Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LÀO CAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:04/2025/HNGĐ-PT

Ngày 09/4/2025

V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con,

chia tài sản khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Nghĩa.

Các Thẩm phán: 1. Ông Đặng Phi Long.

2. Ông Lương Văn Đài

Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Dung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai: Ông Trần Xuân Phong - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 09 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 13/2024/TLPT-HNGĐ ngày 01/11/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn”. Do Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 65/2024/HNGĐ-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2184/2024/QĐ-PT ngày 24/12/2024; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 05/2025QĐ-PT ngày 14/01/2025; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 24/2025QĐ-PT ngày 14/02/2025 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 38/2025/QĐ-PT ngày 14/3/2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn:

Chị Đặng Thị H – Sinh năm 1985 (có mặt).

Địa chỉ: Số nhà A, đường P, tổ B, phường B, tỉnh Lào Cai.

Bị đơn:

Anh Nguyễn Văn T – Sinh năm 1980 (Có mặt)

Địa chỉ: Số nhà A, đường P, tổ B, phường B, tỉnh Lào Cai.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh Nguyễn Văn T:

+ Ông Trịnh Ngọc Bảo K

+ Ông Vũ Văn T1 (Có mặt)

Cùng địa chỉ: Công ty L1, số B, ngõ D Đ, B, thành phố Hà Nội.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ngân hàng TMCP C.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Bình M – Chức danh: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Văn H1 – Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng TMCP C – Chi nhánh L2.

Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Đặng Viết N – Chức vụ: Phó Giám đốc Ngân hàng TMCP C – Chi nhánh L2. (Có mặt).Địa chỉ: Đại lộ T, phường N, thành phố L, tỉnh Lào Cai.

- Anh Nguyễn Tiến T2 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn Y, xã Đ, huyện C, tỉnh Hải Dương.

Người đại diện theo ủy quyền của anh Nguyễn Tiến T2 là: Ông Nguyễn Quốc H2 – Địa chỉ: Số C, đường H, tổ F, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai. (Có mặt)

4. Người kháng cáo:

Bị đơn anh Nguyễn Văn T. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Đặng Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị H và anh Nguyễn Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 29/08/2005 tại Ủy ban nhân dân xã P (Nay là xã S), huyện P, thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn chị Đặng Thị H và anh Nguyễn Văn T chung sống hoà thuận, hạnh phúc được khoảng 05 năm, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do không tìm được quan điểm chung trong hạnh phúc gia đình, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau, không có sự tôn trọng nhau, cuộc sống chung không hoà thuận. Chị Đặng Thị H chỉ vì nghĩ đến các con nên đã chấp nhận cuộc sống chung để các con có cuộc sống đầy đủ cả cha lẫn mẹ. Khi các con của chị Đặng Thị H và anh Nguyễn Văn T đã lớn và hiểu được cuộc sống của bố mẹ. Chị Đặng Thị H nhận thấy tình cảm vợ chồng giữa chị và anh Nguyễn Văn T không còn để toàn tâm nuôi dạy con và cùng nhau phát triển kinh tế gia đình. Mâu thuẫn giữa chị Đặng Thị H và anh Nguyễn Văn T kéo dài, làm ảnh hưởng đến cuộc sống. Đến nay chị Đặng Thị H thấy rằng tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị Đặng Thị H đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.

Về con chung: Quá trình chung sống chị Đặng Thị H và anh Nguyễn Văn T có 02 con chung là cháu Nguyễn Ngọc Khánh L, sinh ngày 29/9/2006 và cháu Nguyễn Thế V, sinh ngày 26/8/2013. Khi ly hôn chị Đặng Thị H đề nghị Tòa án giải quyết, giao cháu Nguyễn Ngọc Khánh L cho chị Đặng Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến đủ 18 tuổi. Giao cháu Nguyễn Thế V cho anh Nguyễn Văn T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến đủ 18 tuổi. Chị Đặng Thị H và anh Nguyễn Văn T không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Quá trình chung sống chị Đặng Thị H và anh Nguyễn Văn T có tạo dựng được khối tài sản chung gồm:

Tài sản 1: Quyền sử dụng diện tích 400m², đất ở đô thị, tại lô L, BT7, đường B, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai, đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: CS02162, ngày 10 tháng 8 năm 2015, mang tên bà Đặng Thị H và ông Nguyễn Văn T. Tài sản trên đất có 01 nhà xây cấp IV 03 tầng. Trị giá quyền sử dụng đất và tài sản trên đất, đã được định giá là: 13.978.434.980VNĐ.

Tài sản 2: Quyền sử dụng diện tích 264,2m², đất ở tại nông thôn, thửa đất số 31, tờ bản đồ số P2-35, tại thôn L, xã C, thành phố L, tỉnh Lào Cai, đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ GCN: CS-00804 ngày 07 tháng 5 năm 2018, mang tên bà Đặng Thị H. Tài sản trên đất là 01 nhà xây cấp IV. Quyền sử dụng diện tích 3701,4m², đất trồng cây lâu năm, thửa đất số 27, tờ bản đồ số P2-35. Quyền sử dụng diện tích 121,3m², đất nuôi trồng thủy sản, thửa đất số 32, tờ bản đồ số P2-35; và quyền sử dụng diện tích 501,4m², đất nuôi trồng thủy sản, thửa đất số 61, tờ bản đồ số P2-35. 03 thửa đất đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ GCN: CS-00803 ngày 07 tháng 5 năm 2018, mang tên bà Đặng Thị H. Trên diện tích đất trồng cây lâu năm và đất nuôi trồng thủy sản đã được xây dựng hệ thống tường rào, chuồng trại chăn nuôi và ao thả cá. Trị giá quyền sử dụng các thửa đất và tài sản trên đất đã được định giá là: 2.867.605.385VNĐ.

Tài sản 3: 01 xe ô tô HYUNDAI nhãn hiệu SANTAFE màu sơn bạc. Biển kiểm soát 30A-178.41, đăng ký xe mang tên bà Đặng Thị H, trị giá là: 400.000.000VNĐ.

Tài sản 4: 01 xe ô tô HYUNDAI loại chở hàng 04 dàn bánh màu sơn trắng. Biển kiểm soát: 29C-858.79, đăng ký xe mang tên bà Đặng Thị H, trị giá là: 1.000.000.000VNĐ.

Nghĩa vụ chung về tài sản: Trong quá trình chung sống ngày 19 tháng 12 năm 2022 chị Đặng Thị H và anh Nguyễn Văn T đã thỏa thuận ký hợp đồng cho vay hạn mức số: 01/2022-HĐCVHM/NHCT180-ĐTH với Ngân hàng Thương mại cổ phần C – Chi nhánh L2. Hạn mức cho vay là: 9.000.000.000 VNĐ, thời hạn duy trì hạn mức từ ngày 19/12/2022 đến ngày 19/12/2023. Đến hạn trả nợ chị Đặng Thị H và anh Nguyễn Văn T còn dư nợ số tiền gốc vay là: 6.000.000.000VNĐ. Chị Đặng Thị H và anh Nguyễn Văn T đã thống nhất làm thủ tục đi vay trả nợ, sau đó vay lại (Đảo nợ) được Ngân hàng Thương mại cổ phần C – Chi nhánh L2 đồng ý. Ngày 05/01/2024, chị Đặng Thị H trao đổi với anh Nguyễn Tiến T2 là bạn cho chị Đặng Thị H vay số tiền 2.000.000.000VNĐ, để đảo nợ từng món tiền theo thời hạn giải ngân đến hạn, khi được ngân hàng cho vay lại trong ngày sẽ chuyển trả. Anh Nguyễn Tiến T2 đã chuyển cho chị Đặng Thị H vay số tiền 2.000.000.000VNĐ vào tài khoản của chị Đặng Thị H mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần C – Chi nhánh L2 để chị H đáo hạn ngân hàng. Nhưng cùng ngày hôm 05/01/2024, Ngân hàng Thương mại cổ phần C – Chi nhánh L2 nhận được thông báo của Toà án nhân dân thành phố Lào Cai về việc chị Đặng Thị H và anh Nguyễn Văn T xin ly hôn và chia tài sản, nên Ngân hàng Thương mại cổ phần C – Chi nhánh L2 đã thu luôn số tiền 2.000.000.000VNĐ của chị Đặng Thị H và không giải ngân cho chị Đặng Thị H vay nữa nên chị Đặng Thị H chưa có tiền để trả lại anh Nguyễn Tiến T2. Đến nay, chị Đặng Thị H, anh Nguyễn Văn T còn có 02 khoản nghĩa vụ chung về tài sản là khoản vay của Ngân hàng Thương mại cổ phần C – Chi nhánh L2 tính đến ngày xét xử 27/9/2024, tổng số tiền gốc và lãi suất là 4.284.661.466VNĐ và khoản vay của anh Nguyễn Tiến T2, trú tại xã Đ, huyện C, tỉnh Hải Dương là 2.000.000.000VNĐ.

Khi ly hôn chị Đặng Thị H có nguyện vọng được quyền sử dụng diện tích 264,2m², đất ở tại nông thôn, thửa đất số 31, tờ bản đồ số P2-35, tại thôn L, xã C, thành phố L, tỉnh Lào Cai, đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ GCN: CS-00804 ngày 07 tháng 5 năm 2018, mang tên chị Đặng Thị H và được quyền sở hữu tài sản trên đất là 01 nhà xây cấp IV. Được quyền sử dụng diện tích 3701,4m², đất trồng cây lâu năm, thửa đất số 27, tờ bản đồ số P2-35; quyền sử dụng diện tích 121,3m², đất nuôi trồng thủy sản, thửa đất số 32, tờ bản đồ số P2-35 và quyền sử dụng diện tích 501,4m², đất nuôi trồng thủy sản, thửa đất số 61, tờ bản đồ số P2-35. 03 thửa đất đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ GCN: CS-00803 ngày 07 tháng 5 năm 2018, mang tên chị Đặng Thị H. Được sở hữu tài sản trên diện tích đất trồng cây lâu năm và đất nuôi trồng thủy sản là hệ thống tường rào, chuồng trại chăn nuôi và ao thả cá. Trị giá quyền sử dụng các thửa đất và tài sản trên đất đã được định giá là: 2.867.605.385VNĐ và 01 xe ô tô HYUNDAI nhãn hiệu SANTAFE màu sơn bạc. Biển kiểm soát: 30A-178.41, đăng ký xe mang tên chị Đặng Thị H, trị giá là: 400.000.000VNĐ.

Giao cho anh Nguyễn Văn T được sử dụng diện tích 400m², đất ở đô thị, tại lô L, BT7, đường B, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: CS02162, ngày 10 tháng 8 năm 2015, mang tên chị Đặng Thị H và anh Nguyễn Văn T và tài sản trên đất có 01 nhà xây cấp IV 03 tầng. Trị giá quyền sử dụng đất và tài sản trên đất, đã được định giá là: 13.978.434.980VNĐ và 01 xe ô tô HYUNDAI loại chở hàng 04 dàn bánh màu sơn trắng. Biển kiểm soát: 29C-858.79, đăng ký xe mang tên chị Đặng Thị H, trị giá là: 1.000.000.000VNĐ.

Anh Nguyễn Văn T được sử dụng và sở hữu tài sản lớn hơn, nên phải có nghĩa vụ hoàn trả các khoản tiền vay nghĩa vụ chung về tài sản. Trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C – Chi nhánh L2 số tiền 4.284.661.466VNĐ và Trả cho anh Nguyễn Tiến T2, số tiền 2.000.000.000VNĐ. Anh Nguyễn Văn T phải hoàn trả khoản tiền chênh lệch về tài sản cho chị Đặng Thị H.

Bị đơn anh Nguyễn Văn T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn T thừa nhận việc anh và chị chị Đặng Thị H tự nguyện kết hôn, thời điểm kết hôn, nơi kết hôn như chị Đặng Thị H trình bầy là đúng sự thật. Anh Nguyễn Văn T cho rằng, quá trình chung sống, sau khi kết hôn anh Nguyễn Văn T và chị Đặng Thị H sống chung hạnh phúc được một thời gian, sau đó có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống và trong việc làm ăn kinh tế. Thời gian gần đây chị Đặng Thị H có quan hệ ngoại tình, nên anh Nguyễn Văn T thấy rằng tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên khi chị Đặng Thị H xin ly hôn, anh Nguyễn Văn T cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị Đặng Thị H.

Về con chung: Anh Nguyễn Văn T thừa nhận anh và chị Đặng Thị H có 02 con chung như chị Đặng Thị H trình bầy là đúng. Khi ly hôn anh Nguyễn Văn T đề nghị Toà án giải quyết giao cháu Nguyễn Thế V cho anh Nguyễn Văn T trực tiếp, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến đủ 18 tuổi. Giao cháu Nguyễn Ngọc Khánh L cho chị Đặng Thị H được trực tiếp, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến đủ 18 tuổi. Anh Nguyễn Văn T và chị Đặng Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Anh Nguyễn Văn T xác định trong quá trình chung sống anh và chị Đặng Thị H có tạo dựng được 04 tài sản chung và trị giá tài sản đã được định giá như chị Đặng Thị H trình bầy là đúng. Ngoài ra anh Nguyễn Văn T và chị Đặng Thị H còn có khoản tiền do kinh doanh mà có từ khi đăng ký kết hôn năm 2005 đến nay, chị Đặng Thị H đang quản lý trong các tài khoản tại các ngân hàng mang tên chị Đặng Thị H gồm: Khoản tiền 19.000.000.000VNĐ gửi vào sàn chứng khoán SINHAN; khoản tiền 39.404.690.000VNĐ hàng hoá kinh doanh và khoản tiền tiết kiệm 6.000.000.000VNĐ, tổng cộng là: 64.404.690.000VNĐ. Ngày 21/8/2024 anh Nguyễn Văn T có đơn tự nguyện xin rút yêu cầu chia tài sản đối với số tiền chị Đặng Thị H đang quản lý, do kinh doanh mà có trong các tài khoản tại các ngân hàng gồm: Khoản tiền 19.000.000.000VNĐ gửi sàn chứng khoán SINHAN; khoản tiền 37.700.000.000VNĐ hàng hoá kinh doanh và khoản tiền tiết kiệm 6.000.000.000VNĐ, tổng cộng là: 62.700.000.000VNĐ, do chưa có đủ chứng cứ và cần phải thuê kiểm toán. Anh Nguyễn Văn T chỉ còn yêu cầu chia 04 tài sản chung và chia khoản tiền bán lợn thành phẩm cho chị Nguyễn Thị Đ ở tổ B, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai vào năm 2022, chị Đặng Thị H đang quản lý là: 1.704.690.000VNĐ.

Nghĩa vụ về tài sản chung: Anh Nguyễn Văn T thừa nhận anh và chị Đặng Thị H trong quá trình chung sống đã nhiều lần vay tiền của Ngân hàng Thương mại cổ phần C – Chi nhánh L2 để lấy vốn kinh doanh, với thời hạn vay là 06 tháng phải hoàn trả cả gốc và lãi suất, mới được tiếp tục vay. Ngày 19 tháng 12 năm 2022 anh Nguyễn Văn T và chị Đặng Thị H đã thỏa thuận ký hợp đồng cho vay hạn mức số: 01/2022-HĐCVHM/NHCT180-ĐTH với Ngân hàng Thương mại cổ phần C – Chi nhánh L2. Chị Đặng Thị H được chủ động vay tiền để kinh doanh trong hạn mức vay là: 9.000.000.000VNĐ. Thời hạn duy trì hạn mức từ ngày 19/12/2022 đến ngày 19/12/2023. Đến trước ngày 05/01/2023 anh Nguyễn Văn T và chị Đặng Thị H còn dư nợ số tiền gốc đã vay còn lại là 6.000.000.000VNĐ. Đến nay khoản vay chỉ còn số tiền gốc vay là: 4.000.000.000VNĐ là khoản nợ anh Nguyễn Văn T đã ký vay chung và thế chấp bằng tài sản chung, anh Nguyễn Văn T sẽ có trách nhiệm hoàn trả khoản tiền dự nợ đến nay tại Ngân hàng Thương mại cổ phần C – Chi nhánh L2, để giải chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Khi ly hôn Nguyễn Văn T có ý kiến đề nghị, chia tài sản chung như sau:

Anh Nguyễn Văn T được quyền sử dụng diện tích 400m², đất ở đô thị, tại lô L, BT7, đường B, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai, đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: CS02162, ngày 10 tháng 8 năm 2015, mang tên chị Đặng Thị H và anh Nguyễn Văn T và tài sản trên đất có 01 nhà xây cấp IV 03 tầng. Trị giá quyền sử dụng đất và tài sản trên đất, đã được định giá là: 13.978.434.980VNĐ. Được quyền sử dụng diện tích 264,2m², đất ở tại nông thôn, thửa đất số 31, tờ bản đồ số P2-35, tại thôn L, xã C, thành phố L, tỉnh Lào Cai, đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ GCN: CS-00804 ngày 07 tháng 5 năm 2018, mang tên chị Đặng Thị H. Tài sản trên đất là 01 nhà xây cấp IV; quyền sử dụng diện tích 3701,4m², đất trồng cây lâu năm, thửa đất số 27, tờ bản đồ số P2-35; quyền sử dụng diện tích 121,3m², đất nuôi trồng thủy sản, thửa đất số 32, tờ bản đồ số P2-35 và quyền sử dụng diện tích 501,4m², đất nuôi trồng thủy sản, thửa đất số 61, tờ bản đồ số P2-35. 03 thửa đất đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ GCN: CS-00803 ngày 07 tháng 5 năm 2018, mang tên chị Đặng Thị H. Trên diện tích đất trồng cây lâu năm và đất nuôi trồng thủy sản đã được xây dựng hệ thống tường rào, chuồng trại chăn nuôi và ao thả cá. Trị giá quyền sử dụng các thửa đất và tài sản trên đất đã được định giá là: 2.867.605.385VNĐ và được quyền sở hữu 01 xe ô tô HYUNDAI loại chở hàng 04 dàn bánh màu sơn trắng. Biển kiểm soát: 29C-858.79, đăng ký sử dụng mang tên chị Đặng Thị H, trị giá là: 1.000.000.000VNĐ.

Giao cho chị Đặng Thị H được quyền sở hữu 01 xe ô tô HYUNDAI nhãn hiệu SANTAFE màu sơn bạc. Biển kiểm soát: 30A-178.41, đăng ký xe mang tên chị Đặng Thị H, trị giá là: 400.000.000VNĐ.

Đối với khoản tiền dự nợ tại Ngân hàng Thương mại cổ phần C – Chi nhánh L2 đến nay còn dư nợ số tiền gốc vay là: 4.000.000.000VNĐ, đây là khoản tiền vay từ Ngân hàng Thương mại cổ phần C – Chi nhánh L2, sau khi vay được tiền chị Đặng Thị H đã tự ý chi phí nên khi anh Nguyễn Văn T hoàn trả khoản tiền dự nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C – Chi nhánh L2, thì chị Đặng Thị H phải có trách nhiệm hoàn trả lại cho anh Nguyễn Văn T ½ số tiền dự nợ. Còn khoản tiền 2.000.000.000VNĐ chị Đặng Thị H vay của anh Nguyễn Tiến T2, trú tại xã Đ, huyện C, tỉnh Hải Dương. Đây là số tiền chị Đặng Thị H tự vay, nên tự chịu trách nhiệm trả cho anh Nguyễn Tiến T2.

Đối với khoản tiền bán lợn cho chị Nguyễn Thị Đ năm 2022 chị Đặng Thị H đang quản lý là: 1.704.690.000VNĐ. Anh Nguyễn Văn T yêu cầu chị Đặng Thị H phải trả lại cho anh Nguyễn Văn T ½ giá trị khoản tiền bán lợn là 852.345.000VNĐ.

Anh Nguyễn Văn T sẽ hoàn trả khoản tiền chênh lệch về tài sản cho chị Đặng Thị H sau khi đối trừ các nghĩa vụ về tài sản.

Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng Thương mại cổ phần C là ông Đặng Viết N đều trình bày:

Chị Đặng Thị H và anh Nguyễn Văn T với tư cách là bên vay đã thoả thuận ký hợp đồng cho vay hạn mức số: 01/2022-HĐCVHM/NHCT180-ĐTH ngày 19 tháng 12 năm 2022 với Ngân hàng Thương mại cổ phần C – Chi nhánh L2. Trong nội dung của hợp đồng đã thoả thuận các nội dung cơ bản: Hạn mức cho vay: 9.000.000.000VNĐ. Thời hạn duy trì hạn mức từ ngày 19/12/2022 đến ngày 19/12/2023. Thời hạn cho vay cụ thể của mỗi lần giải ngân được ghi trên từng giấy nhận nợ nhưng tối đa không quá 06 tháng. Hình thức trả nợ lãi suất hàng tháng, trả gốc khi đến hạn được ghi trên từng giấy nhận nợ. Lãi suất cho vay áp dụng lãi suất có điều chỉnh theo thông báo của ngân hàng. Mục đích vay để thanh toán cho mua và chi phí hợp lý phục vụ phương án kinh doanh. Để đảm bảo cho số tiền vay theo thoả thuận của hợp đồng cho vay hạn mức số 01/2022-HĐCVHM/NHCT180-ĐTH ngày 19 tháng 12 năm 2022, bà Đặng Thị H và ông Nguyễn Văn T đã ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 01/2023/ĐTH/HĐBĐ/NHCT180 ngày 30/06/2023 với bên nhận thế chấp là Ngân hàng Thương mại cổ phần C – Chi nhánh L2.

Căn cứ theo thỏa thuận của hợp đồng cho vay hạn mức số 01/2022-HĐCVHM/NHCT180-ĐTH ngày 19 tháng 12 năm 2022. Ngân hàng Thương mại cổ phần C – Chi nhánh L2 đã giải ngân cho chị Đặng Thị H và anh Nguyễn Văn T nhiều lần là: 12.750.000.000VNĐ, doanh số đã thu nợ là: 6.750.000.000VNĐ. Dư nợ tính đến ngày 04/01/2024 còn lại là: 6.000.000.000VNĐ. Ngày 05/01/2024 Ngân hàng Thương mại cổ phần C – Chi nhánh L2 đã thực hiện thu nợ khoản vay của chị Đặng Thị H và anh Nguyễn Văn T số tiền gốc là: 2.000.000.000VNĐ, số tiền lãi trong hạn và số tiền lãi suất quá hạn là: 3.644.849VNĐ trên số tiền có trong tài khoản vay 868008431244 mang tên chị Đặng Thị H mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần C – Chi nhánh L2. Khi nhận được thông báo của Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai về việc chị Đặng Thị H và anh Nguyễn Văn T ly hôn và chia tài sản. Nên Ngân hàng Thương mại cổ phần C – Chi nhánh L2 đã thực hiện dừng giải ngân, sau khi đã thu được khoản tiền trả nợ gốc chuyển vào ngày 05/01/2024 để đợi phán quyết của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Đến ngày 19/02/2024 Ngân hàng Thương mại cổ phần C – Chi nhánh L2 thực hiện thu nợ khoản vay đến hạn của chị Đặng Thị H từ tài khoản vay số 86008672799 mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần C – Chi nhánh L2 số tiền gốc là: 24.000.000VNĐ và khoản tiền lãi suất trong hạn là: 471.473VNĐ. Từ ngày 19/02/2024 khoản tiền vay của chị Đặng Thị H và anh Nguyễn Văn T đã phát sinh khoản vay quá hạn. Ngân hàng Thương mại cổ phần C – Chi nhánh L2 yêu cầu chị Đặng Thị H và anh Nguyễn Văn T khi ly hôn chia tài sản chung, nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C toàn bộ số tiền còn dư nợ tính đến ngày xét xử 27/9/2024 dư nợ gốc là: 3.976.000.000VNĐ; khoản tiền lãi suất trong hạn là: 233.952.259VNĐ; khoản tiền nợ lãi suất quá hạn là: 101.179.549VNĐ, tổng cộng là: 4.311.131.808VNĐ. Chị Đặng Thị H và anh Nguyễn Văn T có nghĩa vụ liên đới tiếp tục trả nợ lãi, nợ lãi quá hạn cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C theo mức lãi suất đã thoả thuận trong hợp đồng hạn tín dụng cho vay theo số dư nợ gốc thực tế cho đến khi hoàn trả xong khoản vay. Khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, chị Đặng Thị H và anh Nguyễn Văn T không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả các khoản nợ nêu trên thì Ngân hàng Thương mại cổ phần C có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý toàn bộ tài sản bảo đảm theo hợp đồng thế chấp tài sản để thu hồi khoản nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C theo quy định của pháp luật.

Người đại diện theo uỷ quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Tiến T2 là ông Nguyễn Quốc H2 trình bày:

Do có quan hệ quen biết với chị Đặng Thị H trú tại số nhà A, đường P, tổ B, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Ngày 05/01/2024 chị Đặng Thị H có hỏi vay anh Nguyễn Tiến T2 số tiền 2.000.000.000VNĐ để đáo hạn khoản vay của ngân hàng đến hạn, khi được ngân hàng cho vay lại sẽ chuyển trả số tiền vay trong ngày. Vào khoảng 10 giờ ngày 05/01/2024, anh Nguyễn Tiến T2 đã chuyển khoản 05 lần, mỗi lần 400.000.000VNĐ, tổng cộng là 2.000.000.000VNĐ vào tài khoản của chị Đặng Thị H. Nhưng đến chiều ngày 05/01/2024, chị Đặng Thị H có thông báo do Ngân hàng Thương mại cổ phần C – Chi nhánh L2 nhận được thông báo của Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai về việc chị Đặng Thị H và anh Nguyễn Văn T ly hôn và chia tài sản khi ly hôn. Do đó Ngân hàng Thương mại cổ phần C – Chi nhánh L2 đã thu nợ luôn số tiền 2.000.000.000VNĐ anh Nguyễn Tiến T2 đã chuyển khoản vào tài khoản của chị Đặng Thị H và không giải ngân lại cho chị Đặng Thị H vay nữa nên chị Đặng Thị H chưa có tiền trả lại anh Nguyễn Tiến T2 theo đúng thoả thuận. Đến nay chị Đặng Thị H, anh Nguyễn Văn T ly hôn và chia tài sản chung, anh Nguyễn Tiến T2 đề nghị Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai khi giải quyết buộc chị Đặng Thị H và anh Nguyễn Văn T phải có nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho anh Nguyễn Tiến T2 số tiền đã vay là: 2.000.000.000VNĐ. Ngoài ra anh Nguyễn Tiến T2 không còn yêu cầu gì khác.

Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 65/2024/HNGĐ-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, đã quyết định:

Căn cứ vào khoản 1, 2, 4, Điều 147; Điều 157; Điều 165; Điều 244; Điều 246 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 33; Điều 37; Điều 55; Điều 59; Điều 60; Điều 62; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Điều 91; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 463; Điều 466 và Điều 470 Bộ luật dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:

Về hôn nhân:

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Đặng Thị H và anh Nguyễn Văn T.

Quan hệ hôn nhân của chị Đặng Thị H và anh Nguyễn Văn T chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Về nuôi con chung:

Giao con chung, cháu Nguyễn Ngọc Khánh L - Sinh ngày 29/9/2006 cho chị Đặng Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến đủ 18 tuổi. Giao con chung, cháu Nguyễn Thế V - Sinh ngày 26/8/2013 cho Nguyễn Văn T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến đủ 18 tuổi.

Chị Đặng Thị H và anh Nguyễn Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị Đặng Thị H và anh Nguyễn Văn T, có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở.

2. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản:

Đình chỉ một phần yêu cầu chia tài sản của bị đơn anh Nguyễn Văn T, đối với các khoản tiền anh Nguyễn Văn T cho rằng chị Đặng Thị H đang quản lý, do kinh doanh mà có, tổng cộng là: 62.700.000.000VNĐ (Sáu mươi hai tỷ, bẩy trăm triệu đồng).

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đặng Thị H về việc chia tài sản khi ly hôn.

Ghi nhận sự thỏa thuận của nguyên đơn chị Đặng Thị H và bị đơn anh Nguyễn Văn T về việc giao quyền sử dụng và sở hữu tài sản, chia tài sản khi ly hôn, cụ thể như sau:

Giao cho anh Nguyễn Văn T được quyền sử dụng diện tích 400m², đất ở đô thị, tại lô L, BT7, đường B, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai, đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: CS02162, ngày 10 tháng 8 năm 2015, mang tên chị Đặng Thị H và anh Nguyễn Văn T và được quyền sở hữu tài sản trên đất có 01 nhà xây cấp IV 03 tầng. Trị giá quyền sử dụng đất và tài sản trên đất là: 13.978.434.980VNĐ (Mười ba tỷ, chín trăm bẩy mươi tám triệu, bốn trăm ba mươi bốn nghìn, chín trăm tám mươi đồng).

Giao cho anh Nguyễn Văn T được quyền sử dụng diện tích 264,2m², đất ở tại nông thôn, thửa đất số 31, tờ bản đồ số P2-35, tại thôn L, xã C, thành phố L, tỉnh Lào Cai, đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ GCN: CS-00804 ngày 07 tháng 5 năm 2018, mang tên chị Đặng Thị H và được quyền sở hữu tài sản trên đất là 01 nhà xây cấp IV. Anh Nguyễn Văn T được quyền sử dụng diện tích 3701,4m², đất trồng cây lâu năm, thửa đất số 27, tờ bản đồ số P2-35; quyền sử dụng diện tích 121,3m², đất nuôi trồng thủy sản, thửa đất số 32, tờ bản đồ số P2-35 và quyền sử dụng diện tích 501,4m², đất nuôi trồng thủy sản, thửa đất số 61, tờ bản đồ số P2-35. 03 thửa đất đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ GCN: CS-00803 ngày 07 tháng 5 năm 2018, mang tên chị Đặng Thị H và được quyền sở hữu tài sản trên diện tích đất trồng cây lâu năm và đất nuôi trồng thủy sản là hệ thống tường rào, chuồng trại chăn nuôi và ao thả cá. Trị giá quyền sử dụng 04 thửa đất và tài sản trên đất là: 2.867.605.385VNĐ (Hai tỷ, tám trăm sáu mươi bẩy triệu, sáu trăm linh năm nghìn, ba trăm tám mươi lăm đồng).

Giao cho anh Nguyễn Văn T được quyền sở hữu 01 xe ô tô HYUNDAI loại chở hàng 04 dàn bánh màu sơn trắng. Biển kiểm soát: 29C-858.79, đăng ký xe mang tên chị Đặng Thị H, trị giá là: 1.000.000.000VNĐ (Một tỷ đồng).

Anh Nguyễn Văn T có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C, tổng số tiền dư nợ tính đến ngày 27/9/2024 là: 4.311.131.808VNĐ (Bốn tỷ, ba trăm mười một triệu, một trăm ba mươi mốt nghìn, tám trăm linh tám đồng). Trong đó khoản tiền dư nợ gốc là: 3.976.000.000VNĐ (Ba tỷ, chín trăm bẩy mươi sáu triệu đồng); khoản tiền lãi suất trong hạn là: 233.952.259VNĐ (Hai trăm ba mươi ba triệu, chín trăm năm mươi hai nghìn, hai trăm năm mươi chín đồng) và khoản tiền nợ lãi suất quá hạn là: 101.179.549VNĐ (Một trăm linh một triệu, một trăm bẩy mươi chín nghìn, năm trăm bốn mươi chín đồng).

Trường hợp anh Nguyễn Văn T không thực hiện nghĩa vụ hoàn trả khoản tiền gốc đã vay còn lại và khoản tiền lãi. Ngân hàng Thương mại cổ phần C có quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án dân sự xử lý phát mại tài sản đã thế chấp theo hợp đồng thế chấp tài sản số: 01/2023/ĐTH/HĐBĐ/NHCT180 ngày 30/06/2023 giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần C – Chi nhánh L2 với anh Nguyễn Văn T và chị Đặng Thị H, để thu hồi các khoản nợ theo quy định của pháp luật.

Kể từ ngày Ngân hàng Thương mại cổ phần C có đơn yêu cầu thi hành án, anh Nguyễn Văn T phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, phát sinh sau ngày 27/9/2024 theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận hợp đồng cho vay hạn mức số 01/2022-HĐCVHM/NHCT180-ĐTH ngày 19 tháng 12 năm 2022 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp, trong hợp đồng cho vay hạn mức số 01/2022-HĐCVHM/NHCT180-ĐTH ngày 19 tháng 12 năm 2022, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng Thương mại cổ phần C thì lãi suất mà anh Nguyễn Văn T phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C theo mức điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng Thương mại cổ phần C tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Anh Nguyễn Văn T có nghĩa vụ hoàn trả cho anh Nguyễn Tiến T2 số tiền là 2.000.000.000VNĐ (Hai tỷ đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người yêu cầu anh Nguyễn Tiến T2 có đơn yêu cầu thi hành án khoản tiền phải hoàn trả, cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án, nếu anh Nguyễn Văn T không thi hành xong khoản tiền phải hoàn trả, thì hàng tháng anh Nguyễn Văn T còn phải chịu thêm khoản tiền lãi suất tương ứng với thời gian chưa thi hành án, theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự.

Giao cho chị Đặng Thị H được quyền sở hữu 01 xe ô tô HYUNDAI nhãn hiệu SANTAFE màu sơn bạc. Biển kiểm soát 30A-178.41, đăng ký xe mang tên chị Đặng Thị H, trị giá là: 400.000.000VNĐ (Bốn trăm triệu đồng).

Anh Nguyễn Văn T có nghĩa vụ thanh toán cho chị Đặng Thị H khoản tiền chênh lệch về tài sản là 5.567.454.278VNĐ (Năm tỷ, năm trăm sáu mươi bẩy triệu, bốn trăm năm mươi bốn nghìn, hai trăm bẩy mươi tám đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người yêu cầu chị Đặng Thị H có đơn yêu cầu thi hành án khoản tiền chênh lệnh về tài sản, cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án, nếu anh Nguyễn Văn T không thi hành xong khoản tiền phải trả chênh lệch về tài sản, thì hàng tháng anh Nguyễn Văn T còn phải chịu thêm khoản tiền lãi suất tương ứng với thời gian chưa thi hành án, theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự.

Không chấp nhận yêu cầu chia tài sản của anh Nguyễn Văn T đối với khoản tiền bán lợn thành phẩm năm 2022 là: 852.345.000VNĐ (Tám trăm năm mươi hai triệu, ba trăm bốn mươi lăm nghìn).

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự.

Ngày 09/10/2024 bị đơn anh Nguyễn Văn T kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm số 65/2024/HNGĐ-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đặng Thị H và chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bị đơn Nguyễn Văn T.

Trong trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, vi phạm pháp luật nội dung đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm số 65/2024/HNGĐ-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai để giải quyết lại theo quy định.

Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn chị Đặng Thị H và bị đơn anh Nguyễn Văn T thống nhất thỏa thuận như sau:

- Về hôn nhân: Chị Đặng Thị H và anh Nguyễn Văn T thuận tình ly hôn.

- Về con chung: Giao con chung, cháu Nguyễn Ngọc Khánh L - Sinh ngày 29/9/2006 cho chị Đặng Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Giao con chung, cháu Nguyễn Thế V - Sinh ngày 26/8/2013 cho Nguyễn Văn T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến đủ 18 tuổi. Chị Đặng Thị H và anh Nguyễn Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung:

+ Anh Nguyễn Văn T rút một phần kháng cáo đối với yêu cầu chia tài sản đối với các khoản tiền anh Nguyễn Văn T cho rằng chị Đặng Thị H đang quản lý, do kinh doanh mà có; số tiền buôn bán lợn thành phẩm 39.404.690 VNĐ và rút phần yêu cầu chia số tiền 7.500.000.000 đồng là số tiền bán nhà và đất tại địa chỉ số C, đường C, tổ C, cụm A, xã T, huyện P, thành phố Hà Nội mà anh T cho rằng hiện nay chị H đang quản lý.

Chị Đặng Thị H và anh Nguyễn Văn T thống nhất chia tài sản như sau:

* Chị Đặng Thị H được sở hữu và sử dụng các tài sản sau:

+ Được quyền sử dụng diện tích 400m², đất ở đô thị, tại lô L, BT7, đường B, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai, đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: CS02162, ngày 10 tháng 8 năm 2015, mang tên chị Đặng Thị H và anh Nguyễn Văn T và được quyền sở hữu tài sản trên đất có 01 nhà xây cấp IV 03 tầng. Trị giá quyền sử dụng đất và tài sản trên đất là: 13.978.434.980VNĐ.

+ Được quyền sở hữu 01 xe ô tô HYUNDAI nhãn hiệu SANTAFE màu sơn bạc. Biển kiểm soát 30A-178.41, đăng ký xe mang tên chị Đặng Thị H, trị giá là: 400.000.000VNĐ.

Chị Đặng Thị H có nghĩa vụ thanh toán cho anh Nguyễn Văn T khoản tiền chênh lệch về tài sản là 1.500.000.000VNĐ.

* Anh Nguyễn Văn T được quyền quản lý, sử dụng các tài sản sau:

+ Được quyền sử dụng diện tích 264,2m², đất ở tại nông thôn, thửa đất số 31, tờ bản đồ số P2-35, tại thôn L, xã C, thành phố L, tỉnh Lào Cai, đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ GCN: CS-00804 ngày 07 tháng 5 năm 2018, mang tên chị Đặng Thị H và được quyền sở hữu tài sản trên đất là 01 nhà xây cấp IV. Anh Nguyễn Văn T được quyền sử dụng diện tích 3701,4m², đất trồng cây lâu năm, thửa đất số 27, tờ bản đồ số P2-35; quyền sử dụng diện tích 121,3m², đất nuôi trồng thủy sản, thửa đất số 32, tờ bản đồ số P2-35 và quyền sử dụng diện tích 501,4m², đất nuôi trồng thủy sản, thửa đất số 61, tờ bản đồ số P2-35. 03 thửa đất đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ GCN: CS-00803 ngày 07 tháng 5 năm 2018, mang tên chị Đặng Thị H và được quyền sở hữu tài sản trên diện tích đất trồng cây lâu năm và đất nuôi trồng thủy sản là hệ thống tường rào, chuồng trại chăn nuôi và ao thả cá. Trị giá quyền sử dụng 04 thửa đất và tài sản trên đất là: 2.867.605.385VNĐ.

+ Được quyền sở hữu 01 xe ô tô HYUNDAI loại chở hàng 04 dàn bánh màu sơn trắng. Biển kiểm soát: 29C-858.79, đăng ký xe mang tên chị Đặng Thị H, trị giá là: 1.000.000.000VNĐ.

Nguyễn Văn T được hưởng khoản tiền chênh lệch về tài sản do chị H thanh toán là 1.500.000.000 VNĐ.

[2.4] Về nghĩa vụ chung:

Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn chị Đặng Thị H và bị đơn anh Nguyễn Văn T thống nhất thỏa thuận như sau:

Đối với khoản tiền vay để kinh doanh của Ngân hàng Thương mại cổ phần C:

Chị Đặng Thị H có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C, tổng số tiền dư nợ tính đến ngày 08/4/2025 là: 4.594.952.698VNĐ (Bốn tỷ, năm trăm chín mươi tư triệu, chín trăm năm mươi hai nghìn, sáu trăm chín mươi tám đồng). Trong đó khoản tiền dư nợ gốc là: 3.976.000.000VNĐ (Ba tỷ, chín trăm bẩy mươi sáu triệu đồng); khoản tiền lãi trong hạn là: 423.166.286VNĐ (Bốn trăm hai mươi ba triệu, một trăm sáu mươi sáu nghìn, hai trăm tám mươi sáu đồng) và khoản tiền nợ lãi quá hạn là: 195.786.412VNĐ (Một trăm chín mươi lăm triệu, bảy trăm tám mươi sáu nghìn, bốn trăm mười hai đồng).

Trường hợp chị Đặng Thị H không thực hiện nghĩa vụ hoàn trả khoản tiền gốc đã vay còn lại và khoản tiền lãi. Ngân hàng Thương mại cổ phần C có quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án dân sự xử lý phát mại tài sản đã thế chấp theo hợp đồng thế chấp tài sản số: 01/2023/ĐTH/HĐBĐ/NHCT180 ngày 30/06/2023 giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần C – Chi nhánh L2 với anh Nguyễn Văn T và chị Đặng Thị H, để thu hồi các khoản nợ theo quy định của pháp luật.

Kể từ ngày Ngân hàng Thương mại cổ phần C có đơn yêu cầu thi hành án, chị Đặng Thị H phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, phát sinh sau ngày 08/4/2025 theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận hợp đồng cho vay hạn mức số 01/2022-HĐCVHM/NHCT180-ĐTH ngày 19 tháng 12 năm 2022 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp, trong hợp đồng cho vay hạn mức số 01/2022-HĐCVHM/NHCT180-ĐTH ngày 19 tháng 12 năm 2022, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng Thương mại cổ phần C thì lãi suất mà chị Đặng Thị H phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C theo mức điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng Thương mại cổ phần C tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Đối với khoản tiền chị Đặng Thị H vay của anh Nguyễn Tiến T2:

Chị Đặng Thị H có nghĩa vụ hoàn trả cho anh Nguyễn Tiến T2 số tiền là 2.000.000.000VNĐ (Hai tỷ đồng).

Xét thấy sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội, phù hợp với quy định tại Điều 300 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được chấp nhận, cần sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai về phần tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản giữa chị Đặng Thị H và anh Nguyễn Văn T.

[3] Về chi phí tố tụng:

Chị Đặng Thị H và anh Nguyễn Văn T thống nhất chịu theo quyết định của bản án sơ thẩm số 65/2024/HNGĐ-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai.

[4] Về án phí:

Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của anh Nguyễn Văn T được chấp nhận nên người kháng cáo anh Nguyễn Văn T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm anh T đã nộp được khấu trừ vào tiền án phí Dân sự sơ thẩm anh Nguyễn Văn T phải nộp.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 309; Điều 148; Điều 300 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Chấp nhận kháng cáo của bị đơn anh Nguyễn Văn T. Sửa một phần bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 65/2024/HNGĐ-ST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai đối với phần tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản như sau:

Căn cứ vào khoản 1, 2, 4, Điều 147; Điều 157; Điều 165; Điều 244; Điều 246 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 33; Điều 37; Điều 55; Điều 59; Điều 60; Điều 62; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Điều 91; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 463; Điều 466 và Điều 470 Bộ luật dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:

Về hôn nhân:

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Đặng Thị H và anh Nguyễn Văn T.

Quan hệ hôn nhân của chị Đặng Thị H và anh Nguyễn Văn T chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Về nuôi con chung:

Giao con chung, cháu Nguyễn Ngọc Khánh L - Sinh ngày 29/9/2006 cho chị Đặng Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến đủ 18 tuổi. Giao con chung, cháu Nguyễn Thế V - Sinh ngày 26/8/2013 cho Nguyễn Văn T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến đủ 18 tuổi.

Chị Đặng Thị H và anh Nguyễn Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị Đặng Thị H và anh Nguyễn Văn T, có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở.

2. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản:

Đình chỉ một phần yêu cầu chia tài sản của bị đơn anh Nguyễn Văn T, đối với các khoản tiền anh Nguyễn Văn T cho rằng chị Đặng Thị H đang quản lý, do kinh doanh mà có, tổng cộng là: 62.700.000.000VNĐ (Sáu mươi hai tỷ, bẩy trăm triệu đồng).

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đặng Thị H về việc chia tài sản khi ly hôn.

Ghi nhận sự thỏa thuận của nguyên đơn chị Đặng Thị H và bị đơn anh Nguyễn Văn T về việc giao quyền sử dụng và sở hữu tài sản, chia tài sản khi ly hôn, cụ thể như sau:

* Chị Đặng Thị H được sở hữu và sử dụng các tài sản sau:

+ Được quyền sử dụng diện tích 400m², đất ở đô thị, tại lô L, BT7, đường B, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai, đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: CS02162, ngày 10 tháng 8 năm 2015, mang tên chị Đặng Thị H và anh Nguyễn Văn T và được quyền sở hữu tài sản trên đất có 01 nhà xây cấp IV 03 tầng. Trị giá quyền sử dụng đất và tài sản trên đất là: 13.978.434.980VNĐ (Mười ba tỷ, chín trăm bẩy mươi tám triệu, bốn trăm ba mươi bốn nghìn, chín trăm tám mươi đồng).

+ Được quyền sở hữu 01 xe ô tô HYUNDAI nhãn hiệu SANTAFE màu sơn bạc. Biển kiểm soát 30A-178.41, đăng ký xe mang tên chị Đặng Thị H, trị giá là: 400.000.000VNĐ (Bốn trăm triệu đồng).

Chị Đặng Thị H có nghĩa vụ thanh toán cho anh Nguyễn Văn T khoản tiền chênh lệch về tài sản là 1.500.000.000VNĐ (Một tỷ, năm trăm triệu đồng).

Tổng giá trị tài sản chị H được hưởng sau khi trừ đi nghĩa vụ thanh toán khoản tiền chênh lệch về tài sản cho anh T là 12.878.434.980VNĐ.

* Anh Nguyễn Văn T được quyền quản lý, sử dụng các tài sản sau:

+ Được quyền sử dụng diện tích 264,2m², đất ở tại nông thôn, thửa đất số 31, tờ bản đồ số P2-35, tại thôn L, xã C, thành phố L, tỉnh Lào Cai, đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ GCN: CS-00804 ngày 07 tháng 5 năm 2018, mang tên chị Đặng Thị H và được quyền sở hữu tài sản trên đất là 01 nhà xây cấp IV. Anh Nguyễn Văn T được quyền sử dụng diện tích 3701,4m², đất trồng cây lâu năm, thửa đất số 27, tờ bản đồ số P2-35; quyền sử dụng diện tích 121,3m², đất nuôi trồng thủy sản, thửa đất số 32, tờ bản đồ số P2-35 và quyền sử dụng diện tích 501,4m², đất nuôi trồng thủy sản, thửa đất số 61, tờ bản đồ số P2-35. 03 thửa đất đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ GCN: CS-00803 ngày 07 tháng 5 năm 2018, mang tên chị Đặng Thị H và được quyền sở hữu tài sản trên diện tích đất trồng cây lâu năm và đất nuôi trồng thủy sản là hệ thống tường rào, chuồng trại chăn nuôi và ao thả cá. Trị giá quyền sử dụng 04 thửa đất và tài sản trên đất là: 2.867.605.385VNĐ (Hai tỷ, tám trăm sáu mươi bẩy triệu, sáu trăm linh năm nghìn, ba trăm tám mươi lăm đồng).

+ Được quyền sở hữu 01 xe ô tô HYUNDAI loại chở hàng 04 dàn bánh màu sơn trắng. Biển kiểm soát: 29C-858.79, đăng ký xe mang tên chị Đặng Thị H, trị giá là: 1.000.000.000VNĐ (Một tỷ đồng).

Nguyễn Văn T được hưởng khoản tiền chênh lệch về tài sản do chị H thanh toán là 1.500.000.000 VNĐ (Một tỷ, năm trăm triệu đồng).

Tổng giá trị tài sản anh T được hưởng là: 5.367.605.385VNĐ.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Về nghĩa vụ chung:

Nguyên đơn chị Đặng Thị H, bị đơn anh Nguyễn Văn T thống nhất như sau:

Chị Đặng Thị H có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C, tổng số tiền dư nợ tính đến ngày 08/4/2025 là: 4.594.952.698VNĐ (Bốn tỷ, năm trăm chín mươi tư triệu, chín trăm năm mươi hai nghìn, sáu trăm chín mươi tám đồng). Trong đó khoản tiền dư nợ gốc là: 3.976.000.000VNĐ (Ba tỷ, chín trăm bẩy mươi sáu triệu đồng); khoản tiền lãi trong hạn là: 423.166.286VNĐ (Bốn trăm hai mươi ba triệu, một trăm sáu mươi sáu nghìn, hai trăm tám mươi sáu đồng) và khoản tiền nợ lãi quá hạn là: 195.786.412VNĐ (Một trăm chín mươi lăm triệu, bảy trăm tám mươi sáu nghìn, bốn trăm mười hai đồng).

Trường hợp chị Đặng Thị H không thực hiện nghĩa vụ hoàn trả khoản tiền gốc đã vay còn lại và khoản tiền lãi. Ngân hàng Thương mại cổ phần C có quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án dân sự xử lý phát mại tài sản đã thế chấp theo hợp đồng thế chấp tài sản số: 01/2023/ĐTH/HĐBĐ/NHCT180 ngày 30/06/2023 giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần C – Chi nhánh L2 với anh Nguyễn Văn T và chị Đặng Thị H, để thu hồi các khoản nợ theo quy định của pháp luật.

Kể từ ngày Ngân hàng Thương mại cổ phần C có đơn yêu cầu thi hành án, chị Đặng Thị H phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, phát sinh sau ngày 08/4/2025 theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận hợp đồng cho vay hạn mức số 01/2022-HĐCVHM/NHCT180-ĐTH ngày 19 tháng 12 năm 2022 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp, trong hợp đồng cho vay hạn mức số 01/2022-HĐCVHM/NHCT180-ĐTH ngày 19 tháng 12 năm 2022, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng Thương mại cổ phần C thì lãi suất mà chị Đặng Thị H phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C theo mức điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng Thương mại cổ phần C tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Chị Đặng Thị H có nghĩa vụ hoàn trả cho anh Nguyễn Tiến T2 số tiền là 2.000.000.000VNĐ (Hai tỷ đồng).

Chị Đặng Thị H có nghĩa vụ thanh toán cho anh Nguyễn Văn T khoản tiền chênh lệch về tài sản là 1.500.000.000VNĐ (Một tỷ, năm trăm triệu đồng).

Không chấp nhận yêu cầu chia tài sản của anh Nguyễn Văn T đối với khoản tiền bán lợn thành phẩm năm 2022 là: 852.345.000VNĐ (Tám trăm năm mươi hai triệu, ba trăm bốn mươi lăm nghìn).

2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn anh Nguyễn Văn T không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Chị Đặng Thị H phải chịu 300.000VNĐ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm ly hôn; 114.283.482VNĐ (Một trăm mười bốn triệu, hai trăm tám mươi ba nghìn, bốn trăm tám mươi hai đồng ) khoản tiền án phí dân sự sơ thẩm chia tài sản và 57.297.500VNĐ (Năm mươi bẩy triệu, hai trăm chín mươi bảy nghìn, năm trăm sáu mươi sáu đồng) khoản tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với phần nghĩa vụ chung về tài sản. Tổng cộng là: 171.880.982VNĐ (Một trăm bảy mươi mốt triệu, tám trăm tám mươi nghìn, chín trăm tám mươi hai đồng). Nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 60.000.000VNĐ (Sáu mươi triệu đồng) theo biên lai số 000031 ngày 02 tháng 01 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.

Chị Đặng Thị H còn phải tiếp tục nộp thêm khoản tiền án phí dân sự sơ thẩm là: 111.880.982VNĐ (Một trăm mười một triệu, tám trăm tám mươi nghìn, chín trăm tám mươi hai đồng).

Anh Nguyễn Văn T phải chịu 113.367.605VNĐ (Một trăm mười ba triệu, ba trăm sáu mươi bảy nghìn, sáu trăm linh năm đồng) khoản tiền án phí dân sự sơ thẩm chia tài sản; 57.297.500VNĐ (Năm mươi bẩy triệu, hai trăm chín mươi bảy nghìn, năm trăm sáu mươi sáu đồng) khoản tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với phần nghĩa vụ chung về tài sản và 37.570.000VNĐ (Ba mươi bảy triệu, năm trăm bảy mươi nghìn đồng) khoản tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu chia tài sản không được chấp nhận. Tổng cộng là: 208.235.105VNĐ (Hai trăm linh tám triệu, hai trăm ba mươi lăm nghìn, một trăm linh năm đồng). Nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 63.500.000VNĐ (Sáu mươi ba triệu, năm trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0000508 ngày 25 tháng 3 năm 2024 và số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 76.702.345VNĐ (Bẩy mươi sáu triệu, bẩy trăm linh hai nghìn, ba trăm bốn mươi lăm đồng) theo biên lai số 0000652 ngày 24 tháng 7 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai và số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp 300.000 VNĐ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0000834 ngày 15 tháng 10 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai

Tổng cộng số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 140.502.345VNĐ (Một trăm bốn mươi triệu, năm trăm linh hai nghìn, ba trăm bốn mươi lăm đồng). Anh Nguyễn Văn T còn phải tiếp tục nộp thêm khoản tiền án phí dân sự sơ thẩm là: 67.732.760VNĐ (Sáu mươi bảy triệu, bảy trăm ba mươi hai nghìn, bảy trăm sáu mươi nghìn đồng).

Ngân hàng Thương mại cổ phần C không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm, được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 55.980.643VNĐ (Năm mươi lăm triệu, chín trăm tám mươi nghìn, sáu trăm bốn mươi ba đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0000417 ngày 26/02/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.

Anh Nguyễn Tiến T2 không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm, được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 36.000.000VNĐ (Ba mươi sáu triệu đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0000434 ngày 04/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.

4. Về chi phí tố tụng: Anh Nguyễn Văn T phải hoàn trả lại cho chị Đặng Thị H 25.000.000VNĐ (Hai mươi lăm triệu đồng) khoản tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

CÁC THẨM PHÁN

Đặng Phi Long Lương Văn Đ1

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn N1

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Nghĩa

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Lào Cai (2);
  • - TAND thành phố Lào Cai;
  • - Chi cục THADS thành phố lào Cai;
  • - Các đương sự;
  • - NBVQLHP;
  • - Lưu VT, HSVA.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2025/HNGĐ-PT ngày 09/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn

  • Số bản án: 04/2025/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 09/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp chia tài sản khi ly hôn giữa Đặng Thị H và anh Nguyễn Văn T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger