, bốn trăm mười chín triệu, bốn trăm sáu mươi chín nghìn, hai trăm tám mươi ba đồng).

Riêng đối với số tiền lãi chậm trả lãi 10% là 7.321.554₫ (*), mặc dù đến thời điểm tại phiên tòa sơ thẩm đại diện Ngân hàng V1 mới đưa ra yêu cầu về số tiền lãi chậm trả lãi (tính trên nợ gốc trong hạn) này; tuy nhiên xét thấy tại đơn khởi kiện đề ngày 13/01/2023 của Ngân hàng (đã được Tòa án thụ lý theo Thông báo thụ lý số 08/TB-TLVA ngày 19/5/2023) đã có nội dung “đề nghị Tòa án tiếp tục tính lãi, lãi quá hạn kể từ ngày 14/01/2023” cho đến khi ông C1, bà C2 thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định tại Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ. Đồng thời, tại hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về khoản tiền lãi đến hạn phải thanh toán mà bên vay chưa thanh toán thì phải chịu lãi suất chậm trả bằng 10%/ năm (không vượt quá mức lãi suất giới hạn mà pháp luật quy định); thỏa thuận này cũng phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2, khoản 4 Điều 8 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do vậy, yêu cầu về số tiền lãi chậm trả lãi 10% mà Ngân hàng đưa ra tại phiên tòa không bị coi là vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu (trong cùng quan hệ pháp luật tranh chấp đang giải quyết), đã tính toán đúng số liệu, nên được Hội đồng xét xử xem xét và chấp nhận theo chi tiết đã nêu ở trên.

Cũng cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện về tiếp tục tính lãi của nguyên đơn kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (nghĩa là kể từ ngày 19/6/2024) theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.

[3.2] Về giao dịch thế chấp tài sản:

Để đảm bảo cho khoản vay theo hợp đồng tín dụng thì ông C1, bà C2 đã thế chấp tài sản tại hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 9827197.20, lập ngày 24/12/2020 tại Văn phòng C4.

Hội đồng xét xử xét thấy:

[3.2.1] Việc ông C1, bà C2 và Ngân hàng V1 ký kết hợp đồng thế chấp là tự nguyện, bà C2 khai rằng chỉ ký nhưng không đọc là không có cơ sở để chấp nhận, đồng thời bà C2 cũng thừa nhận đồng ý thế chấp tài sản là nhà và đất. Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất được công chứng tại Văn phòng C4 và đã được đăng ký giao dịch đảm bảo tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất ngày 24/12/2020 theo đúng quy định của pháp luật. Do vậy, hợp đồng thế chấp có hiệu lực đối với tài sản thế chấp là quyền sử dụng 191,8m² đất (100m² đất ở, 91,8m² đất trồng cây lâu năm). Và vì vậy, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng về xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất (trong trường hợp ông C1, bà C2 không trả nợ) được chấp nhận.

[3.2.2] Đối với yêu cầu khởi kiện về xử lý tài sản thế chấp là tài sản gắn liền với đất cụ thể là ngôi nhà 01 tầng, với lập luận của đại diện Ngân hàng cho rằng tài sản thế chấp bao gồm nhưng không giới hạn các vật phụ, hoa lợi, lợi tức, các quyền phát sinh từ tài sản thế chấp, tài sản hay tiền đền bù, bồi thường của cơ quan nhà nước hoặc bên thứ ba bất kì và toàn bộ các quyền, quyền lợi theo hợp đồng bảo hiểm ký kết với công ty B1 được V1 chấp thuận; và bất kỳ sự thay đổi (bao gồm cả việc xây dựng mới/tạo lập thêm tài sản khác gắn liền trên thửa đất), sửa chữa, nâng cấp nào của ông C1, bà C2 đối với tài sản thế chấp làm tăng giá trị thực tế của tài sản thế chấp sẽ được coi là bộ phận không thể tách rời thuộc tài sản thế chấp; thì thấy rằng:

Tòa án xem xét, thẩm định tại chỗ, xác định trên đất có 01 ngôi nhà 01 tầng. Qua xác minh và theo lời khai của ông K, chị C2, thời điểm xây dựng ngôi nhà 01 tầng là năm 2019, ngôi nhà chưa đăng ký quyền sở hữu. Tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BQ582729 cấp ngày 12/03/2020 cho ông C1, bà C2 không thể hiện có nhà ở hoặc tài sản khác gắn liền với đất;

Thực tế, ngôi nhà 01 tầng đã tồn tại trên đất tại thời điểm vay vốn, thế chấp, nhưng không được đề cập đến trong Hợp đồng thế chấp. Tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 9827197.20 ngày 24/12/2020 không có điều, điểm, khoản nào đề cập về ngôi nhà 01 tầng, cũng không có từ ngữ nào đề cập đến “tài sản gắn liền với đất” (tại thời điểm thế chấp);

Ngôi nhà 01 tầng được xây dựng từ năm 2019, trước thời điểm ông C1, bà C2 vay vốn và thế chấp tài sản, nên cũng không thể coi ngôi nhà 01 tầng đó là “sự thay đổi (bao gồm cả việc xây dựng mới/tạo lập thêm tài sản khác gắn liền trên Thửa Đất), sửa chữa, nâng cấp nào của Bên B đối với Tài sản thế chấp làm tăng giá trị thực tế của Tài sản thế chấp sẽ được coi là bộ phận không tách rời thuộc Tài sản thế chấp” theo Mục 2.3, Điều 2 của Hợp đồng thế chấp số 9827197.20 như vị đại diện Ngân hàng lập luận;

Ngôi nhà 01 tầng có thật trên đất, không có tài liệu nào thể hiện tại hồ sơ vay vốn, hồ sơ thế chấp về ngôi nhà 01 tầng này; mà chỉ có mô tả ngôi nhà 2,5 tầng tại Biên bản định giá tài sản bảo đảm số MB-0034.RSK-09 ngày 17/12/2020, Giấy phép xây dựng số 05/GPXD ngày 27/5/2020 của UBND xã Đ cấp cho ông Vương Văn C1 (BL70, 323-335), nhưng ngôi nhà 2,5 tầng không có trên thực tế. Đây là việc làm sai phạm của một số cán bộ ngân hàng khi làm thủ tục thẩm định tài sản thế chấp, cấp tín dụng;

Quá trình giải quyết vụ án, bà C2 có ý kiến đồng ý thế chấp nhà hiện trạng (nhà 01 tầng), ông C1 vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng sơ thẩm; ông C1 và bà C2 đã ly hôn nhưng chưa giải quyết về tài sản chung, không có cơ sở để xác định ông C1, bà C2 cùng thế chấp ngôi nhà 01 tầng;

Ngôi nhà 01 tầng, với các chứng cứ và thông tin thu thập được tại thời điểm hiện tại, xác định ngôi nhà 01 tầng này thuộc sở hữu của ông C1, bà C2, là tài sản chung vợ chồng hình thành trong quá trình hôn nhân. Tại thời điểm xét xử sơ thẩm - chưa xác định được ngôi nhà này có tranh chấp với ai hay không? Nếu có tranh chấp bởi chủ thể khác thì dành quyền khởi kiện trong vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.

Tuy nhiên, Bộ luật Dân sự năm 2015 có các quy định về thế chấp tài sản và xử lý tài sản thế chấp, cụ thể như sau:

“Điều 318. Tài sản thế chấp

3. Trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp thì tài sản gắn liền với đất cũng thuộc tài sản thế chấp, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”

“Điều 325. Thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất

1. Trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất và người sử dụng đất đồng thời là chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì tài sản được xử lý bao gồm cả tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”

Đối chiếu với những quy định của pháp luật nêu trên, thì kể cả trong trường hợp ông C1 không thế chấp Ngôi nhà 01 tầng thì tài sản được xử lý (trong trường hợp ông C1, bà C2 không trả được nợ) vẫn bao gồm cả Ngôi nhà 01 tầng trên đất.

Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về xử lý tài sản thế chấp.

[3.2.3] Ngoài ra, xét thấy việc lập biên bản định giá tài sản bảo đảm số MB-0034.RSK-09 ngày 17/12/2020 giữa cán bộ ngân hàng và ông C1, bà C2 trong đó có nội dung ghi nhận “Ngôi nhà 2,5 tầng, diện tích 205,6m2. Tầng 1 gồm 1 phòng khách, 1 phòng ngủ, phòng ăn. Tầng 2 gồm 3 phòng ngủ, 1 vệ sinh. Tầng tum gồm gian thờ và phòng ngủ”. Việc làm này có dấu hiệu của hành vi cố ý nâng khống giá trị tài sản bảo đảm khi thẩm định giá để cấp tín dụng đối với trường hợp phải có tài sản bảo đảm, quy định tại điểm d khoản 1 Điều 206 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, tại phiên tòa đại diện Ngân hàng trình bày Ngân hàng V1 xác định chưa bị thiệt hại và không đề nghị xem xét về hình sự, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 19.000.000 đồng, Ngân hàng V1 đã dự nộp và do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được Tòa án chấp nhận, nên cần buộc ông C1, bà C2 phải hoàn trả cho Ngân hàng số tiền này.

[5] Về án phí:

Do yêu cầu khởi kiện được Tòa án chấp nhận, nên Ngân hàng V1 không phải chịu án phí, được hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí.

Ông Vương Văn C1, bà Phạm Thị Kim C2 phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là: 36.000.000đ + 3% x (1.419.469.283đ – 800.000.000₫) = 54.584.078 đồng.

[6] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 155, 156, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 158; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụngĐiều 317, khoản 3 Điều 318, khoản 1 Điều 325, Điều 463, khoản 1 Điều 466, Điều 688 của Bộ luật Dân sự; khoản 2, 3, 4 Điều 8, Điều 10, điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; khoản 1 Điều 6; Điều 24, khoản 1, 2 Điều 26; điểm d khoản 1.3 Mục II Phần A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Q về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất.
  2. Buộc ông Vương Văn C1 và bà Phạm Thị Kim C2 phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q (V1) tổng số tiền tính đến hết ngày 18/6/2024 là: 1.419.469.283đ (Một tỷ, bốn trăm mười chín triệu, bốn trăm sáu mươi chín nghìn, hai trăm tám mươi ba đồng), trong đó nợ gốc là 1.026.000.000đ (Một tỷ, không trăm hai mươi sáu triệu đồng), nợ lãi trong hạn 51.096.888đ (Năm mươi mốt triệu, không trăm chín mươi sáu nghìn, tám trăm tám mươi tám đồng), nợ lãi quá hạn là 335.050.841₫ (Ba trăm ba mươi lăm triệu, không trăm năm mươi nghìn, tám trăm bốn mươi mốt đồng), tiền lãi chậm trả lãi là 7.321.554₫ (Bảy triệu, ba trăm hai mốt nghìn, năm trăm năm mươi bốn đồng).

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm đầu tiên (nghĩa là kể từ ngày 19/6/2024) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án là ông Vương Văn C1 và bà Phạm Thị Kim C2 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quá hạn các bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 4875236.20 ngày 24/12/2020 giữa Ngân hàng TMCP Q (V1) Chi nhánh C3 với ông Vương Văn C1, bà Phạm Thị Kim C2 nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.

    Công nhận Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 9827197.20 ngày 24/12/2020 giữa Ngân hàng thương mại cổ phần Q Chi nhánh C3 và ông Vương Văn C1, bà Phạm Thị Kim C2 có hiệu lực pháp luật.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu ông Vương Văn C1, bà Phạm Thị Kim C2 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ, thì Ngân hàng thương mại cổ phần Q có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 9827197.20 ngày 24/12/2020 được ký kết giữa: Bên thế chấp ông Vương Văn C1, bà Phạm Thị Kim C2, bên nhận thế chấp Ngân hàng thương mại cổ phần Q, đơn vị thực hiện nhận thế chấp Ngân hàng thương mại cổ phần Q - Chi nhánh C3. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất 191,8m² theo GCNQSDĐ số BQ582729, số vào sổ cấp GCN: CH-00332 do UBND huyện T cấp ngày 12/3/2020, mang tên ông Vương Văn C1, bà Phạm Thị Kim C2, diện tích được cấp: 191,8m², thửa đất số 654, tờ bản đồ số 120, địa chỉ tại thôn Đ (nay là thôn Đ), xã Đ, huyện T, tỉnh Quảng Ninh; mục đích sử dụng: Đất ở 100m² + 91,8m² đất trồng cây lâu năm. Tài sản được xử lý bao gồm cả tài sản gắn liền với đất (ngôi nhà 01 tầng, loại nhà Cấp 4, diện tích xây dựng 109,4m²), trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Khi phát mại tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, ông Vương Văn C1, bà Phạm Thị Kim C2 được ưu tiên nhận chuyển nhượng các tài sản nếu có nhu cầu.

    (Có sơ đồ kèm theo).

    Trường hợp số tiền phát mại tài sản không đủ thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q thì ông C1, bà C2 phải tiếp tục thanh toán cho đến khi trả hết nợ.

  3. Về chi phí tố tụng:
  4. Buộc ông Vương Văn C1 và bà Phạm Thị Kim C2 phải liên đới hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 19.000.000₫ (Mười chín triệu đồng).

    Kế từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong khoản tiền 19.000.000 đồng, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  5. Về án phí:
  6. Ngân hàng thương mại cổ phần Q (V1) không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q (V1) số tiền 22.188.000₫ (Hai mươi hai triệu, một trăm tám mươi tám nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0012146 ngày 19/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Yên.

    Ông Vương Văn C1 và bà Phạm Thị Kim C2 phải chịu 54.584.078₫ (Năm mươi bốn triệu, năm trăm tám mươi bốn nghìn, không trăm bảy mươi tám đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sựngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Thành viên Hội đồng xét xử

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lê Mạnh Cường

Nguyễn Trung Bang

Phạm Nhật Quang

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Tiên Yên;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Chi cục THADS huyện Tiên Yên;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Nhật Quang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2024/DS-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN YÊN, TỈNH QUẢNG NINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 04/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger