Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2024/KDTM-PT

Ngày 23 tháng 8 năm 2024

V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Điêu Thị Bích Lượt.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hán Hưởng;

Bà Lê Thị Thu Huyền.

- Thư ký phiên toà: Bà Phùng Thị Thu Hằng – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Nguyễn Thái Việt - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 19 và 23 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 02/2024/TLPT-KDTM ngày 05/6/2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 01/2024/KDTM-ST ngày 25/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2024/QĐ-PT ngày 08/7/2024 và quyết định hoãn phiên tòa giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần ( (Ngân hàng S).

Địa chỉ: Số G, phố T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Ngô Thu H - Chức vụ: Chủ tịch HĐQT.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đinh Đắc D, ông Trần Văn H1, bà Lê Thu H2 – Chức vụ: Chuyên viên tố tụng (Theo Văn bản ủy quyền số 233/UQ-SHB ngày 21/6/2024).

Bị đơn: Công ty cổ phần T1 (Công ty T1).

Địa chỉ: Xã B, huyện L, tỉnh Phú Thọ.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Ngọc T, sinh năm 1962.

HKTT: Khu H, xã P, huyện L, tỉnh Phú Thọ.

Nơi ở hiện nay: Khu A, xã B, huyện L, tỉnh Phú Thọ.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Phạm Văn M, sinh năm 1960;
  2. Bà Bùi Thị É, sinh năm 1973;

Đều có địa chỉ: Số G, ngõ B, đường T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội.

Người kháng cáo: Ông Phạm Văn M - người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

(Ông D, ông T, ông M có mặt, những người tham gia tố tụng khác vắng mặt khi xét xử. Ông D có mặt, những người tham gia tố tụng khác vắng mặt khi tuyên án)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, các lời khai tại Tòa án và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP ( trình bày:

Ngân hàng TMCP N, nay là Ngân hàng TMCP ( (tên viết tắt là S) thực hiện cấp tín dụng cho Công ty Cổ phần T1 theo hợp đồng tín dụng cụ thể như sau:

Căn cứ Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 0908VYD2/HĐTD - TDH 2009 ngày 25/08/2009 và các phụ lục, khế ước nhận nợ kèm theo.

Căn cứ hợp đồng tín dụng hạn mức số 1109VY89/HĐTD HM2011 ngày 29/09/2011 và các phụ lục và khế ước nhận nợ kèm theo.

Hạn mức cho vay: 8.000.000.000 đồng.

Mục đích vay: Xây dựng nhà máy sản xuất gạch tuynel.

Thời hạn của khoản vay trong hợp đồng tín dụng được quy định cụ thể trong khế ước nhận nợ tối đa 60 tháng.

Lãi suất cho vay: Theo mức lãi xuất cơ sở của ngân hàng + biên độ.

Tính đến ngày 25/01/2024, Công ty Cổ phần T1 đã trả được tổng số tiền là 7.093.364.086 đồng. Trong đó:

Đối với Hợp đồng tín dụng hạn mức số 1109VY89/HĐTD - HM/2011 ký ngày 29/09/2011 và Giấy nhận nợ vay số 1109VY89 - 01 ngày 30/09/2011 (phát vay 600 triệu): Công ty T1 đã trả hết 600.000.000 đồng nợ gốc, 8.958.400 đồng nợ lãi. Do tài sản bảo đảm của khoản vay là 02 chiếc ô tô của Công ty T1 đã xử lý xong nên quá trình giải quyết vụ án tại TAND huyện Lâm Thao Ngân hàng SHB rút toàn bộ yêu cầu không đề nghị tòa án giải quyết đối với dư nợ còn lại của HĐTD này (721.264.152 đồng).

Đối với Hợp đồng tín dụng trung, dài hạn số 0908VY02/HĐTD-TDH/2009 ký ngày 25/08/2009:

Tổng số tiền ngân hàng giải ngân cho Công ty T1 theo hợp đồng này là 6.560.000.000đồng. Tài sản bảo đảm cho khoản vay trên gồm:

Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 55, tờ bản đồ số 6I-III-09, diện tích 60.48m² địa chỉ số G ngõ B đường T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số: 10107212903 do UBND quận H, thành phố Hà Nội cấp ngày 10/09/2002 mang tên ông Phạm Văn M. Tài sản đã được ký kết hợp đồng thế chấp số công chứng 787 2019 HĐ - GĐ ngày 25/08/2009 tại Văn phòng C số 111A1 ngõ A đường N, quận C, thành phố Hà Nội và đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố Hà Nội, chi nhánh quận H.

Ngoài ra còn có các tài sản hình thành trong tương lai là toàn bộ máy móc, thiết bị và nhà xưởng thuộc dự án đầu tư xây dựng nhà máy G của Công ty T1.

Quá trình thực hiện hợp đồng Công ty T1 đã trả số nợ gốc hợp đồng trung và dài hạn là 4.476.288.823 đồng, nợ lãi 2.008.116.863 đồng. Tính đến ngày 25/01/2024 số tiền gốc công ty T1 còn nợ ngân hàng 2.083.711.177 đồng. Nợ lãi còn lại 11.304.446.826 đồng (trong đó: 6.284.330.333 đồng nợ lãi trong hạn, 2.326.494.441 đồng nợ lãi quá hạn, 2.693.622.052 đồng nợ lãi phạt chậm trả).

Giải trình về số tiền vay và tài sản bảo đảm:

Về dư nợ gốc:

Tổng số tiền ngân hàng giải ngân cho Công ty T1 theo hợp đồng này là 6.560.000.000 đồng. Trong đó theo hợp đồng thế chấp số tiền vay bảo đảm bằng tài sản của ông M, bà É là 4.000.000.000 đồng, còn lại là bảo đảm bằng tài sản của Công ty.

Công ty T1 đã trả số nợ gốc là 4.476.288.823 đồng. Tính đến ngày 25/01/2024 số tiền gốc Công ty T1 còn nợ ngân hàng 2.083.711.177 đồng. Khi Công ty T1 không còn khả năng trả nợ, Ngân hàng S và V đã thống nhất bán tài sản bảo đảm của Công ty gồm máy móc, nhà xưởng là tài sản bảo đảm của Công ty T1 để xử lý thu hồi nợ gốc.

Ngày 08/01/2021, Ngân hàng S đã thu nợ số tiền 1.476.288.823 đồng - là khoản tiền Chi cục Thi hành án huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ chuyển trả từ việc bán nhà xưởng, máy móc là tài sản của Công ty T1 thế chấp tại S. Số tiền này được trừ vào phần dư nợ gốc 2.560.000.000 đồng thuộc phần tài sản bảo đảm của Công ty T1. Ngoài ra trong quá trình thực hiện hợp đồng Công ty T1 đã trả thêm được số tiền gốc 3.000.000.000 đồng. Trong số tiền trả nợ gốc này có số tiền trả nợ gốc của khoản tiền bảo đảm bằng tài sản của công ty T1.

Tính đến ngày 25/01/2024, C1 đã trả đủ 2.560.000.000 đồng nợ gốc bằng tài sản bảo đảm của Công ty. Phần dư nợ gốc còn lại hiện nay 2.083.711.177 đồng thuộc nghĩa vụ bảo đảm của bằng tài sản của ông M, bà É.

Về dư nợ lãi:

Tính đến ngày 25/01/2024, Công ty T1 còn nợ SHB tổng nợ lãi là 11.304.446.826 đồng (trong đó: 6.284.330.333 đồng nợ lãi trong hạn, 2.326.494.441 đồng nợ lãi quá hạn, 2.693.622.052 đồng nợ lãi phạt chậm trả).

Do hiện tại Công ty T1 đã dừng hoạt động và bị rút giấy phép kinh doanh, tài sản bảo đảm tại S đứng tên Công ty T1 cũng đã xử lý xong. Hiện nay Công ty T1 không còn khả năng trả nợ. Do đó, tại phiên Tòa sơ thẩm ngày 25/01/2024 và tại phiên Tòa phúc thẩm ngày hôm nay, phía Ngân hàng S vẫn giữ nguyên việc rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với các khoản nợ lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi phạt đối với khoản nợ gốc bảo đảm bằng tài sản của Công ty T1 và rút một phần lãi quá hạn và toàn bộ lãi phạt bảo đảm bằng tài sản bảo đảm của ông M, bà É.

Tổng dư nợ lãi mà S rút yêu cầu khởi kiện là 5.113.290.901 đồng. Dư nợ lãi còn lại 6.191.155.925 đồng (trong đó: lãi trong hạn là 4.482.974.837 đồng; lãi quá hạn là 1.708.181.088 đồng) thuộc phần bảo đảm bằng tài sản của ông M, bà É.

Nay, Ngân hàng khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc Công ty Cổ phần T1 trả SHB tổng số tiền tính đến ngày 25/01/2024 là 8.274.867.102 đồng, trong đó: phần dư nợ gốc còn lại 2.083.711.177 đồng, lãi 6.191.155.925 đồng (trong đó: lãi trong hạn là 4.482.974.837 đồng; lãi quá hạn là 1.708.181.088 đồng) theo Hợp đồng tín dụng trung, dài hạn số 0908VY02/HĐTD-TDH/2009 ký ngày 25/08/2009.

Trường hợp Công ty Cổ phần T1 không trả nợ, hoặc trả nợ không đầy đủ cho Ngân hàng, thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm cho khoản vay để thu hồi nợ, cụ thể là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 55, tờ bản đồ số 6I-III-09, diện tích 60.48m²; địa chỉ: số G ngõ B đường T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số: 10107212903 do UBND quận H, thành phố Hà Nội cấp ngày 10/09/2002 mang tên ông Phạm Văn M.

Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại các tài sản bảo đảm, biện pháp bảo đảm không đủ nghĩa vụ trả nợ, đề nghị Tòa án tuyên Công ty Cổ phần T1 phải có nghĩa vụ trả hết nợ cho S và SHB được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xác minh, kê biên tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của Công ty cổ phần T1 để thu hồi nợ.

Ý kiến của bị đơn:

Tại biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa ngày 19/01/2024, người đại diện theo pháp luật của Công ty Cổ phần T1 - ông Phạm Ngọc T trình bày:

Công ty Cổ phần T1 có vay của Ngân hàng TMCP N (H3), hiện nay là Ngân hàng TMCP ( theo Hợp đồng tín dụng số 0908VY02/HĐTD-TDH/2009 ngày 25/8/2009 và Hợp đồng tín dụng số 1109VY89/HĐTD-HM/2011 ngày 29/9/2011. Hạn mức cho vay là 8.000.000.000đ. Theo hồ sơ Ngân hàng cung cấp cho Tòa án thì sau 04 lần giải ngân (theo giấy nhận nợ), Ngân hàng đã giải ngân cho tôi tổng số tiền là 4.560.000.000đ. Tài sản bảo đảm cho khoản vay là: Tài sản 1: quyền sử dụng đất 6.000m² địa chỉ tại: Khu H, xã K (nay là xã P), huyện L, tỉnh Phú Thọ (GCNQSDĐ đứng tên Công ty cổ phần T1) và toàn bộ tài sản hình thành trong tương lai là toàn bộ máy móc, thiết bị và nhà xưởng thuộc dự án đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất gạch Tuynel của Công ty cổ phần T1 theo Phụ lục 1 Hợp đồng tín dụng số 0908VY02/HĐTD-TDH/2009 ngày 25/8/2009; Tài sản 2: quyền sử dụng thửa đất số 55, tờ bản đồ số 6I-III-09, diện tích 60,48m², địa chỉ tại số G ngõ B đường T, quận H, thành phố Hà Nội theo GCNQSDĐ số 10107212903 do UBND quận H, thành phố Hà Nội cấp ngày 10/9/2002 đứng tên ông Phạm Văn M.

Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty đã trả nợ gốc và nợ lãi cho Ngân hàng, hiện nay còn nợ gốc là 2.083.711.177 đồng và các khoản nợ lãi phát sinh theo hợp đồng. Hiện nay Công ty đã giải thể và Sở K - đầu tư đã thu hồi dự án của Công ty, tài sản của Công ty đã được phát mại và bán hết từ khoảng năm 2015 - 2016. Công ty đã dừng hoạt động và không còn khả năng trả nợ nên Ngân hàng TMCP ( khởi kiện yêu cầu Công ty trả nợ gốc và nợ lãi thì ông T đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Tại biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa ngày 19/01/2024, ông Phạm Văn M trình bày:

Năm 2008, Công ty cổ phần T1 nhờ ông tìm kiếm nguồn tiền để xây dựng nhà máy gạch Tuynel, công suất 25 triệu viên/năm tại xã K (nay là xã P), huyện L, tỉnh Phú Thọ, tổng mức đầu tư khoảng 12 tỷ đồng. Sau quá trình trao đổi, bàn bạc, S đồng ý cho vay 8 tỷ đồng, trong đó 4 tỷ đồng thế chấp bằng tài sản của Công ty cổ phần T1, gồm quyền sử dụng đất, tài sản trên đất hiện có và tài sản cố định hình thành trong tương lai (là nhà máy G) và 4 tỷ đồng được thế chấp bằng quyền sử dụng thửa đất 55, tờ bản đồ số 6I-III-09, diện tích 60,48m², địa chỉ tại số G ngõ B đường T, quận H, thành phố Hà Nội theo GCNQSDĐ số 10107212903 do UBND quận H, thành phố Hà Nội cấp ngày 10/9/2002 đứng tên ông Phạm Văn M và tài sản trên đất. Bà Bùi Thị É là vợ ông, vợ chồng ông và Công ty cổ phần T1 có ký tên trong hợp đồng thế chấp ngày 25/8/2009 với H3 (nay là S).

Sau đó mọi giao dịch chi tiết giữa Công ty cổ phần T1 và ngân hàng S do hai bên bàn bạc, thỏa thuận và ký kết. Ông không giam gia và cũng không biết cụ thể nội dung các hợp đồng giữa Công ty và S. Các thông tin ông có được đều là trao đổi công việc kinh doanh đời thường.

Do Ngân hàng S vi phạm hợp đồng, chỉ giải ngân số tiền 4 tỷ đồng nên Công ty cổ phần T1 đã phải vay V để tiếp tục thực hiện dự án. Do không có khả năng tiếp tục trả nợ, khoảng năm 2015 - 2016, V đã kiện Công ty cổ phần T1 và phát mại tài sản của Công ty để thu hồi nợ. Năm 2017, vụ án đã được thi hành án xong theo bản án của Tòa án. Trong suốt quá trình đó không thấy S tham gia. Qua tìm hiểu, ông được biết S đã thống nhất với V, giao cho V khởi kiện và phát mại tài sản, số tiền thu được phân chia theo tỷ lệ dư nợ mỗi bên. Ngay sau đó ông đã làm việc nhiều lần và có đơn đề nghị S giải tỏa tài sản bảo đảm, trả lại GCNQSDĐ cho ông để ông sử dụng nguồn lực này đầu tư kinh doanh, nhưng S không giải quyết.

Nay Ngân hàng TMCP ( khởi kiện Công ty cổ phần T1 thì quan điểm của ông là:

Công ty cổ phần T1 vay của S số tiền cụ thể là bao nhiêu, quá trình thực hiện hợp đồng đã trả bao nhiêu tiền gốc và lãi, hiện nay Công ty còn nợ SHB số tiền là bao nhiêu thì ông không nắm được.

Khoản tiền 4 tỷ đồng Công ty cổ phần T1 vay của S không thuộc tài sản của ông bảo lãnh do trong hợp đồng bảo lãnh đã ghi rõ điều kiện cho mọi khoản vay thuộc diện được bảo lãnh như sau: “Mọi hợp đồng tín dụng, khế ước vay tiền và các giấy tờ giao dịch Ngân hàng khác phải được ký kết bởi các bên tại trụ sở Ngân hàng mới có hiệu lực thi hành”. Ông không ký bất kỳ giấy tờ nào cho khoản vay 4 tỷ đồng này. Toàn bộ quá trình giải quyết vụ án giữa V với Công ty cổ phần T1, Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao không đưa ông vào tham gia với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, do đó tài sản bảo đảm của ông không liên quan gì đến khoản vay 4 tỷ đồng của Công ty cổ phần T1 với S.

Ông đề nghị S phải giải tỏa giao dịch bảo đảm, trả lại GCNQSDĐ cho gia đình ông và bồi thường thiệt hại do vô cơ cầm giữ tài sản của ông.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Bùi Thị É trình bày.

Bà có nhận được văn bản tố tụng của Toà án nhân dân huyện Lâm Thao thông qua chồng bà là ông Phạm Văn M. Bà nắm bắt được toàn bộ nội dung vụ án. Bà không thể tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải và tham gia phiên toà xét xử vụ án nên bà đề nghị xin giải quyết vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án tại Toà án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.

Tại bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 01/2024/KDTM-ST ngày 25/91/2024, Tòa án nhân dân (TAND) huyện L đã quyết định:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Bộ luật tố tụng dân sự; Điều280, Điều 307, Điều 317, Điều 318, Điều 320, Điều 323, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP (.
  2. Buộc Công ty Cổ phần T1 phải trả cho Ngân hàng TMCP ( tổng số tiền tính đến ngày 25/1/2024 là 8.274.867.102đ (Tám tỷ hai trăm bảy mươi bốn triệu tám trăm sáu mươi bảy nghìn một trăm linh hai đồng), trong đó tiền gốc là 2.083.711.177 đồng (theo giấy nhận nợ ngày 01/10/2009 và ngày 10/11/2009) và tổng số tiền lãi là 6.191.155.925 đồng của số tiền nợ gốc trên (tiền lãi trong hạn là 4.482.974.837 đồng, tiền lãi quá hạn là 1.708.181.088 đồng).

  3. Đình chỉ yêu cầu của Ngân hàng TMCP ( yêu cầu Công ty Cổ phần T1 đối với số tiền lãi trong hạn, tiền lãi quá hạn của các khoản vay theo các giấy nhận nợ ngày 27/8/2009 số tiền 2.000.000.000đ, giấy nhận nợ ngày 04/9/2009 số tiền 1.000.000.000đ, giấy nhận nợ ngày 12/11/2009 số tiền 1.000.000.000đ, giấy nhận nợ ngày 30/9/2009 số tiền 600.000.000đ và toàn bộ số tiền lãi phạt đến ngày 25/01/2024.

Hậu quả của việc đình chỉ: Ngân hàng TMCP ( có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu này.

Ngoài ra bản án còn tuyên nghĩa vụ chịu án phí, chi phí tố tụng, quyền yêu cầu thi hành án và các quyền khác theo quy định của pháp luật.

Ngày 25/02/2024, ông Phạm Văn M kháng cáo không đồng ý với bản án sơ thẩm. Ông M yêu cầu S xóa giao dịch bảo đảm trả lại tài sản bảo đảm cho gia đình ông vì khoản vay của Công ty T1 với ngân hàng S vợ chồng ông không được ký hợp đồng vay, vì vậy tài sản của gia đình ông không bảo đảm cho bất kỳ khoản vay nào của Công ty T1.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Ông M giữ nguyên kháng cáo và căn cứ kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của ông M. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 01/2024/KDTM-ST ngày 25/91/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao.

(Chi tiết tại bài phát biểu của Kiểm sát viên lưu hồ sơ vụ án).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên; Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Kháng cáo của ông Phạm Văn M là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong hạn luật định, đơn hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Nội dung kháng cáo trong phạm vi xét xử của bản án sơ thẩm. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét nội dung này theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung kháng cáo của ông Phạm Văn M. Hội đồng xét xử nhận định:

Tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện tổng số tiền Ngân hàng S giải ngân cho Công ty T1 theo hợp đồng tín dụng trung, dài hạn số 0908VY02/HĐTD-TDH/2009 ký ngày 25/08/2009 số tiền giải ngân là 6.560.000.000 đồng.

Tài sản bảo đảm cho khoản vay trên gồm:

Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 55, tờ bản đồ số 6I-III-09, diện tích 60.48m² địa chỉ số G ngõ B đường T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số: 10107212903 do UBND quận H, thành phố Hà Nội cấp ngày 10/09/2002 mang tên ông Phạm Văn M. Tài sản đã được ký kết Hợp đồng thế chấp số công chứng 787 2019 HĐ - GĐ ngày 25/08/2009 tại Văn phòng C số 111A1 ngõ A đường N, quận C, thành phố Hà Nội và đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố Hà Nội, chi nhánh quận H.

Ngoài ra còn có các tài sản hình thành trong tương lai là toàn bộ máy móc, thiết bị và nhà xưởng thuộc dự án đầu tư xây dựng nhà máy G của Công ty T1.

Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty T1 đã trả số nợ gốc hợp đồng trung và dài hạn là 4.476.288.823 đồng, nợ lãi 2.008.116.863 đồng. Tính đến ngày 25/01/2024 số tiền gốc Công ty T1 còn nợ ngân hàng là 2.083.711.177 đồng. Nợ lãi còn lại 11.304.446.826 đồng (trong đó: 6.284.330.333 đồng nợ lãi trong hạn, 2.326.494.441 đồng nợ lãi quá hạn, 2.693.622.052 đồng nợ lãi phạt chậm trả).

Tổng số tiền Ngân hàng giải ngân cho Công ty T1 theo hợp đồng này là 6.560.000.000 đồng. Trong đó theo hợp đồng thế chấp số tiền vay bảo đảm bằng tài sản của ông M, bà É là 4.000.000.000 đồng, còn lại là bảo đảm bằng tài sản của Công ty.Công ty T1 đã trả số nợ gốc là 4.476.288.823 đồng. Tính đến ngày 25/01/2024 số tiền gốc công ty T1 còn nợ ngân hàng 2.083.711.177 đồng.

Khi Công ty T1 không còn khả năng trả nợ. Ngân hàng S và V đã thống nhất bán tài sản bảo đảm của Công ty gồm máy móc, nhà xưởng là tài sản bảo đảm của Công ty T1 để xử lý thu hồi nợ gốc.

Ngày 08/01/2021, Ngân hàng S đã thu nợ số tiền 1.476.288.823 đồng - là khoản tiền Chi cục Thi hành án huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ chuyển trả từ việc bán nhà xưởng, máy móc là tài sản của Công ty T1 thế chấp tại S. Số tiền này được trừ vào phần dư nợ gốc 2.560.000.000 đồng thuộc phần tài sản bảo đảm của Công ty T1. Ngoài ra trong quá trình thực hiện hợp đồng Công ty T1 đã trả thêm được số tiền gốc 3.000.000.000 đồng. Trong số tiền trả nợ gốc này có số tiền trả nợ gốc của khoản tiền bảo đảm bằng tài sản của Công ty T1.

Tính đến ngày 25/01/2024, Công ty T1 đã trả đủ 2.560.000.000 đồng nợ gốc bằng tài sản bảo đảm của Công ty. Phần dư nợ gốc còn lại hiện nay 2.083.711.177 đồng thuộc nghĩa vụ bảo đảm của bằng tài sản của ông M, bà É.

Về dư nợ lãi:

Tính đến ngày 25/01/2024, Công ty T1 còn nợ SHB tổng nợ lãi là 11.304.446.826 đồng (trong đó: 6.284.330.333 đồng nợ lãi trong hạn, 2.326.494.441 đồng nợ lãi quá hạn, 2.693.622.052 đồng nợ lãi phạt chậm trả).

Do hiện tại Công ty T1 đã dừng hoạt động và bị rút giấy phép kinh doanh, tài sản bảo đảm tại S đứng tên Công ty T1 cũng đã xử lý xong, hiện nay Công ty T1 cũng không còn khả năng trả nợ, tại phiên tòa sơ thẩm ngày 25/01/2024 và tại phiên tòa phúc thẩm ngày hôm nay, phía Ngân hàng S vẫn giữ nguyên việc rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với các khoản nợ lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi phạt đối với khoản nợ gốc bảo đảm bằng tài sản của Công ty T1 và rút một phần lãi quá hạn và toàn bộ lãi phạt bảo đảm bằng tài sản bảo đảm của ông M, bà É.

Tổng dư nợ lãi mà S rút yêu cầu khởi kiện là 5.113.290.901 đồng. Dư nợ lãi còn lại 6.191.155.925 đồng (trong đó: lãi trong hạn là 4.482.974.837 đồng; lãi quá hạn là 1.708.181.088 đồng) thuộc phần bảo đảm bằng tài sản của ông M, bà É.

Tính đến ngày 25/01/2024 Công ty T1 còn nợ ngân hàng S tổng số tiền là 8.274.867.102 đồng, trong đó: phần dư nợ gốc còn lại 2.083.711.177 đồng, lãi 6.191.155.925 đồng (trong đó: lãi trong hạn là 4.482.974.837 đồng; lãi quá hạn là 1.708.181.088 đồng) theo Hợp đồng tín dụng trung, dài hạn số 0908VY02/HĐTD-TDH/2009 ký ngày 25/08/2009 ngân hàng S khởi kiện yêu cầu Công ty T1 trả số tiền trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Ông M kháng cáo cho rằng tài sản là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 55, tờ bản đồ số 6I-III-09, diện tích 60.48m² địa chỉ số G ngõ B đường T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số: 10107212903 do UBND quận H, thành phố Hà Nội cấp ngày 10/09/2002 mang tên ông Phạm Văn M không liên quan đến việc vay nợ của Công ty T1 với ngân hàng S. Tuy nhiên, tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ thể hiện: Tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của ông M, bà É đã được ký kết Hợp đồng thế chấp số công chứng 787 2019 HĐ - GĐ ngày 25/08/2009 tại Văn phòng C số 111A1 ngõ A đường N, quận C, thành phố Hà Nội và đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố Hà Nội, chi nhánh quận H. Nội dung của hợp đồng thế chấp đã thể hiện rất rõ tại Điều 2 của Hợp đồng như sau:

2.1. Bên thế chấp tự nguyện thế chấp toàn bộ tài sản nói trên cho bên Ngân hàng để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ số tiền nói tại khoản 2.2 dưới đây mà bên vay đề nghị bên ngân hàng cho vay, theo điều kiện về thời hạn vay, lãi suất tiền vay và quyền quản lý tiền cho vay của bên Ngân hàng.

2.2. Bên Ngân hàng nhận thế chấp toàn bộ tài sản nói trên của bên thế chấp và đồng ý cho bên vay được vay với mức dư nợ cao nhất 4.000.000.000 đồng.

Hợp đồng thế chấp đã được ông M, bà É ký và được công chứng, đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật. Như vậy, tài sản thế chấp của ông M, bà É đảm bảo cho khoản vay của Công ty T1 theo Hợp đồng tín dụng trung, dài hạn số 0908VY02/HĐTD-TDH/2009 ngày 25/8/2009 giữa Ngân hàng TMCP N nay là Ngân hàng TMCP ( là phù hợp với pháp luật. Ông M cho rằng vợ chồng ông không ký hợp đồng tín dụng nên không chịu trách nhiệm đối với khoản vay của công ty T1 với Ngân hàng TMCP (. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật hợp đồng tín dụng không bắt buộc phải có chữ ký của bên thế chấp tài sản. Tính đến ngày 25/01/2024 Công ty T1 còn nợ ngân hàng S tổng số tiền là 8.274.867.102 đồng, trong đó: phần dư nợ gốc còn lại 2.083.711.177 đồng, lãi 6.191.155.925 đồng (trong đó: lãi trong hạn là 4.482.974.837 đồng; lãi quá hạn là 1.708.181.088 đồng) theo Hợp đồng tín dụng trung, dài hạn số 0908VY02/HĐTD-TDH/2009 ký ngày 25/08/2009. Do vậy, tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà của gia đình ông M được xác định bảo đảm cho khoản nợ trên của Công ty T1 đối với ngân hàng S, nên không thể xóa thế chấp theo như đề nghị của ông M. Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 01/2024/KDTM-ST ngày 25/91/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao đã chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S là có căn cứ, đúng pháp luật, đồng nghĩa với kháng cáo của ông Phạm Văn M không được chấp nhận.

[3] Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của ông M không được chấp nhận nên ông M phải chịu án phí phúc thẩm. Tuy nhiên, ông M thuộc trường hợp được miễn án phí.

Quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp với pháp luật nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Văn M. Giữ nguyên Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 01/2024/KDTM-ST ngày 25/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.
  2. Về án phí phúc thẩm: Ông Phạm Văn M được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
  3. Các quyết định khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh;
  • - TAND huyện Lâm Thao;
  • - Chi cục THADS h. Lâm Thao;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Điêu Thị Bích Lượt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2024/KDTM-PT ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 04/2024/KDTM-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng S - Công ty cổ phần T1 - Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger