Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2024/DS-ST

Ngày: 22/5/2024

V/v: Tranh chấp Thừa kế quyền sử dụng đất, tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Quý Sửu

- Các hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Thanh Hải và bà Hà Thị Dung

- Thư ký phiên toà: Bà Lương Thị Thuý Linh; Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Lê Ngọc Kim Loan, Kiểm sát viên.

Trong các ngày 15 và ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại Hội trường Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm vụ án Dân sự thụ lý số 14/2023/TLST-DS ngày 16/10/2023 về việc Tranh chấp Thừa kế quyền sử dụng đất, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2024/QĐXX-ST ngày 22/3/2024; giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Hà Thị T, sinh năm 1977; địa chỉ: Xóm Đ, xã P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; có mặt

Bị đơn: Ông Hà Đình T1, sinh năm 1974, địa chỉ: Xóm L, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; có mặt ngày xét xử, vắng mặt ngày tuyên án không có lý do.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Lưu Quốc C, sinh năm 1991; có mặt
  2. Anh Lưu Quốc T2, sinh năm 1991; vắng mặt

Cùng địa chỉ: Khu tập thể C Hà Nội, phường T, quận T, thành phố Hà Nội. Anh Lưu Quốc T2 uỷ quyền cho anh Lưu Quốc C.

  1. Bà Nguyễn Thị Tuyết M, sinh năm 1961, địa chỉ: P - A, khu tập thể Công ty C8, phường T, quận T, thành phố Hà Nội; có mặt.
  2. Anh Lưu Thanh T3, sinh năm 1992; vắng mặt

Địa chỉ: Số A đường N, phường T, quận T, thành phố Hà Nội

  1. Chị Lưu Khánh L, sinh năm 1994; vắng mặt.

Địa chỉ: P - A4, khu tập thể Công ty C8, phường T, quận T, thành phố Hà Nội

Anh T3, chị L uỷ quyền cho bà Nguyễn Thị Tuyết M, sinh năm 1961, địa chỉ: P - A, khu tập thể Công ty C8, phường T, quận T, thành phố Hà Nội

  1. Ông Lưu Văn H, sinh năm 1964, địa chỉ: Trung tâm B3, thành phố Hà Nội; có đơn xin xét xử vắng mặt.
  2. Bà Đinh Thị D, sinh năm 1975, địa chỉ: Đ, xã P, huyện Đ, TP .; vắng mặt.
  3. Bà Đinh Thị T4, sinh năm 1980, địa chỉ: Tòa nhà G, số B, Phạm Văn B, Cầu G, TP Hà Nội; vắng mặt.

Bà D, bà T4 uỷ quyền cho bà Hà Thị T, sinh năm 1977, địa chỉ: Xóm Đ, xã P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên

  1. Ông Nguyễn Thế C1, sinh năm 1945, địa chỉ: Tổ D, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; vắng mặt.
  2. Bà Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 1969, địa chỉ: Tổ dân phố X, phường C, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên; vắng mặt.
  3. Bà Nguyễn Lan H2, sinh năm 1970, địa chỉ: Tổ A, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; có mặt
  4. Ông Nguyễn Thế Đ, sinh năm 1973, địa chỉ: Tổ dân phố T, xã T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; vắng mặt.

Ông C1, bà H1, ông Đ uỷ quyền cho bà Nguyễn Lan H2, sinh năm 1970, địa chỉ: Tổ A, phường Q, TP ., tỉnh Thái Nguyên

  1. Ông Hà Đình L1, sinh năm 1976, địa chỉ: Xóm L, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; vắng mặt.
  2. Ông Hà Mạnh S, sinh năm 1980, địa chỉ: Thôn C, xã M, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; có đơn xin xét xử vắng mặt.
  3. Ông Nguyễn Thanh Q, sinh năm 1947; vắng mặt.
  4. Ông Nguyễn Thanh X, sinh năm 1976; có mặt.
  5. Ông Nguyễn Thanh B1, sinh năm 1978; vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Xóm R, xã P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên

  1. Bà Nguyễn Thúy M1, sinh năm 1982, địa chỉ: Xóm G, xã Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; vắng mặt.
  2. Bà Nguyễn Thị Kiều T5, sinh năm 1986, địa chỉ: Xóm Đ, xã P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; vắng mặt.

Ông Nguyễn Thanh Q, bà Nguyễn Thúy M1, bà Nguyễn Thị Kiều T5, ông Nguyễn Thanh B1 uỷ quyền cho ông Nguyễn Thanh X, sinh năm 1976, địa chỉ: Xóm R, xã P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên

  1. Bà Tô Thị L2, sinh năm 1989, địa chỉ: Tổ I, phường P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; vắng mặt.

Bà L2 ủy quyền cho bà Tô Thị L3, sinh năm 1987, địa chỉ: Tổ I, phường P, TP ., tỉnh Thái Nguyên; có mặt.

  1. Bà Nông Thị T6, sinh năm 1967, địa chỉ: Xóm L, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; có mặt ngày xét xử, vắng mặt ngày tuyên án không có lý do.
  2. Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thế H3 - Chức vụ: Phó Chủ tịch UBND huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; có đơn xin xét xử vắng mặt.

  1. Anh Nông Văn N, sinh năm 1987, địa chỉ: Xóm L, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Hà Thị T và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan uỷ quyền cho bà Nguyễn Thị Tuyết M, bà Nguyễn Lan H2, ông Nguyễn Thanh X trình bày:

Cụ Hà Đình C2 (sinh năm 1916 chết năm 1993) và cụ Hà Thị C3 (sinh năm 1918 chết năm 2000) sinh được 05 người con, gồm:

1. Hà Thị C4, sinh năm 1938, chết năm 2010, bà C4 có chồng là ông Lưu Văn T7, đã chết năm 1990, có 03 con là:

Lưu Văn C5 sinh năm 1959, chết năm 2019, có vợ là Đỗ Thị B2 đã chết năm 2022, có 02 con là: Lưu Quốc C, sinh năm 1991 và Lưu Quốc T2, sinh năm 1991.

Lưu Văn C6, sinh năm 1961, chết năm 2021, có vợ là Nguyễn Thị Tuyết M, có 02 con là: Lưu Thanh T3, sinh năm 1992 và Lưu Khánh L, sinh năm 1994.

Lưu Văn H, sinh năm 1964.

2. Hà Thị N1, sinh năm 1945, chết năm 1992, có chồng là ông Đinh Văn C7, chết năm 2012, có 03 con là:

Đinh Thị D sinh năm 1975, Đinh Thị T4, sinh năm 1980, Hà Thị T, sinh năm 1977.

3. Hà Thị T8, sinh năm 1946, chết năm 2010, có chồng là Nguyễn Thế C1, sinh năm 1945, có ba người con là:

Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 1969, Nguyễn Lan H2, sinh năm 1970, Nguyễn Thế Đ, sinh năm 1973.

4. Ông Hà Đình V, sinh năm 1949, chết năm 1989, có vợ là Lê Thị N2, sinh năm 1948, chết năm 1995, có 03 con là: Hà Đình T1, sinh năm 1974, Hà Đình L1, sinh năm 1976, Hà Mạnh S, sinh năm 1980.

5. Hà Thị T9, sinh năm 1954, chết năm 2017, có chồng là ông Nguyễn Thanh Q sinh năm 1947, có 04 con là: Nguyễn Thanh X, sinh năm 1976, Nguyễn Thanh B1, sinh năm 1978, Nguyễn Thúy M1, sinh năm 1982, Nguyễn Thị Kiều T5, sinh năm 1986.

Cụ C4 và cụ C3 khi còn sống tạo dựng được khối tài sản là 10.494 m² đất và 01 ngôi nhà cấp 4 trên đất tại xóm L, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. UBND huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 968845, số vào sổ 00511 ngày 10/11/1994 mang tên Hà Đình C2. Cụ C2, cụ C3 chết không để lại di chúc. Trong 05 người con cụ C2 và cụ C3 có ông Hà Đình V khi còn sống bị tật nguyền từ bé nên ở cùng cụ C2 và cụ C3. Sau khi cụ C2, cụ C3 chết, toàn bộ di sản của cụ C2, cụ C3 do vợ chồng ông Hà Đình T1, bà Nông Thị T6, ông Hà Đình L1 quản lý, sử dụng. Trong quá trình quản lý di sản là nhà, đất của cụ C2, cụ C3 để lại, vợ chồng ông T1 bà T6 đã tự ý làm thủ tục sang tên bìa đỏ thành tên của mình và tự ý bán đi một phần tài sản cụ C2 và cụ C3 để lại. Ngày 29/12/2005 UBND huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Hà Đình T1 gồm các thửa: Thửa số 820, tờ bản đồ số 10, diện tích 400 m2 đất ở và 5.990 m2 đất cây lâu năm; thửa 112, tờ bản đồ số 10, diện tích 890 m2; thửa 603 tờ bản đồ số 10 diện tích 540 m2; thửa 656, tờ bản đồ số 10, diện tích 419 m2; thửa 101, tờ bản đồ 17, diện tích 26 m2; thửa 151, tờ bản đồ số 10, diện tích 378 m2; thửa 76, tờ bản đồ 17, diện tích 678 m2; thửa 129, tờ bản đồ 17, diện tích 745 m2. Năm 2021, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Hà Đình T1, trong đó có thửa 820, tờ bản đồ số 10, diện tích 6.574,6 m2, gồm 400 m2 đất ở, 6.174,6 m2 đất cây lâu năm.

Nguyên đơn bà Hà Thị T và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan uỷ quyền cho bà Nguyễn Thị Tuyết M, bà Nguyễn Lan H2, ông Nguyễn Thanh X đề nghị Tòa án hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 02/11/2021 mang tên Hà Đình T1 đối với thửa đất số 820, tờ bản đồ số 10, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên và chia thừa kế quyền sử dụng đất theo pháp luật cho các hàng thừa kế của cụ C2, cụ C3 đối với thửa 820, tờ bản đồ số 10, diện tích 6.574,6 m2, gồm 400 m2 đất ở, 6.174,6 m2 đất cây lâu năm. Các thửa đất ao, đất nông nghiệp khác để cho ông T1 sử dụng, không yêu cầu chia thừa kế. Đối với diện tích đất thuộc thửa 820, tờ bản đồ số 10, ông T1 bà T6 đã chuyển nhượng cho bà L2 năm 2021, công chứng năm 2023 khi các bên đã tranh chấp, đề nghị Toà án không công nhận hợp đồng chuyển nhượng diện tích đất trên.

Tại phiên toà sơ thẩm nguyên đơn, bà Hà Thị T không yêu cầu Toà án huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Hà Đình T1 năm 2021.

Bị đơn ông Hà Đình T1, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nông Thị T6 trình bày:

Về hàng thừa kế của cụ C2, cụ C3 như nguyên đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày nêu trên là đúng. Ông nội của ông T1 là cụ Hà Đình C2, chết năm 1993, bà nội là cụ Hà Thị C3, chết năm 2000, sinh ra bố ông là Hà Đình V, chết năm 1989. Cụ C2, cụ C3 chết có để lại thửa đất số 820, tờ bản đồ số 10 và một số thửa đất khác như nguyên đơn trình bày là đúng. Ông T1 là cháu đích tôn, nên khi còn sống các cụ có nói để lại toàn bộ đất đai cho ông T1 sử dụng. Năm 2005, ông T1 kê khai được UBND huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, năm 2021, được Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh T cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nay bà T khởi kiện yêu cầu hưởng phần thừa kế của bà N1 là con cụ C2 đối với thửa đất số 820, ông T1, bà T6 không nhất trí, chỉ đồng ý trả diện tích đất 753,6 m2 khi còn sống cụ C2, cụ C3 có nói cho bà N1.

Đối với diện tích đất bán cho bà L2 650 m2, giá 650.000.000 đồng, đề nghị Toà án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà L2.

Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:

Ông Hà Đình L1 nhất trí về hàng thừa kế của cụ C2, cụ C3 như nguyên đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày nêu trên là đúng. Ông nội của ông L1 là cụ Hà Đình C2, chết năm 1993, bà nội là cụ Hà Thị C3, chết năm 2000, sinh được 05 người con trong đó có bố ông là Hà Đình V, chết năm 1989. Cụ C2, cụ C3 để lại di sản 10.494 m2 đất như nguyên đơn trình bày là đúng. Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ C2, cụ C3 là thửa đất số 820, ông L1 nhất trí và đề nghị được hưởng di sản theo quy định của pháp luật.

Ông Hà Mạnh S nhất trí về hàng thừa kế của cụ C2, cụ C3 như nguyên đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày. Ông nội của ông S là cụ Hà Đình C2, chết năm 1993, bà nội là cụ Hà Thị C3, chết năm 2000, sinh được 05 người con trong đó có bố ông là Hà Đình V, chết năm 1989. Cụ C2, cụ C3 để lại di sản 10.494 m2 đất như nguyên đơn trình bày là đúng. Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ C2, cụ C3 là thửa đất số 820, ông S đề nghị được hưởng di sản là 1/3 diện tích thửa đất trên.

Anh C, anh T2 là con của ông Lưu Văn C5, chết năm 2019 và bà Đỗ Thị B2, chết năm 2022, ông C5 là con cụ C2, cụ C3. Nay bà T khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ C2, cụ C3 theo pháp luật, anh C, anh T2 đề nghị được hưởng phần di sản của cụ C2, cụ C3 theo pháp luật. Anh T2 nhường kỷ phần thừa kế được hưởng cho anh C.

Ông Nguyễn Thanh Q, anh Nguyễn Thanh X, Nguyễn Thanh B1, chị Nguyễn Thúy M1, Nguyễn Thị Kiều T5 đề nghị được hưởng phần di sản của cụ C2, cụ C3 theo pháp luật. Ông Q, anh B1, chị M1, chị T5 nhường kỷ phần thừa kế cho anh Nguyễn Thanh X.

Ông Lưu Văn H, anh Lưu Thanh T3, chị Lưu Khánh L đề nghị được hưởng phần di sản của cụ C2, cụ C3 theo pháp luật. Ông H, anh T3, chị T5 nhường kỷ phần thừa kế được hưởng cho bà Nguyễn Thị Tuyết M.

Bà Đinh Thị D, Đinh Thị T4 đề nghị được hưởng phần di sản của cụ C2, cụ C3 theo pháp luật. Bà D, bà T4 nhường kỷ phần thừa kế được hưởng cho bà Hà Thị T.

Ông Nguyễn Thế C1, bà Nguyễn Thị Thu H1, ông Nguyễn Thế Đ, bà Nguyễn Lan H2 đề nghị được hưởng phần di sản của cụ C2, cụ C3 theo pháp luật. Ông C1, bà H1, ông Đoàn n kỷ phần thừa kế được hưởng cho bà Nguyễn Lan H2.

UBND huyện Đ trình bày:

Tại sổ theo dõi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của UBND xã H thể hiện vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Hà Đình T1 ngày 29/12/2005. Hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất UBND huyện Đ cấp cho ông Hà Đình T1 hiện nay không tìm thấy, nên UBND huyện Đ không đủ cơ sở trả lời về trình tự, thủ tục, căn cứ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Hà Đình T1 năm 2005.

Bà Tô Thị L2, đại diện theo uỷ quyền bà Tô Thị L3 trình bày:

Tháng 10/2021, bà L2 nhận chuyển nhượng 686,3 m2 đất, gồm 100 m2 đất ở, 586,3 m2 đất cây lâu năm, thuộc thửa 820, tờ bản đồ số 10, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên của ông Hà Đình T1 và bà Nông Thị T6. Giá chuyển nhượng hai bên thoả thuận là 650.000.000 đồng. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên được công chứng ngày 02/7/2023 tại văn phòng C9. Khi chuyển nhượng, bà L2 không biết đất đang có tranh chấp. Nay các bên khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế thửa đất số 820, trong đó có phần diện tích đất ông T1, bà T6 đã chuyển nhượng cho bà L2. Bà L2 có đơn yêu cầu độc lập đề nghị Toà án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên. Trường hợp không công nhận được hợp đồng, đề nghị Toà án buộc ông T1, bà T6 trả cho bà số tiền đã nhận 650.000.000 đồng và khoản tiền lãi từ tháng 10/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm theo mức lãi suất 10%/năm.

Ông Nông Văn N trình bày:

Tháng 4/2023, ông N thoả thuận thuê đất của ông T1 bà T6 tại thửa đất số 820, tờ bản đồ số 10 xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên để trồng cây ăn quả. Thời hạn thuê là 07 năm, với số tiền 21.000.000 đồng. Ông N đã trả tiền thuê đến năm 2029 và trồng cây ăn quả trên thửa đất thuê nêu trên. Nay các đương sự khởi kiện yêu cầu chia thừa kế thửa đất nêu trên, ông N đề nghị phần đất ông trồng cây nêu trên nếu Toà chia cho ai thì đề nghị cho ông được tiếp tục trồng cây theo hợp đồng thuê đất cho đến hết thời hạn thuê đất.

Đại diện VKSND tỉnh Thái Nguyên phát biểu ý kiến xác định: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán chủ tọa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà, người tham gia tố tụng trong vụ án đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hà Thị T và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về phía bà T, chia thừa kế theo pháp luật đối với thửa đất số 820, tờ bản đồ số 10 thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên thành 05 phần, trong đó 04 phần giao cho những người là con, cháu thuộc hàng thừa kế của 04 người con của cụ C2, cụ C3. Đối với ông T1, ông L1, ông S là con của ông V, cháu của cụ C2, cụ C3, đề nghị chia cho mỗi người được hưởng 1/3 kỷ phần thừa kế ông V được hưởng tại phần diện tích đất có nhà hiện nay ông T1, ông L1 đang quản lý, sử dụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

[1] Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tranh chấp thừa kế tài sản là quyền sử dụng đất.

[2] Trong quá trình giải quyết vụ án, căn cứ vào nguồn gốc đất, quá trình sử dụng đất, ý kiến trình bày của các đương sự, thấy, UBND huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 820, tờ bản đồ số 10 xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên cho ông Hà Đình T1 năm 2005, đến năm 2021 Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh T cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Hà Đình T1, nhưng không dựa trên căn cứ xác lập quyền sử dụng đất. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là di sản thừa kế của cụ C2, cụ C3 là ông nội của ông T1 trong khi cụ C2 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1994, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ án mà Toà án đang giải quyết và phải được xem xét trong việc giải quyết vụ án dân sự, nên cần xem xét huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Hà Đình T1 theo yêu cầu của nguyên đơn, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên theo quy định tại khoản 9 Điều 26, Điều 34, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 31, Điều 32 Luật tố tụng hành chính.

Tuy nhiên, tại phiên toà nguyên đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chỉ yêu cầu chia thừa kế quyền sử dụng đất theo pháp luật, không yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp đổi cho ông T1, nên không cần thiết phải huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp cho ông Hà Đình T1.

Về nội dung:

Về nguồn gốc, vị trí thửa đất tranh chấp yêu cầu chia di sản thừa kế:

[3] Các đương sự đều xác định thửa đất tranh chấp hiện nay có nguồn gốc của cụ Hà Đình C2, cụ Hà Thị C3. Tại Sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1994 lưu trữ tại UBND thị trấn H, huyện Đ thể hiện cụ Hà Đình C2 được UBND huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Quyết định số 780/QĐ-UB ngày 10/11/1994, số phát hành của Tổng cục quản lý ruộng đất

I, diện tích được cấp 10.424 m2. Cán bộ địa chính thị trấn H xác định: Theo nội dung thể hiện trong Sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên, cụ C2 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 10.424 m2 tại xóm L, xã H, huyện Đ, Thái Nguyên.

[4] Có đủ căn cứ để xác định thửa đất số 820, tờ bản đồ số 10, diện tích 6.574,6 m2, trong đó có 400 m2 đất ở tại xóm L, thị trấn H, huyện Đ, Thái Nguyên, UBND huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Hà Đình T1 năm 2005, Sở Tài nguyên và Môi Trường tỉnh T cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Hà Đình T1 là di sản của cụ C2, cụ C3. Nguyên đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về phía nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế thửa đất số 820 theo pháp luật là có căn cứ.

Về yêu cầu giải quyết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T1, bà T6 với chị L2:

Tháng 6/2020, Toà án thụ lý vụ án tranh chấp thừa kế theo đơn khởi kiện của bà Hà Thị T. Tháng 9/2021, ông T1, bà T6 viết giấy biên nhận tiền để chuyển nhượng 650 m2 đất thuộc thửa 820, tờ bản đồ số 10 cho bà Tô Thị L2, ngày 12/7/2023, hợp đồng mới được công chứng.

Xét thấy, ông T1, bà T6 chuyển nhượng 650 m2 đất cho bà L2 khi đã có tranh chấp và Toà án đã thụ lý để giải quyết tranh chấp đối với chính thửa đất các bên thoả thuận chuyển nhượng là vi phạm điều cấm của pháp luật, nên vô hiệu. Bà L2 đề nghị Toà án buộc ông T1, bà T6 phải trả lại số tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã nhận là 650.000.000 đồng và khoản tiền lãi 10%/năm từ tháng 9/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm là có căn cứ, được chấp nhận.

Về hàng thừa kế và diện thừa kế:

Các đương sự đều thừa nhận cụ C2, cụ C3 sinh được 05 người con, cụ C2, cụ C3 chết không để lại di chúc, di sản của cụ C2, cụ C3 được chia theo pháp luật cho hàng thừa kế thứ nhất gồm 05 kỷ phần thừa kế. Hiện nay các con của cụ C2, cụ C3 đều đã chết, những người là vợ, chồng, con của những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ C2, cụ C3 được hưởng thừa kế của nhau, thừa kế thế vị và thừa kế chuyển tiếp theo quy định tại các Điều 651, 652 Bộ luật dân sự. Cụ thể như sau:

[5] Anh C và anh T2 được hưởng 1/3/5 di sản thừa kế, anh T2 nhường kỷ phần thừa kế cho anh C, nên anh C được hưởng cả phần di sản của anh T2 là 1/3/5 di sản thừa kế; bà M, anh T3, chị L được hưởng tổng số 1/3/5 di sản thừa kế; ông Lưu Văn H được hưởng 1/3/5 di sản thừa kế. Anh T3, chị L, ông H nhường kỷ phần thừa kế cho bà M, bà M được hưởng 2/3/5 di sản thừa kế.

[6] Bà D, bà T4, bà T mỗi người được hưởng 1/3/5 di sản thừa kế. Bà D, bà T4 nhường kỷ phần thừa kế cho bà T, bà T được hưởng 1/5 di sản thừa kế.

[7] Ông C1, Bà H2, bà H1, ông Đ mỗi người được hưởng 1/4/5 di sản thừa kế. Ông C1, ông Đ, bà H1 nhường kỷ phần thừa kế cho bà H2, bà H2 được hưởng 1/5 di sản thừa kế.

[8] Ông Q, ông B1, ông M1, bà T5, ông X mỗi người được hưởng 1/5/5 di sản thừa kế. Ông Q, ông B1, bà M1, bà T5, nhường kỷ phần thừa kế cho ông X, ông X được hưởng 1/5 di sản thừa kế.

[9] Ông T1, ông S, ông L1 mỗi người được hưởng 1/3/5 di sản thừa kế.

Về yêu cầu chia di sản thừa kế bằng hiện vật:

[10] Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và bản đồ địa chính, thửa đất số 820, tờ bản đồ số 10, diện tích 6.574,6 m2, bao gồm 400 m2 đất ở và 6.174,6 m2 đất cây lâu năm. Hiện trạng sử dụng đất có ranh giới là bức tường xây, các bên không tranh chấp, nên xác định diện tích đất theo hiện trạng là 6.144,2 m2, gồm 400 m2 đất ở, 5.744,2 m2 đất cây lâu năm.

[11] Những người thuộc hàng thừa kế của bà C2, ông T7, bà N1, ông C7, bà T8, bà T9 đề nghị được nhận 4/5 di sản thừa kế là phù hợp, nên xác định những người thừa kế của các ông bà nêu trên được hưởng mỗi nhánh 1/5 di sản thừa kế. Những người được thừa kế tự nguyện nhường kỷ phần thừa kế cho thừa kế khác, Hội đồng xét xử ghi nhận về việc nhường kỷ phần thừa kế cho những thừa kế khác.

[12] Căn cứ vào hiện trạng và hình thể thửa đất, dành phần đất làm đường đi chung là 186,4 m2, diện tích đất còn lại gồm 400 m2 đất ở, 5.557,8m2 đất cây lâu năm. Chia thừa kế theo pháp luật theo 5 phần cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất, mỗi phần được hưởng 80 m2 đất ở và 1.111,56 m2 đất cây lâu năm. Tuy nhiên, đối với các phần đất nằm ở vị trí phía trong không tiếp giáp với đường giao thông, có giá trị thấp hơn, nên giao diện tích đất trồng cây lâu năm cho những người hưởng thừa kế phần đất này nhiều hơn các phần đất khác để đảm bảo công bằng.

Về vị trí chia quyền sử dụng đất là di sản thừa kế:

Hiện trạng bà T sử dụng ngôi miếu thờ do bà T xây dựng, ông T1 đang sử dụng ngôi nhà do ông T1, bà T6 xây dựng, ông L1 sử dụng ngôi nhà cũ do cụ C2, cụ C3 xây dựng, nên chia cho bà T, ông T1, ông L1 phần đất có tài sản trên đất nêu trên.

Phần cây trồng, tài sản của ông T1, bà T6, ông L1 trên diện tích đất giao cho các đồng thừa kế khác, ông T1, bà T6, ông L1 có trách nhiệm tháo dỡ, thu hoạch để trả đất cho các đồng thừa kế được giao.

Về việc ông T1 cho anh N thuê đất để trồng cây:

[13] Tháng 4/2023, ông N thoả thuận thuê đất của ông T1 bà T6 tại thửa đất số 820, tờ bản đồ số 10 xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên để trồng cây ăn quả. Thời hạn thuê là 07 năm, với số tiền 21.000.000 đồng. Thời điểm cho thuê đất, các bên đã có tranh chấp, Toà án đang giải quyết, ông T1 cho anh N thuê đất là không đúng. Vì vậy, anh N có trách nhiệm thu hoạch, di dời cây trồng trên đất để trả lại diện tích đất giao cho các đồng thừa kế. Nếu có tranh chấp về thoả thuận thuê đất giữa anh N với ông T1 sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.

Về án phí:

[14] Các đương sự phải chịu án phí có giá ngạch tương ứng với giá trị tài sản được hưởng thừa kế.

Về chi phí tố tụng:

[15] Ghi nhận bà Hà Thị T tự nguyện chịu chi phí thẩm định, định giá tài sản là 16.300.000 đồng (đã thực hiện xong).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: khoản 9 Điều 26, Điều 37, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 117, Điều 123, 131; Điều 650, 651, 652 Bộ luật dân sự; Điều 26 Luật thi hành án dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Tô Thị L2 về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với ông Hà Đình T1, bà Nông Thị T6.

1.1. Xác định Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng 650 m2 đất tại thửa số 820, tờ bản đồ số 10 xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên giữa bà Tô Thị L2 với ông Hà Đình T1, bà Nông Thị T6, văn phòng C9 công chứng ngày 12/7/2023 vô hiệu toàn bộ.

1.2. Buộc vợ chồng ông Hà Đình T1 bà Nông Thị T6 trả cho bà Tô Thị L2 số tiền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất 650.000.000 đồng và khoản tiền lãi tính từ ngày nhận tiền tháng 9/2021 đến tháng 5/2024 theo mức lãi suất 10%/năm là 173.160.000.000 đồng. Tổng cộng là 823.160.000 đồng.

1.3. Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật, bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không tự nguyện thi hành số tiền trên, thì hàng tháng còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả cho đến khi thi hành xong. Mức lãi suất chậm trả do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền chậm trả. Trường hợp không thỏa thuận được về lãi suất chậm trả thì được xác định theo mức lãi suất theo quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự.

2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hà Thị T đối với ông Hà Đình T1 về việc chia thừa kế theo pháp luật quyền sử dụng thửa đất số 820, tờ bản đồ số 10 xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, diện tích thực tế là 6.144,2 m2, gồm 400 m2 đất ở, 5.744,2 m2 đất cây lâu năm.

Tách 186,4 m2 đất cây lâu năm làm đường đi chung, diện tích còn lại gồm 400 m2 đất ở, 5.557,8m2 đất cây lâu năm. Chia thừa kế theo pháp luật cho những người là vợ, chồng, con, cháu của những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ C2, cụ C3 được hưởng thừa kế của nhau, thừa kế thế vị và thừa kế chuyển tiếp, cụ thể như sau:

2.1. Bà Hà Thị T được hưởng thừa kế quyền sử dụng 950,3 m2 đất thuộc thửa số 820, tờ bản đồ số 10 xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, gồm 80 m2 đất

ở, 870,3 m2 đất câu lâu năm, trị giá 74.996.200 đồng; có sơ đồ chi tiết kèm theo, ký hiệu là phần đất số (1).

2.2. Ông Hà Đình T1 được hưởng thừa kế quyền sử dụng 461,2 m2 đất thuộc thửa số 820, tờ bản đồ số 10 xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, gồm 26,6 m2 đất ở, 434,6 m2 đất câu lâu năm, trị giá 32.778.400 đồng; có sơ đồ chi tiết kèm theo, ký hiệu là phần đất số (2).

2.3. Ông Hà Mạnh S được hưởng thừa kế quyền sử dụng 457,8 m2 đất thuộc thửa số 820, tờ bản đồ số 10 xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, gồm 26,6 m2 đất ở, 431,2 m2 đất câu lâu năm, trị giá 32.594.800 đồng; có sơ đồ chi tiết kèm theo, ký hiệu là phần đất số (3).

2.4. Ông Hà Đình L1 được hưởng thừa kế quyền sử dụng 458,1 m2 đất thuộc thửa số 820, tờ bản đồ số 10 xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, gồm 26,6 m2 đất ở, 431,5 m2 đất câu lâu năm, trị giá 32.611.000 đồng; có sơ đồ chi tiết kèm theo, ký hiệu là phần đất số (4).

2.5. Bà Nguyễn Thị Tuyết M và anh Lưu Quốc C được hưởng thừa kế quyền sử dụng 1.296,9 m2 đất thuộc thửa số 820, tờ bản đồ số 10 xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, gồm 80 m2 đất ở, 1216,9 m2 đất câu lâu năm, trị giá 93.712.600 đồng (Trong đó anh C được hưởng 1/3, bà M được hưởng 2/3 diện tích đất ở và đất cây lâu năm) có sơ đồ chi tiết kèm theo, ký hiệu là phần đất số (5).

2.6. Ông Nguyễn Thanh X được hưởng thừa kế quyền sử dụng 1.406,5m2 đất thuộc thửa số 820, tờ bản đồ số 10 xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, gồm 80 m2 đất ở, 1.326,5 m2 đất câu lâu năm, trị giá 99.631.000 đồng; có sơ đồ chi tiết kèm theo, ký hiệu là phần đất số (6).

2.7. Bà Nguyễn Lan H2 được hưởng thừa kế quyền sử dụng 927 m2 đất thuộc thửa số 820, tờ bản đồ số 10 xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, gồm 80 m2 đất ở, 847 m2 đất câu lâu năm, trị giá 73.738.000 đồng; có sơ đồ chi tiết kèm theo, ký hiệu là phần đất số (7).

3. Ông Hà Đình T1, bà Nông Thị T6, ông Hà Đình L1, anh Nông Văn N có trách nhiệm di chuyển tài sản, thu hoạch cây trồng trên đất để trả lại phần đất đã phân chia cho các đồng thừa kế khác. Ghi nhận các đương sự không yêu cầu chia di sản thừa kế ngôi nhà của cụ C2, cụ C3 giao cho ông L1 sử dụng.

Ông Hà Đình T1 có trách nhiệm giao nộp bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DĐ 700268 Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp ngày 02/11/2021 mang tên ông Hà Đình T1 cho Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ để đăng ký biến động quyền sử dụng đất theo quyết định của bản án.

4. Thoả thuận thuê đất giữa ông Hà Đình T1 với anh Nông Văn N, nếu có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.

5. Về án phí sơ thẩm: Buộc các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước như sau:

Bà Hà Thị T phải chịu 3.750.000 đồng được trừ vào 20.000.000 đồng tạm ứng án phí, hoàn trả bà T 16.250.000 đồng theo biên lai thu số 0016655 ngày 25/5/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên;

Ông Hà Đình T1 phải chịu 1.638.000 đồng án phí chia di sản thừa kế; vợ chồng ông Hà Đình T1, bà Nông Thị T6 phải chịu 37.158.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải trả cho bà L2;

Ông Hà Mạnh S, ông Hà Đình L1, mỗi người phải chịu 1.630.000 đồng; bà Nguyễn Thị Tuyết M phải chịu 3.123.750 đồng; anh Lưu Quốc C phải chịu 1.561.876 đồng; ông Nguyễn Thanh X phải chịu 4.981.550 đồng; bà Nguyễn Lan H2 phải chịu 3.686.900 đồng.

6. Về chi phí tố tụng: Ghi nhận bà Hà Thị T tự nguyện chịu số tiền chi phí xem xét thẩm định định giá tài sản 16.300.000 đồng (đã thực hiện xong).

7. Quyền kháng cáo: Các bên đương sự có mặt hoặc vắng mặt có đại diện theo uỷ quyền, vắng mặt khi tuyên án không có lý do có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Các đương sự vắng mặt không có đại diện uỷ quyền có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt bản án.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Thái Nguyên;
  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - THADS TP. Thái Nguyên;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

(đã ký)

Hoàng Quý Sửu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2024/DS-ST ngày 22/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

  • Số bản án: 04/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Thừa kế quyền sử dụng đất, tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Tô Thị L2 về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với ông Hà Đình T1, bà Nông Thị T6.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger