|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15- PHÚ THỌ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 04/2026/HNGĐ-ST Ngày: 06-01-2026 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15- PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Lê Thị Hồng.
Hội Thẩm Nhân Dân: bà Bùi Thị Dung; ông Bùi Văn Tấn
Thư ký phiên toà: ông Bùi Văn Hường- Thư ký Toà án nhân dân khu vực 15- Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15- Phú Thọ tham gia phiên toà: ông Lê Xuân Trường- Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 15- Phú Thọ. Tòa án nhân dân khu vực 15- Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 94/2025/TLST- HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2025 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con". Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15/12/2025 giữa:
- Nguyên đơn: Chị Quách Thị M, sinh năm 1985. Nơi cư trú: xóm S, xã N, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt;
- Bị đơn: Anh Quách Văn S, sinh năm 1976. Nơi cư trú: xóm S, xã N, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn ly hôn và các lời khai của mình, nguyên đơn chị Quách Thị M trình bày:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Quách Văn S kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn hợp pháp năm 2005 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình (Nay là xã N, tỉnh Phú Thọ). Quá trình chung sống, giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống nên cuộc sống chung luôn căng thẳng, nặng nề không có hạnh phúc, không còn tình cảm với nhau nên chị xin ly hôn anh S.
2. Về con chung: Chị M và anh S có 04 con chung là Quách Thị T, sinh ngày 21/2/2005; Quách Thị Thái N, sinh ngày 27/7/2008; Quách Thị Thu N1, sinh ngày 26/5/2012; Quách Tuấn L, sinh ngày 11/11/2013. Hiện cháu N, N1, L đang sống với anh S do chị M đi làm xa. Nên khi ly hôn, để thuận lợi cho việc sinh hoạt và học tập của con, chị M đề nghị giao cho anh S trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Chị M sẽ cấp dưỡng nuôi con chung với anh S 3.700.000đ/tháng đối với hai con theo quy định.
Riêng cháu N còn mấy tháng là đủ tuổi trưởng thành; cháu T đã đủ tuổi trưởng thành và đủ khả năng lao động nên chị không đặt ra vấn đề nuôi dưỡng.
3. Về tài sản; công nợ: Chị M khai không có.
Ngoài ra chị M không có yêu cầu gì thêm.
Quan điểm của bị đơn anh Quách Văn S:
1. Về quan hệ hôn nhân: Anh thừa nhận quan hệ hôn nhân giữa anh với chị M như chị M trình bày, tuy nhiên mâu thuẫn giữa anh chị không đáng kể, anh vẫn mong muốn đoàn tụ với chị M và anh không đồng ý ly hôn.
2. Về con chung: Chị M và anh S có 04 con chung là Quách Thị T, sinh ngày 21/2/2005; Quách Thị Thái N, sinh ngày 27/7/2008; Quách Thị Thu N1, sinh ngày 26/5/2012; Quách Tuấn L, sinh ngày 11/11/2013. Hiện cháu N, N1, L đang sống với anh S do chị M đi làm xa. Nên khi ly hôn, để thuận lợi cho việc sinh hoạt và học tập của con, anh S đề nghị tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục các con. Anh S yêu cầu chị M cấp dưỡng nuôi con chung 4.000.000đ/tháng đối với cháu N1 và cháu L.
Riêng cháu N còn mấy tháng là đủ tuổi trưởng thành; cháu T đã đủ tuổi trưởng thành và đủ khả năng lao động nên anh không đặt ra vấn đề nuôi dưỡng.
3. Về tài sản; công nợ: Không có.
Ngoài ra anh S không có ý kiến gì thêm.
Phát biểu quan điểm tại phiên toà, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15- Phú Thọ công nhận việc chấp hành đúng theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, HĐXX và đương sự từ khi thụ lý đến trước khi HĐXX nghị án. Về việc giải quyết vụ án Kiểm sát viên đề nghị như sau:
Về tố tụng:
Về thẩm quyền: Đây là vụ án về việc ly hôn và bị đơn anh Quách Văn S có nơi cư trú tại xóm S, xã N, tỉnh Phú Thọ nên theo qui định tại Điều 28; Điều 35; Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết tranh chấp thuộc Tòa án nhân dân khu vực 15- Phú Thọ.
Về việc vắng mặt của chị M và anh S: Chị M và anh S vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt. Theo qui định tại Điều 227; Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt chị M, anh S theo thủ tục chung.
Về quan hệ hôn nhân: Xác định mâu thuẫn giữa chị M và anh S đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị M đối với anh S là phù hợp Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật HN&GĐ năm 2014.
Về con chung: Xét điều kiện hiện tại của các bên đương sự, quyền lợi mọi mặt của con chưa thành niên đề nghị giao con chung cho anh S trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và ấn định trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung của chị M là phù hợp các Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 107, Điều 110 Luật HN&GĐ năm 2014.
Riêng cháu N còn mấy tháng là đủ tuổi trưởng thành; cháu T đã đủ tuổi trưởng thành và đủ khả năng lao động nên đề nghị không đặt ra vấn đề nuôi dưỡng với cháu N và cháu T.
Về tài sản; Công nợ: Chị M, anh S khai nhận không có nên đề nghị HĐXX không đề cập giải quyết trong vụ án.
Ngoài ra không ai có ý kiến gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa; căn cứ ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa HĐXX nhận định:
[1] Về tố tụng:
Về thẩm quyền: Đây là vụ án về việc ly hôn và bị đơn anh Quách Văn S có nơi cư trú tại xóm S, xã N, tỉnh Phú Thọ nên theo qui định tại Điều 28; Điều 35; Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết tranh chấp thuộc Tòa án nhân dân khu vực 15- Phú Thọ.
Về việc vắng mặt của chị M và anh S: Chị M và anh S vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt. Theo qui định tại Điều 227; Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt chị M, anh S theo thủ tục chung.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: Quá trình thu thập chứng cứ giải quyết vụ án HĐXX xét thấy:
Quan hệ hôn nhân giữa chị Quách Thị M và anh Quách Văn S là hợp pháp. Cuộc sống chung vợ chồng thực sự có mâu thuẫn do bất đồng về phong cách sống nên cuộc sống chung luôn căng thẳng, nặng nề, không có hạnh phúc và hiện đã sống ly thân không còn quan tâm đến nhau.
Từ những nhận định trên thấy mâu thuẫn giữa chị M và anh S đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của chị M về việc ly hôn với anh S là phù hợp Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật HN&GĐ năm 2014.
[3]. Về con chung: Chị M và anh S có 04 con chung là Quách Thị T, sinh ngày 21/2/2005; Quách Thị Thái N, sinh ngày 27/7/2008; Quách Thị Thu N1, sinh ngày 26/5/2012; Quách Tuấn L, sinh ngày 11/11/2013. Hiện cháu N, N1, L đang sống với anh S do chị M đi làm xa. Nên khi ly hôn, để thuận lợi cho việc sinh hoạt và học tập của con, chị M, anh S thống nhất giao cho anh S trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục các con. Chị M sẽ cấp dưỡng nuôi con chung với anh S 3.700.000đ/tháng đối với cháu N1 và cháu L.
[3.1] Về yêu cầu nuôi con: Hội đồng xét xử thấy, hiện cháu N, N1, L đang sống, sinh hoạt ổn định cùng anh S tại xóm S, xã T; anh S có chỗ ở và công việc ổn định đủ điều kiện nuôi con; chị M đi làm ăn xa; cháu N, N1, L cũng có nguyện vọng ở với bố. Xét quyền lợi mọi mặt của con chưa thành niên, điều kiện thực tế và nguyện vọng của đương sự, áp dụng Điều 81, 82, 83 Luật HN&GĐ năm 2014 thấy cần giao cho anh S trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu N, N1, L đến khi các cháu đủ 18 tuổi, đủ khả năng lao động hoặc đến khi có sự thay đổi theo quy định pháp luật. Sau khi ly hôn, chị M có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.
[3.2] Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Quá trình giải quyết vụ án, anh S đề nghị chị M cấp dưỡng 4.000.000đ/tháng đối với cháu N1 và L. Chị minh do nghề nghiệp không ổn định nên chấp nhận mức cấp dưỡng tối thiểu theo quy định là 3.700.000đ/tháng đối với cháu N1 và cháu L. Hội đồng xét xử thấy, nghĩa vụ nuôi con chung là thuộc về cha mẹ, cha mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên trong trường hợp không sống chung với con, do đó chị M phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu L1 là phù hợp. Về phương thức cấp dưỡng mà anh S yêu cầu định kỳ hàng tháng là hoàn toàn phù hợp theo quy định tại Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Về mức cấp dưỡng: theo quy định tại Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết”, đồng thời căn cứ theo quy định tại Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao: “Tiền cấp dưỡng cho con là toàn bộ chi phí cho việc nuôi dưỡng, học tập của con và do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên không thoả thuận được thì Tòa án quyết định mức cấp dưỡng căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng. Mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định nhưng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con”. Hiện tại, mức lương tối thiểu vùng tại nơi cư trú của chị M là 3.700.000đ/tháng. Do vậy, HĐXX áp dụng mức cấp dưỡng nuôi con tối thiểu của chị M đối với cháu N1 và cháu L là 3.700.000đ/tháng là phù hợp.
Riêng cháu N còn vài tháng nữa đủ tuổi trưởng; cháu T đã đủ tuổi trưởng thành và đủ khả năng lao động nên anh chị không đặt ra vấn đề nuôi dưỡng con chung.
Vì quyền lợi chính đáng của con chung, các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con; yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại các Điều 81; 82; 83; 84 Luật HN&GĐ năm 2014.
[4]. Về tài sản; công nợ: Chị M, anh S khai nhận không có nên HĐXX không đề cập giải quyết trong vụ án.
[5]. Về án phí: Chị Quách Thị M phải chịu án phí theo qui định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 107; Điều 110; Điều 116; Điều 117 Luật HN&GĐ năm 2014; Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 271; Điều 273; Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: chấp yêu cầu khởi kiện của chị Quách Thị M đối với anh Quách Văn S về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" cụ thể:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Quách Thị M được ly hôn anh Quách Văn S.
- Về con chung: Giao con chung là Quách Thị Thái N, sinh ngày 27/7/2008; Quách Thị Thu N1, sinh ngày 26/5/2012; Quách Tuấn L, sinh ngày 11/11/2013 cho anh S trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục từ tháng 01/2026 trở đi cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, đủ khả năng lao động hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác theo quy định.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị M có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi cháu N1, cháu L 3.700.000đ/tháng.
Sau khi ly hôn pháp luật vẫn bảo hộ các quyền của cha mẹ với con chưa thành niên (quyền thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được quyền cản trở; quyền yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con; quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con); Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó theo quy định tại các Điều 81; 82; 83; 84; 85 Luật HN&GĐ năm 2014.
Riêng cháu N sắp đủ tuổi trưởng thành; cháu T đã đủ tuổi trưởng thành và đủ khả năng lao động nên anh S, chị C chị không đặt ra vấn đề nuôi dưỡng con chung.
- Về án phí: Chị Quách Thị M phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con. Đối trừ 300.000đ tiền tạm ứng án phí chị M đã nộp theo biên lai thu tiền số 0003544 ngày 14/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ nay chị M còn phải nộp 300.000đ án phí nữa.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn; Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết công khai theo qui định.
- Hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hồng |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Bùi Thị Dung Bùi Văn Tấn |
Lê Thị Hồng |
Bản án số 04/2026/HNGĐ-ST ngày 06/01/2026 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15- PHÚ THỌ về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 04/2026/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/01/2026
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15- PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Quách Thị Minh- Quách Văn Sơn
