Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THOẠI SƠN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 04/2024/KDTM-ST

Ngày: 21-6-2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng mua bán

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Linh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung và bà Diệp Thị Thu Nguyệt

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Thắng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang

Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 16/2024/TLST-KDTM ngày 12 tháng 3 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng mua bán” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2024/QĐXXST-KDTM ngày 08 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2024/QĐST-KDTM ngày 24 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty TNHH N (gọi tắt là Công ty N)

Địa chỉ trụ sở: 4B Cư xá Bùi Minh T, đường B, phường E, quận H, thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ liên lạc: I N, phường Đ, quận A, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Anh K – Giám đốc là nguyên đơn.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Đình S. Địa chỉ: Số I N, phường Đ, quận A, thành phố Hồ Chí Minh. Số điện thoại: 0918.384.xxx (Theo Giấy ủy quyền ngày 22/01/2024) (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

- Bị đơn: Công ty TNHH MTV T1 (gọi tắt là Công ty T1)

Địa chỉ trụ sở: Số C ấp T, xã T, huyện T, tỉnh An Giang.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị H – Giám đốc. Số điện thoại: 0988.990.xxx và 0915.26.59.61 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Đình S trình bày:

Công ty N – là bên bán có ký kết với Công ty TNHH MTV T1 – là bên mua Hợp đồng mua bán hàng hóa số 1318/2020/HĐMBKG-VTNN ngày 01/4/2020. Theo hợp đồng mua bán, Công ty A sẽ bán các sản phẩm vật tư nông nghiệp (bao gồm phân bón và thuốc bảo vệ thực vật) các loại cho bên mua. Hình thức mua bán giữa hai bên có ký hợp đồng mua bán theo phương thức giao hàng trước và trả tiền sau, có tính lãi chậm trả nếu chậm thanh toán. Số lượng, chủng loại, thời gian, địa điểm giao hàng, thời hạn, phương thức thanh toán, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên được hai bên thỏa thuận theo nội dung quy định trong hợp đồng mua bán này. Khi có nhu cầu mua hàng thì bên mua sẽ điện thoại hoặc thông qua nhân viên kinh doanh của bên bán đặt hàng về Công ty N. Hàng hóa được Công ty N Vàng vận chuyển và giao đến tận kho bên mua. Bên mua sau khi nhận hàng sẽ thanh toán cho bên bán bằng chuyển khoản hoặc nhân viên kinh doanh của bên bán đến thu tiền mặt trực tiếp. Nếu bên mua không thanh toán sẽ bị tính lãi chậm thanh toán, mức lãi suất chậm thanh toán được hai bên thỏa thuận tại khoản 3.3.2 Điều 3 của Hợp đồng mua bán hàng hóa nêu trên là 1,2%/tháng (1 tháng = 30 ngày).

Quá trình mua bán, Công ty N đã giao hàng hóa đầy đủ cho bên mua nhưng phía bên mua không tiến hành thanh toán dẫn đến công nợ quá hạn. Để làm cơ sở cho việc thanh toán, hai bên đối chiếu số liệu nợ thông qua Sổ chi tiết đơn vị mua đến ngày 05/05/2022 có xác nhận của hai bên, bên mua còn chưa thanh toán cho bên bán số tiền 994.560.340 đồng.

Sau khi đối chiếu công nợ, bên bán nhiều lần liên lạc yêu cầu bên mua thanh toán nhưng bên mua viện nhiều lý do khác nhau nhằm trì hoãn việc trả nợ và không chịu trả, bất hợp tác. Ngày 13/01/2024, Công ty N đã phát hành thông báo yêu cầu trả nợ và thông báo khởi kiện gửi qua đường bưu điện cho bên mua nhưng họ không có phản hồi. Do đó, Công ty TNHH N khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH MTV T1 có nghĩa vụ thanh toán số tiền nợ là 994.560.340 đồng và tiền lãi chậm thanh toán từ ngày nộp đơn khởi kiện đến ngày Tòa án xét xử theo mức lãi suất thỏa thuận là 1,2%/tháng.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH MTV T1 là bà Nguyễn Thị H – Giám đốc để tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà H đều vắng mặt không rõ lý do, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bà H cũng như không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa:

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Đình S vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và đơn yêu cầu rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền nợ gốc 770.023.500 đồng và yêu cầu tính lãi, chỉ yêu cầu bị đơn tiếp tục thanh toán số tiền nợ gốc là 224.536.840 đồng; bị đơn vắng mặt không lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo nội dung đơn khởi kiện thì nguyên đơn là Công ty N Vàng yêu cầu bị đơn là Công ty T1 do bà Nguyễn Thị H – Giám đốc là người đại diện theo pháp luật thanh toán tiền nợ gốc là 994.560.340 đồng và yêu cầu tính lãi từ ngày nộp đơn khởi kiện đến khi Tòa án xét xử theo lãi suất thỏa thuận là 1,2%/tháng. Do đó, xác định đây là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận được quy định tại khoản 1 Điều 30 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Công ty TNHH MTV T1 có trụ sở tại huyện T, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thời hiệu khởi kiện: Quá trình thực hiện hợp đồng đến tháng 05/2022 bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên nguyên đơn nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, như vậy thời điểm nộp đơn khởi kiện của nguyên đơn vẫn còn thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 319 của Luật Thương mại năm 2005.

[3] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn là Công ty TNHH A do Nguyễn Anh K, chức vụ: Tổng Giám đốc là người đại diện theo pháp luật (Theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên của Phòng Đăng ký kinh doanh – Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố H). Ông Nguyễn Anh K ủy quyền cho ông Nguyễn Đình S theo Giấy ủy quyền số 06/2024/GUQ-ADC ngày 22/01/2024. Thủ tục ủy quyền trên là phù hợp với quy định tại các Điều 85 và 86 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận việc ông Nguyễn Đình S tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và được thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng theo nội dung văn bản ủy quyền.

Bị đơn là Công ty TNHH MTV T1 do bà Nguyễn Thị H – Giám đốc là người đại diện theo pháp luật (Theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên của Phòng Đăng ký kinh doanh – Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh A). Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bà Nguyễn Thị H vắng mặt không lý do; đồng thời, bà H đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không lý do. Như vậy, bà H đã tự từ bỏ quyền, nghĩa vụ tham gia tố tụng của mình. Do đó, vụ án được xem là không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự là phù hợp với quy định tại Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[4] Về nội dung tranh chấp:

[4.1] Về đánh giá chứng cứ: Quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án hoặc có văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cũng không cung cấp cho Tòa án tài liệu chứng cứ để thể hiện việc phản bác hay chấp nhận đối với yêu cầu của nguyên đơn. Vì vậy, theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án sẽ căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn giao nộp và chứng cứ do Tòa án thu thập được để giải quyết vụ án.

[4.2] Căn cứ các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn giao nộp thể hiện:

Hợp đồng mua bán hàng hóa số 1318/2020/HĐMBKG-VTNN ngày 01/4/2020 giữa bên bán là Công ty N Vàng và bên mua là Công ty T1 được ký kết hoàn toàn tự nguyện, đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Hình thức và nội dung của Hợp đồng không trái quy định của pháp luật nên có hiệu lực thi hành đối với các bên.

Căn cứ Sổ chi tiết công nợ ngày 05/5/2022 thì Công ty T1 đã xác nhận còn nợ Công ty N Vàng số tiền 994.560.340 đồng. Do đó, có căn cứ xác định Công ty T1 còn nợ Công ty N Vàng số tiền 994.560.340 đồng. Do Công ty T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Công ty N khởi kiện yêu cầu Công ty T1 phải trả số tiền trên là có cơ sở.

Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án, Công ty N Vàng xác nhận Công ty T1 đã thanh toán được số tiền 770.023.500 đồng, chỉ còn nợ số tiền 224.536.840 đồng. Tại các đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đề ngày 21/5/2024 và 18/6/2024, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 770.023.500 đồng, chỉ yêu cầu Công ty T1 tiếp tục thanh toán số tiền còn nợ là 224.536.840 đồng. Xét yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp quy định của pháp luật nên HĐXX chấp nhận.

[4.3] Đối với yêu cầu tính lãi: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn tự nguyện rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu tính lãi là có lợi cho bị đơn nên được HĐXX chấp nhận đình chỉ đối với yêu cầu tính lãi.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 30, 35, 39, 147, 271, 273, 278 và 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 24, 50, 55, 300, 306, 319 của Luật Thương mại năm 2005;

Căn cứ các Điều 418, 430 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Công ty TNHH N.

Buộc Công ty TNHH MTV T1 (do bà Nguyễn Thị H – Giám đốc là người đại diện theo pháp luật) có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty TNHH N số tiền 224.536.840 (Hai trăm hai mươi bốn triệu năm trăm ba mươi sáu nghìn tám trăm bốn mươi) đồng.

2. Đình chỉ đối với yêu cầu của Công ty TNHH N Vàng về việc yêu cầu Công ty TNHH MTV T1 thanh toán số tiền 770.023.500 (Bảy trăm bảy mươi triệu hai mươi ba nghìn năm trăm) đồng và yêu cầu tính lãi.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Công ty TNHH MTV T1 (do bà Nguyễn Thị H – Giám đốc là người đại diện theo pháp luật) phải chịu 11.226.842 (Mười một triệu hai trăm hai mươi sáu nghìn tám trăm bốn mươi hai) đồng.

H1 lại cho Công ty TNHH N Vàng tiền tạm ứng án phí đã nộp là 21.000.000 (Hai mươi mốt triệu) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013683 ngày 12 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Thoại Sơn;
  • - THADS huyện Thoại Sơn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu văn phòng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trần Thị Mỹ Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2024/KDTM-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng mua bán

  • Số bản án: 04/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/06/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger