Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CƯ JÚT

TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2025/HNGĐ-ST

Ngày 09/04/2025

“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ JÚT

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nông Thị Hường

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Hoà và bà Nguyễn Thị Thuận

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Dũng – Thư ký TAND huyện Cư Jút.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút tham gia phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Cảnh – c/v: Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 04 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cư Jút tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 226/2024/TLST-HNGĐ, ngày 25 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 18 tháng 03 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Tạ Thị L, sinh năm 1987. Có mặt

Địa chỉ: Thôn A, xã N, huyện C, tỉnh Đắk Nông

- Bị đơn: Anh Phạm Văn B, sinh năm 1983. Có mặt

Địa chỉ: Thôn A, xã N, huyện C, tỉnh Đắk Nông

NỘI DUNG VỤ ÁN:

-Trong đơn khởi kiện ly hôn đề ngày 08/10/2024 và quá trình tố tụng tại Tòa án chị Tạ Thị L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị L kết hôn với anh Phạm Văn B vào năm 2008 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Nam Định. Việc kết hôn do hai bên tự nguyện không bị ai ép buộc gì. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2018 thì xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng không hiểu nhau, không tôn trọng lẫn nhau, vợ chồng thường xuyên cãi vã, mâu thuẫn xảy ra trầm trọng cuộc sống hôn nhân không đạt được, không thể hàn gắn được nữa. Vì vậy, chị L làm đơn ly hôn với anh B.

Về con chung: Chị L, anh B có 02 con chung là cháu Phạm Việt H, sinh này 09/3/2007 và cháu Phạm Trà M, sinh ngày 09/11/2018. Chị L có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu Phạm Trà M đến tuổi trưởng thành; về cấp dưỡng nuôi con, chị L rút đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con đối với cháu M. Đối với cháu Phạm Việt H, sinh này 09/3/2007 đã thành niên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, có khả năng lao động, vì vậy, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

-Tại bản tự khai và Biên bản lấy lời khai ngày 03 tháng 12 năm 2024 bị đơn anh Phạm Văn B trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh B kết hôn với chị L 2008 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Nam Định. Việc kết hôn do hai bên tự nguyện, không bị ai ép buộc gì. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2023 bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, mâu thuẫn đỉnh điểm nhất từ tháng 10/2024, do anh B đọc được tin nhắn của chị L với người đàn ông khác, sau đó chị L làm đơn ly hôn và bỏ nhà đi. Mâu thuẫn vợ chồng đã đỉnh điểm nên nay chị L làm đơn ly hôn amh B đồng ý ly hôn với chị L.

Về con chung: Quá trình chung sống anh B, chị L có hai con chung là cháu Phạm Việt H, sinh này 09/3/2007 và cháu Phạm Trà M, sinh ngày 09/11/2018. Anh B có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu Phạm Trà M đến tuổi trưởng thành; về cấp dưỡng nuôi con: Anh B không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con. Đối với cháu Phạm Việt H, sinh này 09/3/2007 đã thành niên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, có khả năng lao động, vì vậy, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh B không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên tòa, chi Lành xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, anh chị sống ly thân từ cuối năm 2024 cho đến nay nên chị L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị được ly hôn với anh B. Về con chung: do cháu M chậm phát triển so với các bé cùng lứa tuổi, cháu M hay bị tăng động, sau khi hai vợ chồng ly thân chị là người chăm sóc, đưa đón cháu đi học nên chị L yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục cháu Phạm Trà M, sinh ngày 09/11/2018 đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi); chị L rút yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, không yêu cầu giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà, anh B thừa nhận vợ chồng có cãi vã mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, anh B đồng ý ly hôn với chị L. Về con chung: Do cháu M chậm phát triển so với các bé cùng lứa tuổi nên anh B yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục cháu Phạm Trà M đến tuổi trưởng thành; về cấp dưỡng nuôi con: Anh B không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con. Đối với cháu Phạm Việt H, sinh này 09/3/2007 đã thành niên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, có khả năng lao động, vì vậy, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Đại diện VKSND huyện Cư Jút phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; sự tuân theo pháp luật của những người tham gia tổ tụng và nội dung vụ án:

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng từ khâu thụ lý đến trước khi mở phiên tòa; tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng, đầy đủ các trình tự thủ tục quy định; nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Qua xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Tạ Thị L được ly hôn với anh Phạm Văn B.

Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Phạm Trà M, sinh ngày 09/11/2018 cho chị L trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Buộc chị Tạ Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tố tụng: Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án và quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Tạ Thị L khởi kiện ly hôn với anh Phạm Văn B. Chị L yêu cầu Tòa án giải quyết về quan hệ hôn nhân, con chung. Tại thời điểm chị L khởi kiện anh B có nơi cư trú tại thôn A, xã N, huyện C, Đ, giữa các đương sự không có sự thỏa thuận về Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp, vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cư Jút, theo khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
  2. Về chấp hành pháp luật của đương sự: Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật.
  3. Về nội dung:
    1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Tạ Thị L và anh Phạm Văn B kết hôn trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 29/01/2008 đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Nam Định. Đây là hôn nhân hợp pháp, kết hôn đúng theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình.

      Xét yêu cầu ly hôn của chị Tạ Thị L: Năm 2008 chị L, anh B kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2021 thì xảy ra mâu thuẫn do không hợp nhau, không cùng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã mâu thuẫn xảy ra trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không đạt được. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà chị L, anh B thừa nhận tỉnh cảm vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, không thể hàn gắn được nữa, anh chị đã sống ly thân từ cuối năm 2024 cho đến nay. Chị L và anh B đều mong muốn được ly hôn. Điều đó chứng tỏ chị L, anh B đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Tạ Thị L được ly hôn với anh Phạm Văn B.

    2. Về con chung: Chị L, anh B có hai con chung là cháu Phạm Việt H, sinh này 09/3/2007 và cháu Phạm Trà M, sinh ngày 09/11/2018. Cháu Phạm Việt H đã thành niên, chị L, anh B không yêu cầu giải quyết. Chị L có nguyện vọng được nuôi con Phạm Trà M đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con; anh B có nguyện vọng được nuôi con Phạm Trà M đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử thấy, việc nuôi con chung vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của cha, mẹ nên giao con chung cho ai nuôi dưỡng cũng phải đảm bảo con chung được nuôi dạy và phát triển trong điều kiện tốt nhất; Tại phiên toà, chị L và anh B đều thừa nhận cháu M chậm phát triển so với các bé cùng lứa tuổi, cháu hay bị tăng động; chị L, anh B làm nghề lao động tự do như vậy thu nhập của chị L, anh B là ngang nhau; sau khi hai vợ chồng ly thân cháu M do chị L chăm sóc, đưa đón đi học; cháu M là bé gái hiện nay được hơn 06 tuổi lại chậm phát triển nên ở với mẹ sẽ tốt hơn vì mẹ sẽ hiểu tâm lý bé gái và đồng cảm hơn so với cha, mọi sinh hoạt hàng ngày cần sự chăm sóc của mẹ sẽ phù hợp hơn. Do vậy, căn cứ vào các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: giao con chung Phạm Trà M, sinh ngày 09/11/2018 cho chị Tạ Thị L nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành là phù hợp. Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Căn cứ khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử đình chỉ đối với cấp dưỡng nuôi con do nguyên đơn tự nguyện rút.
    3. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
  4. Xét quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút kiểm sát việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự và phát biểu quan điểm về đường lối xử lý là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
  5. Về án phí: Án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), chị L phải nộp toàn bộ án phí theo quy định của pháp luật.
  6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 29, khoản 2 Điều 244, Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Tạ Thị L được ly hôn anh Phạm Văn B.
  2. Về con chung: Giao con chung Phạm Trà M, sinh ngày 09/11/2018 cho chị L trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành.

    Về cấp dưỡng nuôi con: Đình chỉ đối với cấp dưỡng nuôi con do Nguyên đơn tự nguyện rút.

    Sau khi ly hôn chị L, anh B có các quyền, nghĩa vụ theo các Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình như sau:

    • Quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định tại khoản 1 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.
    • Nghĩa vụ, quyền của cha mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình.
    • Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo quy định tại Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.
    • Quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
  4. Về án phí: Buộc chị Tạ Thị L phải nộp số tiền 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0005306, ngày 25 tháng 10 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cư Jut, tỉnh Đăk Nông.
  5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đắk Nông;
  • - VKSND huyện Cư Jút;
  • - Chi cục THADS huyện Cư Jút;
  • - UBND xã Trực Thuận, H. Trực Ninh, T. Nam Định;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Nông Thị Hường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2025/HNGĐ-ST ngày 09/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ JÚT, TỈNH ĐẮK NÔNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 04/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ JÚT, TỈNH ĐẮK NÔNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tạ Thị L "Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn" Phạm Văn B
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger