Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUẢNG TRẠCH

TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 08-4-2025

“V/v Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Kim Dung

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Hoàng Anh Huê
  2. Bà Đậu Thị Phú

Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Tạ Phong Linh – Kiểm sát viên

Ngày 08 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình mở phiên Tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 05/2025/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 01 năm 2025, về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 21/3/2023, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Anh Võ Xuân K; địa chỉ: Tổ B, ấp T, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai. Có đơn xin xử vắng mặt.
  2. Bị đơn: Chị Trịnh Thị Kim S; địa chỉ: Xóm A, thôn S, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình Có đơn xin xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 10/01/2025 và đơn xin xét xử, giải quyết vắng mặt ngày 07/02/2025, nguyên đơn anh Võ Xuân K trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Trịnh Thị Kim S có quá trình tìm hiểu và đi đến hôn nhân trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, đã đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình vào ngày 29/7/1999. Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung không được bao lâu thì giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp tính tình nhau, luôn bất đồng về quan điểm sống, không tôn trọng và không tin tưởng lẫn nhau, thường xuyên cãi vã, xúc phạm nhau dẫn đến đã sống ly thân từ năm 2001 cho đến nay. Vợ chồng không còn quan tâm, lo lắng, chăm sóc cho nhau. Hiện tại anh thấy mâu thuẫn vợ chồng đã căng thẳng, sống ly thân đã lâu nên tình cảm không còn, không thể trở lại sống chung cùng nhau được vì vậy kiên quyết xin ly hôn với chị S để sớm ổn định cuộc sống bản thân.

Về quan hệ con chung: Theo anh K thì giữa vợ chồng có 01 con chung tên Võ Quốc T, sinh ngày 13/3/2000. Hiện con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết

Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Anh K trình bày, giữa vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai chị Trịnh Thị Kim S trình bày: Về quan hệ hôn nhân thì giữa chị và anh Võ Xuân K có quá trình tìm hiểu và đi đến hôn nhân trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, đã đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình vào ngày 29/7/1999. Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung không được bao lâu thì giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp tính tình nhau, luôn bất đồng về quan điểm sống, không tôn trọng và không tin tưởng lẫn nhau, thường xuyên cãi vã, xúc phạm nhau dẫn đến đã sống ly thân từ năm 2001 cho đến nay. Vợ chồng không còn quan tâm, lo lắng, chăm sóc cho nhau. Hiện tại chị cảm thấy mình thật sự không còn tình cảm gì với anh K nửa, không thể tiếp tục cuộc sống chung vợ chồng để xây dựng gia đình hạnh phúc được, nên mong muốn được ly hôn với anh K để sớm ổn định cuộc sống.

Về quan hệ con chung: Theo chị S thì giữa vợ chồng có 01 con chung tên Võ Quốc T, sinh ngày 13/3/2000. Hiện con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết

Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị S trình bày, giữa vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo pháp luật tố tụng. Nguyên đơn, bị đơn có đơn xin xét xử, giải quyết vắng mặt.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Võ Xuân K; về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Võ Xuân K được ly hôn chị Trịnh Thị Kim S; về quan hệ con chung, tài sản chung và nợ chung: Không xem xét; về án phí sơ thẩm: Buộc anh Võ Xuân K phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn để sung vào ngân sách Nhà nước.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Võ Xuân K khởi kiện yêu cầu xin ly hôn đối với chị Trịnh Thị Kim S. Vì vậy, xác định đây là tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Anh Võ Xuân K và chị Trịnh Thị Kim S đã có đơn xin xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn anh Võ Xuân K và bị đơn chị Trịnh Thị Kim S.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Võ Xuân K và chị Trịnh Thị Kim S kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình vào ngày 29/7/1999. Vì vậy quan hệ hôn nhân là hoàn toàn hợp pháp. Sau khi kết hôn lẽ ra vợ chồng cần phải biết thương yêu, tôn trọng, chia sẽ để cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc nhưng giữa anh K và chị S đã không thực hiện được. Nguyên nhân, là do vợ chồng không hợp tính nhau, luôn bất đồng về quan điểm sống, không tôn trọng và không tin tưởng lẫn nhau, do vậy thường xuyên cãi vã, xúc phạm nhau; hai bên đã sống ly thân, không tìm được hướng đi chung, không còn quan tâm, lo lắng gì đến nhau, không còn giải pháp hàn gắn. Anh K, chị S xác định thật sự không còn tình cảm gì với nhau, không thể quay lại để tiếp tục sống chung cùng nhau được nữa mà nguyện vọng xin được ly hôn để sớm ổn định cuộc sống bản thân.

Xét nguyện vọng mong muốn xin được ly hôn của anh K, chị S và xét thấy tình trạng hôn nhân giữa anh K, chị S đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Võ Xuân K. Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, xét xử cho anh Võ Xuân K được ly hôn chị Trịnh Thị Kim S.

[3] Về quan hệ con chung: Giữa anh Võ Xuân K và chị Trịnh Thị Kim S có một con chung tên Võ Quốc T, sinh ngày 13/3/2000. Hiện con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Anh Võ Xuân K và chị Trịnh Thị Kim S thống nhất thừa nhận, vợ chồng không có tài sản chung, không vay nợ của ai cũng như không cho ai vay nợ nên không yêu cầu giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc anh Võ Xuân K phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn để nộp sung vào ngân sách Nhà nước.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Võ Xuân K.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Võ Xuân K được ly hôn chị Trịnh Thị Kim S.
  2. Về quan hệ con chung: Không xem xét.
  3. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.
  4. Về án phí sơ thẩm: Buộc anh Võ Xuân K phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn để nộp sung vào ngân sách Nhà nước. Số tiền án phí anh K phải chịu trên được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà anh đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình theo biên lai thu số 0002039, ngày 18/01/2025.

Báo cho nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Bình;
  • - VKSND huyện Quảng Trạch;
  • - Chi cục THADS huyện Quảng Trạch;
  • - UBND xã Quảng Tùng;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Thị Kim Dung

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2025/HNGĐ-ST ngày 08/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH về ly hôn

  • Số bản án: 04/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger