Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BA BỂ

TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 04/2025/HS-ST

Ngày: 23/01/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Thùy Linh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Bế Thị Thu Trang

Ông Dương Xuân Trường

- Thư ký phiên tòa: Bà Bào Kim Vân – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Huyền – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 01 năm 2025 tại Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 51/2024/TLST-HS ngày 29/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2024/QĐXXST-HS ngày 25/12/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2025/HSST-QĐ ngày 07/01/2025 và Thông báo về việc mở lại phiên tòa số 01/TB-TA ngày 13/01/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hoàng Văn C (Tên gọi khác: Không); Sinh ngày 01/10/1999 tại huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Nơi cư trú: Thôn N, xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hoàng Văn C1, sinh năm 1976 và bà Triệu Thị N, sinh năm 1980; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: 01 – Ngày 16/6/2022 bị Toà án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” tại bản án hình sự sơ thẩm số 11/2022/HSST, đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/9/2023, chưa được xóa án tích; Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 27/9/2024 đến ngày 04/10/2024 thì được tại ngoại, sau đó bị bắt tạm giam từ ngày 13/01/2025 do vi phạm nghĩa vụ của người được áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú và không chấp hành yêu cầu, quyết định của Tòa án, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B. Có mặt tại phiên tòa.

* Người tham gia tố tụng khác:

- Ông Vi Quang T, sinh năm 1978 - Người chứng kiến; Địa chỉ: Tiểu khu C, thị trấn C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt.

- Ông Nông Văn H, sinh năm 1979 - Người chứng kiến. Địa chỉ: Tiểu khu B, thị trấn C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 08 giờ 15 phút ngày 27/9/2024 Tổ công tác của Công an thị trấn C và Công an xã C, huyện B đang làm nhiệm vụ tuần tra tại đoạn đường từ quốc lộ B vào cổng sau trường phổ thông dân tộc nội trú huyện B thì phát hiện Hoàng Văn C, sinh năm 1999, trú tại thôn N, xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn có biểu hiện nghi vấn cất giấu, tàng trữ trái phép hàng cấm trên người. Tiến hành kiểm tra, phát hiện tại túi quần phía trước, bên trái đang mặc của Hoàng Văn C có 01 (Một) gói được gói bằng túi nilon màu trắng, bên trong có 01 (Một) gói được gói bằng giấy tráng kim loại một mặt màu trắng, một mặt màu vàng chứa chất dạng cục, bột màu trắng. Hoàng Văn C khai nhận, chất dạng cục, bột màu trắng trong gói là H1 được C mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong gói nhỏ nghi là ma túy vào phong bì ký hiệu A1. Hoàng Văn C tự nguyện giao nộp 01 (Một) vật chứng là chiếc quần dài, chất liệu bằng vải, màu xanh đen C dùng để cất giấu ma túy và mặc trên người khi bị bắt quả tang, quần cũ đã qua sử dụng.

Tại biên bản mở, đóng niêm phong cân xác định khối lượng vật chứng nghi là chất ma túy ngày 27/9/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Bắc Kạn xác định: Gói bên trong chứa chất dạng cục, bột màu trắng nghi là chất ma túy Heroine thu giữ của Hoàng Văn C cân riêng chất dạng cục, bột màu trắng nghi chất ma túy Heroine có khối lượng là 0,05g (Không phẩy không năm gam), niêm phong vào phong bì ký hiệu B1 để gửi giám định. Niêm phong toàn bộ phong bì, túi nilon, giấy gói cũ vào phong bì ký hiệu B2.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở và công trình phụ cận có liên quan tại chỗ ở của Hoàng Văn C tại thôn N, xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn kết quả không phát hiện và thu giữ thêm tài liệu, đồ vật gì có liên quan đến hành vi vi phạm của C.

Tại bản Kết luận giám định số 325/KL-KTHS ngày 03/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: “Mẫu chất dạng cục, bột màu trắng trong phong bì ký hiệu B1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine (H) có khối lượng là 0,05g (Không phẩy không năm gam)”.

Sau giám định, mẫu chất dạng cục, bột màu trắng trong phong bì ký hiệu B1 còn lại 0,02g (Không phẩy không hai gam) cùng phong bì, bao gói cũ niêm phong vào phong bì mới ký hiệu T204 hoàn trả lại cho Cơ quan trưng cầu.

Tại giai đoạn điều tra, truy tố Hoàng Văn C khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm của mình về thời gian, địa điểm, quá trình thực hiện hành vi vi phạm, số tiền dùng để mua ma túy, số lượng ma túy đã mua và tàng trữ, cụ thể: Khoảng 07 giờ ngày 27/9/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Hoàng Văn C đi xe khách từ nhà ở thôn N, xã C đến thị trấn C, huyện B để tìm mua ma túy. Khi đến cổng Trung tâm y tế huyện B thuộc tiểu khu B, thị trấn C, C xuống xe và đi bộ xung quanh thì nhìn thấy một người đàn ông không quen biết nhìn giống người nghiện ma túy đang đứng ở lề đường nên C đã hỏi mua được 01 (Một) gói ma túy với giá 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy, C đi bộ vào khu vực cầu T trích ra một ít để sử dụng, số ma túy còn lại Chạn gói lại như cũ, cất vào túi quần rồi đi bộ theo đường lớn để đón xe khách về nhà thì bị cơ quan Công an phát hiện và bắt quả tang.

Quá trình điều tra còn xác định được Hoàng Văn C là lao động tự do, không thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo. Không có tài liệu chứng minh bản thân hoặc gia đình thuộc diện chính sách, người có công với cách mạng.

Tại cáo trạng số 53/CT-VKSBB ngày 29/11/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố Hoàng Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249/BLHS.

* Tại phiên tòa:

- Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn duy trì quyền công tố tại phiên tòa: Giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng, đồng thời phân tích, đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • + Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • + Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, Điều 51/BLHS: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn C từ 18 (Mười tám) đến 24 (Hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 13/01/2025 được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 27/9/2024 đến ngày 04/10/2024.
  • + Áp dụng khoản 5 Điều 249/BLHS: Phạt bổ sung bị cáo số tiền từ 5.000.000đ đến 6.000.000đ nộp sung quỹ Nhà nước.
  • + Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47/BLHS và Điều 106/BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy đối với: 02 (Hai) phong bì niêm phong ký hiệu T204, B2 và 01 (Một) quần dài, bằng vải, màu xanh đen, quần cũ đã qua sử dụng.

- Bị cáo nhất trí với nội dung cáo trạng số 53/CT-VKSBB ngày 29/11/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể và bản luận tội của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, không tự bào chữa, không tranh luận. Tại lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức án thấp nhất cho bị cáo để bị cáo cải tạo sớm trở về tái hòa nhập gia đình và cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử; chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập, do bị cáo cung cấp: Xét thấy đảm bảo theo quy định của pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt những người chứng kiến, tuy nhiên họ đã có đầy đủ lời khai tại giai đoạn điều tra, việc vắng mặt của những người chứng kiến tại phiên tòa không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

[2] Về tội danh:

Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Từ đó đủ cơ sở xác định:

Vào hồi 08 giờ 15 phút ngày 27/9/2024 tại tiểu khu B, thị trấn C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn, Hoàng Văn C đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,05g (Không phẩy không năm gam) ma túy loại Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân, ngoài ra không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy. Tuy khối lượng ma túy Heroine Hoàng Văn C tàng trữ dưới mức định lượng 0,1g (Không phẩy một gam) nhưng căn cứ lời khai, tài liệu chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án và qua quá trình thẩm tra tại phiên tòa xác định bị cáo có 01 (Một) tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích, do đó hành vi phạm tội trong vụ án này của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249/BLHS.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy. Tại thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội thì bị cáo là người đủ tuổi và năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đầy đủ nhận thức và không bị hạn chế khả năng điều khiển hành vi của mình, bản thân bị cáo nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là nguy hiểm cho xã hội, là vi phạm pháp luật, thấy trước hậu quả của hành vi nhưng vì mục đích thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên vẫn cố ý thực hiện, thể hiện thái độ coi thường và không chấp hành nghiêm quy định của pháp luật.

Như vậy có đủ căn cứ xác định việc truy tố, xét xử bị cáo Hoàng Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249/BLHS là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Điều luật có nội dung:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 đến 05 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các điều 248, 250, 251 và 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

[3] Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Tội phạm Hoàng Văn C thực hiện là tội phạm nghiêm trọng, có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn, là nguyên nhân và nguy cơ làm gia tăng tội phạm, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự địa phương, cần xử lý nghiêm nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo:

Nhân thân: Bị cáo có 01 (Một) tiền án chưa được xóa án tích. Trong quá trình điều tra vụ án này bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, tuy nhiên trong thời gian tại ngoại bị cáo lại vi phạm nghĩa vụ cam kết của người được áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, tự ý đi khỏi địa phương khi chưa được sự cho phép của Ủy ban nhân dân xã C là cơ quan chịu trách nhiệm quản lý, giám sát bị cáo trong thời gian được tại ngoại và không có mặt theo yêu cầu triệu tập của Tòa án tại phiên tòa xét xử sơ thẩm ngày 07/01/2025, do đó Tòa án đã ban hành Quyết định bắt, tạm giam đối với bị cáo tại Nhà tạm giữ Công an huyện B, tỉnh Bắc Kạn kể từ ngày 13/01/2025. Hành vi vi phạm của bị cáo đã gây mất trật tự trị an tại địa phương, thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo không nghiêm, coi thường pháp luật.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về hình phạt:

Trên cơ sở quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Về hình phạt chính: Xét thấy cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn tương xứng với mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, phù hợp với thực tiễn xét xử tại địa phương để đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249/BLHS quy định về hình phạt bổ sung đối với người phạm tội, tuy nhiên xét thấy bị cáo là dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, quá trình xác minh tại địa phương xác định được bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có công ăn việc làm ổn định, sống phụ thuộc gia đình, không có thu nhập gì, không có tài sản riêng, việc áp dụng hình phạt bổ sung là không khả thi, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng:

Gồm có:

  • - 01 (Một) phong bì ký hiệu T204, bên trong phong bì chứa mẫu vật hoàn trả sau giám định và phong bì, giấy gói cũ; 01 (Một) phong bì ký hiệu B2 bên trong có chứa phong bì, túi nilon, giấy gói cũ; 01 (Một) chiếc quần dài, bằng vải, màu xanh đen, quần cũ đã qua sử dụng được bị cáo dùng để cất giấu ma túy và mặc trên người khi bị bắt quả tang về hành vi phạm tội. Xác định đây là những vật cấm tàng trữ, lưu hành và vật không có giá trị do đó cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Về vấn đề khác:

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Hoàng Văn C: Quá trình điều tra không xác minh, xác định được đối tượng, do đó cơ quan điều tra không có cơ sở để xử lý, Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp.

[8] Về quan điểm giải quyết vụ án của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân:

Xét thấy quan điểm của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn về việc giải quyết vụ án và mức hình phạt tù áp dụng đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật, cần được chấp nhận.

Về đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 5.000.000đ đến 6.000.000đ đối với bị cáo: Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đồng thời có xét đến điều kiện kinh tế, tình hình tài sản của người phạm tội xét thấy bị cáo không có công ăn việc làm ổn định, sống phụ thuộc gia đình, không có thu nhập gì, không có tài sản riêng, do đó việc áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là không khả thi, do đó HĐXX không chấp nhận.

[9] Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí, xét thấy cần chấp nhận miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 249, Điều 38, Điều 47, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

[1]. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

[2]. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn C 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 13/01/2025, được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 27/9/2024 đến ngày 04/10/2024.

[3]. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy đối với: 01 (Một) phong bì ký hiệu T204, bên trong phong bì chứa mẫu vật hoàn trả sau giám định và phong bì, giấy gói cũ; 01 (Một) phong bì ký hiệu B2 bên trong có chứa phong bì, túi nilon, giấy gói cũ; 01 (Một) chiếc quần dài, bằng vải, màu xanh đen, quần cũ đã qua sử dụng (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận ngày 29/11/2024 giữa Công an huyện B, tỉnh Bắc Kạn với Chi cục thi hành án dân sự huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn)

[4]. Về án phí: Bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[5]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Kạn;
  • - VKSND tỉnh Bắc Kạn;
  • - VKSND huyện Ba Bể;
  • - Công an huyện Ba Bể;
  • - CCTHADS huyện Ba Bể (Khi có HLPL);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Kạn (Khi có HLPL);
  • - THAHS;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HSVA; Văn thư.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa




Nguyễn Thị Thùy Linh

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂNTHẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bế Thị Thu TrangDương Xuân TrườngNguyễn Thị Thùy Linh
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2025/HS-ST ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN về tàng trữ trái phép chất ma túy (illegal possession of narcotics)

  • Số bản án: 04/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Illegal possession of narcotics)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào hồi 08 giờ 15 phút ngày 27/9/2024 tại tiểu khu 2, thị trấn C, huyện B, tỉnh B, Hoàng Văn C đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,05g (Không phẩy không năm gam) ma túy loại Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân, ngoài ra không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy. Tuy khối lượng ma túy Heroine Hoàng Văn C tàng trữ dưới mức định lượng 0,1g (Không phẩy một gam) nhưng căn cứ lời khai, tài liệu chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án và qua quá trình thẩm tra tại phiên tòa xác định bị cáo có 01 (Một) tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích, do đó hành vi phạm tội trong vụ án này của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249/BLHS.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger