TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THUỶ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 04/2024/DS-ST
Ngày 21-6-2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THUỶ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Châu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Phương và ông Trần Tấn Quốc.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thuỳ Nhi - Thư ký Tòa án thị xã Hương Thủy.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Thảo Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 63/2023/TLST-DS ngày 31 tháng 10 năm 2023, về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2024/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 5 năm 2024, giữa:
- Nguyên đơn: Bà Võ Thị Y, sinh năm 1966; Địa chỉ: Tổ F, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Hoàng Tân Thiên K, sinh năm 2001, địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế và ông Phan Phú Hồng T, sinh năm 1987, địa chỉ: Thôn D xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ông T vắng mặt, ông K có mặt.
- Bị đơn: Bà Phan Thị C, sinh năm 1964; Địa chỉ: Số F V, Tổ D phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1960. Địa chỉ: Tổ F, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 08/8/2023, đơn khởi kiện bổ sung ngày 16/10/2023 các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, và trong quá trình xét xử, nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Vào ngày 01/7/2013 bà Phan Thị C có xác lập “Giấy nhận nợ” (được hiểu là hợp đồng vay tài sản) với bà Võ Thị Y với nội dung như sau:
Bà C có xác nhận vay bà Y số tiền là 141.600.000 đồng (một trăm bốn mươi mốt triệu sáu trăm ngàn đồng) có thời hạn vay từ ngày 29/4/2011 đến ngày 29/12/2012 (tổng là 21 tháng). Cả hai thống nhất tính tiền lãi là 2.100.000 đồng/tháng x 21 tháng = 44.100.000 đồng (bốn mươi bốn triệu một trăm nghìn đồng). Tính cả gốc và lãi thì bà C đang nợ bà Y số tiền là 185.700.000 đồng.
Hiện nay đã quá thời hạn 10 năm kể từ ngày viết giấy nhận nợ, bà Y đã nhiều lần yêu cầu bà C trả đầy đủ nợ gốc, lãi vay và lãi chậm trả tuy nhiên bà C không thực hiện. Vì vậy, bà Võ Thị Y yêu cầu bà Phan Thị C phải trả cho bà Y số tiền gốc và lãi là: 185.700.000 đồng; số tiền lãi chậm trả từ ngày 01/7/2013 đến ngày 08/8/2023 là 10%/năm x 185.700.000 đồng x 3688 ngày = 187.633.000 đồng. Tổng cộng số tiền bà Phan Thị C phải trả là: 373.333.000 đồng.
Tại phiên toà, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn là ông Hoàng Tân Thiên K có đơn đề nghị rút một phần yêu cầu khởi kiện về số tiền lãi chậm trả là 187.633.000 đồng và xin thay đổi một phần yêu cầu tiền lãi trong hạn theo đúng quy định pháp luật với mức lãi suất 13.5%/năm, chỉ yêu cầu Toà án buộc bà Phan Thị C phải trả cho bà Y số tiền gốc và lãi là 141.600.000 đồng tiền gốc + 33.453.000 đồng tiền lãi = 175.053.000 đồng.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn P trình bày: Ông P là chồng của bà Võ Thị Y, ông được biết vào năm 2011 bà Y có cho bà Phan Thị C vay số tiền 185.700.000 đồng, số tiền này là tài sản riêng của bà Y, do bà Y quản lý, sử dụng và ông không có trách nhiệm gì với số tiền này. Ông P đề nghị được vắng mặt, không tham gia làm việc vào tất cả các phiên hoà giải, xét xử liên quan vụ án.
Đối với bị đơn bà Phan Thị C: Toà án đã nhiều lần tống đạt, niêm yết Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Công văn yêu cầu bà C cung cấp lời khai, Thông báo phiên họp kiểm tra việc tiếp cận giao nộp công khai chứng cứ và hoà giải cho bà Phan Thị C, tuy nhiên bà C không đến Toà án để cung cấp lời khai cũng như không gửi Văn bản trình bày lời khai cho Toà án.
Toà án đã nhiều lần tổ chức phiên hoà giải để các đương sự tự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án nhưng bị đơn vắng mặt nên Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Quá trình thụ lý, giải quyết, xét xử vụ án Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật. Nguyên đơn chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn không chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Phan Thị C phải trả cho bà Võ Thị Y số tiền là 175.053.000 đồng bao gồm 141.600.000 đồng tiền gốc + 33.453.000 đồng tiền lãi.
+ Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với phần tiền lãi quá hạn là 187.633.000 đồng.
+ Về án phí dân sự sơ thẩm buộc bà Phan Thị C phải chịu theo quy định của pháp luật, trả lại cho bà Võ Thị Y số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án:
Bà Võ Thị Y khởi kiện yêu cầu bà Phan Thị C trả tiền nợ vay theo Giấy nhận nợ ngày 01/7/2013 do đó quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp hợp đồng vay tài sản được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Bị đơn bà Phan Thị C có nơi cư trú tại phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế nên vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về áp dụng pháp luật:
Quan hệ vay mượn giữa bà Y và bà C được giao kết vào ngày 29/4/2011, thời điểm Bộ luật Dân sự năm 2005 có hiệu lực pháp luật. Do đó, cần áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2005 và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2005 để giải quyết.
[3] Về thủ tục tố tụng: Toà án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ cho bà Phan Thị C để yêu cầu bà cung cấp lời khai đối với yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Y nhưng qua xác minh nơi cư trú của bà C tại nhà số F V, tổ F phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế thì bà Phan Thị C có hộ khẩu thường trú tại tổ F phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế nhưng không có mặt tại địa phương, bà C đi đâu làm gì địa phương không rõ. Toà án đã tiến hành niêm yết Giấy triệu tập, Thông báo thụ lý, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử tại nhà ở bà C cũng như tại UBND phường T nơi bà Chung cư t. Căn cứ Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, trường hợp bà C thay đổi nơi cư trú mà không thông báo cho người khởi kiện biết về nơi cư trú mới thì được coi là cố tình giấu địa chỉ. Do đó Toà án căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết theo thủ tục chung.
Xét thấy, Bị đơn bà Phan Thị C được Toà án triệu tập tham gia phiên toà hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định pháp luật.
[4] Về nội dung:
Căn cứ vào lời khai của các đương sự và tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy: nguyên đơn bà Võ Thị Y trình bày bà Y và bà Phan Thị C có thoả thuận miệng về việc bà Y cho bà C mượn số tiền 141.600.000 đồng vào ngày 29/4/2011 đến ngày 29/12/2012 với lãi suất 2.100.000 đồng/tháng (21 tháng tiền lãi là 44.100.000 đồng). Đến ngày 01/7/2013 hai bên mới lập Giấy nhận nợ. Lời khai của bà Y phù hợp với Giấy nhận nợ đề ngày 01/7/013 với nội dung bà Phan Thị C thừa nhận có nợ bà Võ Thị Y số tiền là 141.600.000 đồng từ ngày 29/4/011 đến 29/12/012 là 21 tháng, lãi 1 tháng là 2.100.000 đồng, cộng hai khoản lãi và vốn là 185.700.000 đồng.
Tại Khoản 2 Điều 92 BLTTDS năm 2015 quy định: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, ... bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Do bà Phan Thị C không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của bà Y, nên có cơ sở để xác định bà C có nợ của bà Y số tiền 141.600.000 đồng.
Do bà C vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên bà Võ Thị Y khởi kiện yêu cầu Toà án buộc bà Phan Thị C phải trả lại cho bà Y số tiền nợ gốc 141.600.000 đồng là có căn cứ cần chấp nhận.
Xét yêu cầu trả tiền lãi từ ngày 29/4/2011 đến 29/12/2012 với số tiền 44.100.000 đồng của bà Võ Thị Y thì thấy rằng:
Bà Y và bà C thoả thuận tiền lãi là 2.100.000 đồng/tháng, 21 tháng tiền lãi là 44.100.000 đồng tương ứng với mức lãi suất 14,83%/năm là vượt quá mức lãi suất quy định tại Khoản 1 Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005. Khoản 1 Điều 476 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng N công bố đối với loại cho vay tương ứng.”, theo Quyết định số 2868/QĐ-NHNN ngày 29/11/2010 của Ngân hàng N lãi suất cơ bản do Ngân hàng N công bố là 9%/năm. Như vậy, lãi suất do các bên thoả thuận không được vượt quá 150% lãi suất cơ bản tức không được vượt quá lãi suất 150% x 9%/năm = 13,5%/năm. Do lãi suất thoả thuận giữa bà Y và bà C là 14,83%/năm vượt quá mức lãi suất quy định là 13.5%/năm, tại phiên toà người đại diện theo uỷ quyền của bà Y xin thay đổi yêu cầu tiền lãi đề nghị buộc bà C phải trả lãi theo đúng mức lãi suất quy định là 13.5%/năm, xét thấy yêu cầu của bà Y là phù hợp do đó cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Phan Thị C phải trả cho bà Y số tiền lãi là: 141.600.000 đồng x 21 tháng x 13.5%/năm = 33.453.000 đồng.
Đối với yêu cầu của bà Y về tiền lãi chậm trả, Hội đồng xét xử xét thấy tại phiên toà người đại diện theo uỷ quyền của bà Y có đơn đề nghị rút tiền lãi chậm trả đối với số tiền là 187.633.000 đồng. Xét thấy việc xin rút yêu cầu của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện nên cần chấp nhận.
Như vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Y, buộc bà Phan Thị C phải trả nợ cho bà Y số tiền là: 141.600.000 đồng (nợ gốc) + 33.453.000 đồng (lãi trong hạn)= 175.053.000 đồng.
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Y về số tiền lãi chậm trả là 187.633.000 đồng.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị Y được chấp nhận với số tiền là 175.053.000 đồng nên buộc bị đơn bà Phan Thị C phải chịu phần án phí dân sự sơ thẩm là 175.053.000 đồng x 5% = 8.752.650 đồng.
Trả lại cho bà Võ Thị Y số tiền 9.334.000 đồng tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0002796 ngày 31/10/2023 tại Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 235, Điều 244, 266, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 471, 474, 476, 478 của Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 4, Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Y. Buộc bà Phan Thị C phải trả cho bà Võ Thị Y tổng số tiền là 175.053.000 đồng (bằng chữ: một trăm bảy mươi lăm triệu không trăm năm mươi ba ngàn đồng) (trong đó: nợ gốc là 141.600.000 đồng, số tiền nợ lãi là 33.453.000 đồng).
2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị Y về số tiền lãi chậm trả là 187.633.000 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thoả thuận nhưng phải phù hợp quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Buộc bà Phan Thị C phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 8.752.650 đồng (tám triệu bảy trăm năm mươi hai ngàn sáu trăm năm mươi đồng).
- Trả lại cho bà Võ Thị Y số tiền 9.334.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0002796 ngày 31/10/2023 tại Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên Huế.
3. Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hoặc tống đạt hợp lệ theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Quỳnh Châu |
Bản án số 04/2024/DS-ST ngày 21/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THUỶ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 04/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THUỶ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: - Nguyên đơn: Bà Võ Thị Y, sinh năm 1966; Địa chỉ: Tổ F, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Hoàng Tân Thiên K, sinh năm 2001, địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế và ông Phan Phú Hồng T, sinh năm 1987, địa chỉ: Thôn D xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ông T vắng mặt, ông K có mặt. - Bị đơn: Bà Phan Thị C, sinh năm 1964; Địa chỉ: Số F V, Tổ D phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt. - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1960. Địa chỉ: Tổ F, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
