TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẤN YÊN, TỈNH YÊN BÁI Bản án số: 04/2025/HS-ST Ngày 14-4-2025 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẤN YÊN, TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Huệ.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Hữu Sơn
Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Anh Đào - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trấn Yên, tham gia phiên tòa: Ông Lương Minh Trí - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 04/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2025, đối với bị cáo:
Phạm Văn T, tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh ngày 06 tháng 9 năm 1994 tại tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Thôn Đ, xã V, huyện V, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T1, sinh năm 1950 và bà Vũ Thị L, sinh năm 1957; vợ là Dương Diệm M, sinh năm 1996; con: có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Năm 2013, bị Toà án nhân dân huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định xử phạt 21 tháng tù về các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” tại Bản án số 22/2013/HSST ngày 21-6-2013; Năm 2017, bị Toà án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xử phạt 20 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 349/2017/HSST ngày 08-11-2017. Bị cáo bị tạm giam ngày 13-01-2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Y. Có mặt.
- Bị hại:
+ Anh Lý Hữu Q, sinh năm 1997; nơi cư trú: Thôn H, xã V, huyện T, tỉnh Yên Bái, vắng mặt.
+ Anh Triệu Sinh C, sinh năm 1986; nơi cư trú: Thôn H, xã V, huyện T, tỉnh Yên Bái, vắng mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Nguyễn Phương N, sinh năm 1976; nơi cư trú: Thôn C, xã V, huyện T, tỉnh Yên Bái, vắng mặt.
+ Ông Hà Xuân H, sinh năm 1980; nơi cư trú: Thôn C, xã V, huyện T, tỉnh Yên Bái, vắng mặt.
Người làm chứng:
+ Ông Lý Sinh Đ, sinh năm 1977; nơi cư trú: Thôn H, xã V, huyện T, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.
+ Anh Triệu Đức T2, sinh năm 1980; nơi cư trú: Thôn H, xã V, huyện T, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có quan hệ họ hàng với Lý Hữu Q nên trưa ngày 02-4-2024, Phạm Văn T đến nhà Q để ăn cơm uống rượu, tại đây T và ông Lý Sinh Đ (bố đẻ của Q) ngồi uống bia trước còn Q nấu cơm. Khi uống hết bia, T hỏi mượn Quý chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe SIRIUS, màu Đỏ - Đen (không gắn biển số xe, có giá trị là 7.500.000 đồng). Được Q đồng ý, T điều khiển chiếc xe mô tô đến quán bia nhà anh Trần Ngọc H1, thuộc thôn C, xã V, huyện T và nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe mô tô vừa mượn của Q bán để lấy tiền trả nợ. Thường kiểm tra chiếc xe mô tô thấy không có chứng nhận đăng ký xe nên đã mang chiếc xe đến nhà ông Nguyễn Phương N hỏi vay của ông N 1.000.000 đồng và để lại chiếc xe mô tô để làm tin, ông N đồng ý. Sau đó, T tiếp tục quay lại nhà anh H1 uống bia rồi đi đến nhà anh Triệu Đức T2 để làm xây dựng. Tại đây, anh T2 bảo T về thay quần áo lao động nên T đã hỏi mượn anh Triệu Sinh C là thợ xây nhà anh T2 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVE, màu Xanh -Đen-Bạc, biển số: 21B2-245.62 (có giá trị là 9.500.000 đồng) để về thay quần áo, anh C đồng ý. Khi về đến nhà T nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe mô tô vừa mượn của anh C để lấy vốn đi làm ăn. Sau đó, T điều khiển chiếc xe trên đến nhà ông Hà Xuân H bán chiếc xe cho ông H lấy số tiền 6.000.000đồng. Sau khi bán xe, T đã bỏ trốn về thành phố N, tỉnh Nam Định, sau đó ra Hà Nội, rồi vào thành phố Hồ Chí Minh thì bị bắt.
Cáo trạng số 05/CT-VKS-TY ngày 10-3-2025, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trấn Yên truy tố Phạm Văn T về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trấn Yên giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn T từ 02 (hai) năm tù đến 02 (hai) năm 06 (sáu) thángtù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 579, Điều 580, Điều 357 và Điều 468 buộc bị cáo phải trả cho ông Hà Xuân H số tiền 6.000.000 đồng và ông Nguyễn Phương N số tiền 1.000.000 đồng.
Về vật chứng, án phí và quyền kháng cáo: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, nhất trí với lời luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận gì.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trấn Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng vắng mặt, tuy nhiên những người này đã có lời khai trong hồ sơ, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 02-4-2024, Phạm Văn T lợi dụng sự quen biết và lòng tin của anh Lý Hữu Q đã mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe SIRIUS, màu Đỏ - Đen (không gắn biển số xe) đem đi cầm cố được 1.000.000 đồng; tiếp đó Phạm Văn T mượn anh Triệu Sinh C chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVE, màu Xanh -Đen-Bạc, biển số: 21B2-245.62 đem đi bán được 6.000.000 đồng. Tổng giá trị 02 chiếc xe mô tô bị cáo chiếm đoạt là 17.000.000 đồng. Hành vi nêu trên của Phạm Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Cáo trạng số 05/CT-VKS-TY ngày 11-3-2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trấn Yên truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Hành vi đó đã gây mất trật tự, an toàn trị an xã hội. Do đó cần phải đưa bị cáo ra xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
[5] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo có nhân thân xấu: Năm 2013, bị Toà án nhân dân huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định xử phạt 21 tháng tù về các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” tại Bản án số 22/2013/HSST ngày 21-6-2013; Năm 2017, bị Toà án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xử phạt 20 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 349/2017/HSST ngày 08-11-2017 nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cảnh tỉnh bản thân và sửa đổi để trở thành người có ích cho xã hội mà còn tiếp tục thực hiện tội phạm thể hiện ý thức tự rèn luyện của bản thân là rất kém.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo hai lần thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng là “phạm tội hai lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào kết quả xác minh của Cơ quan điều tra, Phạm Văn T không có nghề nghiệp, không có tài sản. Do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự:
- Bị hại anh Lý Hữu Q và anh Triệu Sinh C đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu, đề nghị gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Ông Hà Xuân H yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 6.000.000 đồng, ông Nguyễn Phương N yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 1.000.000 đồng. Xét yêu cầu của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trên là có căn cứ nên được chấp nhận.
[8] Về người và hành vi liên quan: Đối với ông Hà Xuân H và ông Nguyễn Phương N là những người đã nhận cầm cố và mua xe mô tô của Phạm Văn T. Quá trình điều tra xác định ông H và ông N không biết đó là tài sản do T thực hiện hành vi phạm tội mà có nên không đề cập xử lý là phù hợp.
[9] Về vật chứng: Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, màu Đỏ-Đen, không có biển số thuộc quyền sở hữu hợp pháp của anh Lý Hữu Q; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, biển số 21B2-245.62, màu sơn Xanh-Đen-Bạc thuộc quyền sở hữu hợp pháp của anh Triệu Sinh C, cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Q và anh C nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[10] Về án phí: Bị cáo Phạm Văn T phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
[12] Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái tại phiên tòa là có căn cứ nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13-01-2025.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 579, Điều 580, Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự:
Buộc bị cáo Phạm Văn T phải trả lại cho ông Hà Xuân H số tiền 6.000.000 (sáu triệu) đồng và ông Nguyễn Phương N số tiền 1.000.000 (một triệu) đồng.
Kể từ ngày ông H, ông N có đơn yêu cầu thi hành án mà bị cáo chưa thi hành xong khoản tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 về mức thu, giảm, miễn, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Phạm Văn T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 350.000 (ba trăm năm mươi nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Hoàng Thị Huệ |
Bản án số 04/2025/HS-ST ngày 14/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẤN YÊN, TỈNH YÊN BÁI về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 04/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẤN YÊN, TỈNH YÊN BÁI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt Phạm Văn Thường 02 năm tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
