TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 04/2025/HNGĐ-ST Ngày 26/3/2025 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Như
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Phùng Xuân Thu
Ông Bùi Vạn Huynh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Kim Chi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Võ Hồng Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 449/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lâm Thị Bích V, sinh năm 1975, nơi cư trú: 383 Phạm Văn Đ, tổ dân phố P, thị trấn C, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi.
Bị đơn: Ông Đặng Thanh M, sinh năm 1973, nơi cư trú: Số F N, phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.
Bà V và ông M có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 08/8/2024 và các tài liệu có tại hồ sơ, nguyên đơn bà Lâm Thị Bích V trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Đặng Thanh M tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào ngày 25/3/2009 tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Q. Sống được một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, do khác nhau về lối sống làm tình cảm vợ chồng rạn nứt, không thể hòa hợp, không quan tâm, chăm sóc, vợ chồng phần ai nấy sống. Nay, nhận thấy giữa bà và ông M đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà và ông Đặng Thanh M được ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Đặng Lâm Như Ý, sinh ngày 05/6/2014. Hiện nay cháu đang sinh sống với bà. Khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi cháu Ý, không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Bị đơn ông Đặng Thanh M trình bày: Ông đồng ý ly hôn với bà Lâm Thị Bích V. Về con chung cháu Đặng Lâm Như Ý, khi ly hôn ông đồng ý giao con cho bà V nuôi, ông không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung không có và ông đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đảm bảo được quyền lợi của các đương sự trong vụ án. Việc chấp hành pháp luật của các đương sự đúng theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 28, 35, 68, 203, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lâm Thị Bích V. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lâm Thị Bích V được ly hôn ông Đặng Thanh M; về con chung: Giao cháu Đặng Lâm Như Ý, sinh ngày 05/6/2014 cho bà V trực tiếp nuôi, ông M không phải cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung, nợ chung: Không có. Về án phí: Giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Lâm Thị Bích V và bị đơn ông Đặng Thanh M có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Lâm Thị Bích V và bị đơn ông Đặng Thanh M tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào ngày 25/3/2009 tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Q theo trích lục kết hôn số 163/TLKH-BS ngày 02/8/2024 nên quan hệ hôn nhân giữa bà V và ông M là hợp pháp.
Bà Lâm Thị Bích V trình bày quá trình chung sống giữa bà và ông M xảy ra mâu thuẫn do khác nhau về lối sống làm tình cảm vợ chồng rạn nứt, không thể hòa hợp, không quan tâm, chăm sóc, vợ chồng phần ai nấy sống, nên yêu cầu được ly hôn với ông M. Ông M có văn bản trình bày đồng ý ly hôn với bà V. Do đó, có đủ cơ sở xác định tình trạng hôn nhân giữa bà V và ông M lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà V và cho bà V ly hôn với ông M.
[2.2] Về con chung: Bà V và ông M có 01 con chung là cháu Đặng Lâm Như Ý, sinh ngày 05/6/2014. Hiện nay cháu Ý đang sinh sống với bà V. Khi ly hôn bà V yêu cầu được nuôi cháu Ý. Ông M cũng đồng ý giao con cho bà V nuôi. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của bà V, giao cháu Đặng Lâm Như Ý cho bà V trực tiếp nuôi.
Bà V không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không giải quyết. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lâm Thị Bích V và ông Đặng Thanh M đều trình bày không có.
[3] Về án phí: Bà Lâm Thị Bích V phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà V đã nộp.
[4] Đối với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi về thủ tục tố tụng và nội dung là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 26, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lâm Thị Bích V
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lâm Thị Bích V được ly hôn ông Đặng Thanh M.
- Về con chung: Giao 01 con chung là cháu Đặng Lâm Như Ý, sinh ngày 05/6/2014 cho bà Lâm Thị Bích V trực tiếp nuôi. Bà V không yêu cầu ông Đặng Thanh M cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lâm Thị Bích V và bị đơn ông Đặng Thanh M đều trình bày không có
- Về án phí: Bà Lâm Thị Bích V phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà V đã nộp theo biên lai thu tiền số 0003699 ngày 31/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Như |
Bản án số 04/2025/HNGĐ-ST ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 04/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lam Thi Bich V- Đang Thanh M- Ly hôn, tranh chấp vê nuôi con
