|
TÒA ÁN ND QUẬN HOÀN KIẾM THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 04/2025/DS-ST Ngày: 21/03/2025 “V/v: Tranh chấp phát sinh từ Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hiền Hòa
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Lê Hổ Bình
- Bà Đào Phương Mai
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Mai - Thư ký Tòa án quận Hoàn Kiếm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hiền - Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội, mở phiên tòa công khai, xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 215/DSST ngày 09/12/2024, về việc “Tranh chấp phát sinh từ Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng” - theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2025/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2025/QÐST-DS ngày 28 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Á (A)
Địa chỉ: D N, phường E, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Ông Từ Tiến P - Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Phạm Thị T - Chức vụ: Giám đốc xử lý nợ.
Bà T ủy quyền tham gia tố tụng cho: Bà Nguyễn Thị T1 - Chức vụ: Nhân viên xử lý nợ.
(Theo Giấy ủy quyền số 969/UQ-CNTL.25 ngày 17/03/2025)
(Bà T1 có mặt)
* Bị đơn: Ông Nguyễn Đức Đ, sinh năm 1992
Hộ khẩu thường trú: Tổ E, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội.
(Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Tại Đơn khởi kiện và các Bản tự khai tại Toà án, bà Ma Thị Ngọc M là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Á trình bày:
Ngày 17/11/2022 ông Nguyễn Đức Đ có ký với Ngân hàng TMCP Á (viết tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông Nguyễn Đức Đ, Ngân hàng đã đồng ý cấp Thẻ tín dụng số 436599 - 1385, cụ thể:
- + Hạn mức sử dụng: 100.000.000 đồng;
- + Mục đích sử dụng: Vay tiêu dùng;
- + Hiệu lực thẻ: Tháng 11/2025
Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông Nguyễn Đức Đ đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 204.971.665 đồng.
Trong quá trình thực hiện Hợp đồng, từ ngày kích hoạt Thẻ đến ngày 24/10/2023 ông Nguyễn Đức Đ đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 107.460.781 đồng, cụ thể theo từng thời điểm như sau:
- - Ngày 11/01/2023, thanh toán 400.000 đồng;
- - Ngày 14/03/2023, thanh toán 100.000.000 đồng;
- - Ngày 19/04/2023, thanh toán 10.780 đồng;
- - Ngày 27/04/2023, thanh toán 7.043.473 đồng;
- - Ngày 19/06/2023, thanh toán 6.528 đồng;
Thứ tự thanh toán áp dụng theo Điều 27 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, kể từ ngày chuyển nợ quá hạn sẽ thanh toán theo thứ tự gốc trước, lãi sau.
Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông Nguyễn Đức Đ vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông Nguyễn Đức Đ vi phạm nghĩa vụ thanh toán (theo Điều 10 khoản 10.1 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 20/10/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng Thẻ của ông Nguyễn Đức Đ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 10 khoản 10.1 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).
Lãi quá hạn: 45%/năm, cụ thể như sau:
Lãi suất quá hạn được tính trên số tiền nợ gốc 97.517.412 đồng. Lãi quá hạn: 45%/năm x 97.517.412 đồng x số ngày (tính từ ngày 20/10/2023 đến ngày 15/01/2025) = 453 ngày: 365/năm = 54.462.804 đồng (Theo khoản 5.5 Điều 5 Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng và Công văn số 343 ngày 28/9/2020 kèm Phụ lục 3: Biểu phí lãi suất Thẻ tín dụng cá nhân có hiệu lực kể từ ngày 15/4/2021 và Công văn số 343 ngày 28/9/2020 kèm Phụ lục 3 Biểu phí lãi suất Thẻ tín dụng cá nhân có hiệu lực kể từ ngày 14/7/2023).
Tính đến ngày 15/01/2025 ông Nguyễn Đức Đ còn nợ Ngân hàng tổng số tiền nợ gốc, nợ lãi là 172.032.776 đồng, trong đó nợ gốc là 117.569.972 đồng; nợ lãi là 54.462.804 đồng.
Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu ông Đ có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng, tuy nhiên ông Đ vẫn không thanh toán cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký.
Do đó, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng, Ngân hàng đã làm đơn khởi kiện ông Nguyễn Đức Đ1 đến Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, đề nghị Tòa án giải quyết những nội dung sau:
- Buộc ông Nguyễn Đức Đ thanh toán trả cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày 15/01/2025 là 172.032.776 đồng, trong đó:
- + Nợ gốc là 117.569.972 đồng
- + Nợ lãi quá hạn là: 54.462.804 đồng
- Buộc ông Nguyễn Đức Đ còn phải tiếp tục trả tiền lãi quá hạn phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng và Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng tính kể từ ngày 16/01/2025 đến ngày trả hết nợ cho Ngân hàng.
* Bị đơn - ông Nguyễn Đức Đ: đã được Tòa án tổng hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng để ông Đ biết những vấn đề cụ thể mà Ngân hàng TMCP Á yêu cầu Tòa án giải quyết, đồng thời triệu tập ông Đ đến Tòa án để thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn. Tuy nhiên, ông Đ không có mặt theo thông báo triệu tập của Tòa án để viết bản tự khai, không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của Ngân hàng, không cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ, không chứng minh để tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình, không đưa ra yêu cầu phản tố, không tham gia phiên họp, phiên hòa giải, phiên tòa. Do ông Đ không thực hiện nghĩa vụ của đương sự nên phải chịu hậu quả theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ mà Ngân hàng giao nộp và do Tòa án thu thập theo quy định tại Điều 97 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa:
* Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà M trình bày:
Nguyễn đơn Ngân hàng T2 vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như đã trình bày ở trên, đề nghị Tòa án giải quyết những nội dung sau:
- Buộc ông Nguyễn Đức Đ thanh toán trả cho Ngân hàng tổng số nợ còn thiếu tính đến ngày 21/3/2025 là 179.847.528 đồng (Một trăm bảy mươi chín triệu, tám trăm bốn mươi bảy nghìn, năm trăm hai mươi tám đồng), trong đó:
- + Nợ gốc: 117.569.972 đồng
- + Nợ lãi quá hạn: 62.277.556 đồng
- Buộc ông Nguyễn Đức Đ còn phải tiếp tục trả tiền lãi quá hạn phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng và Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng tính kể từ ngày 22/3/2025 đến ngày trả hết nợ. Ngoài ra nguyên đơn không có yêu cầu gì khác.
* Bị đơn ông Nguyễn Đức Đ: đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và quan điểm giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng, thu thập chứng cứ, đảm bảo đúng các thủ tục tố tụng khác, việc chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát đầy đủ, đúng quy định, đảm bảo đúng thời hạn xét xử. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản, thông báo, quyết định hợp lệ. Tòa án đã hoãn phiên tòa lần 1. Tại phiên tòa lần 2, bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Á. Buộc ông Nguyễn Đức Đ phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày 21/3/2025 là 179.847.528 đồng, trong đó: Nợ gốc là 117.569.972 đồng và nợ lãi quá hạn là 62.277.556 đồng.
Bị đơn ông Nguyễn Đức Đ còn phải tiếp trục trả khoản lãi phát sinh cho Ngân hàng theo lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng, kể từ ngày kế tiếp của ngày xét xử sơ thẩm cho đến ngày ông Đ thanh toán hết khoản nợ cho Ngân hàng.
Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1]. Về thẩm quyền, quan hệ pháp luật và thủ tục tố tụng:
1.1 Về thẩm quyền:
Xét thấy: Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Á khởi kiện tranh chấp phát sinh từ Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đến Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm là nơi giải quyết tranh chấp theo nơi đăng ký nhân khẩu thường trú của bị đơn ông Nguyễn Đức Đ tại địa chỉ số T, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
1.2 Về quan hệ pháp luật:
Ngân hàng TMCP Á khởi kiện ông Nguyễn Đức Đ yêu cầu Tòa án tuyên ông Đ phải trả số tiền nợ gốc và lãi theo các Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký kết. Số tiền tranh chấp phát sinh từ các Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký kết giữa các bên. Do đó quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp phát sinh từ Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
1.3 Về thủ tục tố tụng:
Về việc xét xử vắng mặt bị đơn ông Nguyễn Đức Đ: theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện bị đơn ông Nguyễn Đức Đ có khẩu thường trú tại địa chỉ tổ E, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành xác minh Công an phường P cung cấp cho Tòa án biết: “Ông Nguyễn Đức Đ; sinh năm 1992 có hộ khẩu thường trú tại địa chỉ số T, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội. Hiện ông Đ không còn ăn ở, sinh hoạt tại đây, đã chuyển đi đâu không rõ”. Đến nay, ông Đ đi đâu không rõ mà không thông báo nơi cư trú mới cho nguyên đơn và cơ quan, người có thẩm quyền là thuộc trường hợp “cố tình giấu địa chỉ” theo điểm e khoản 1 Điều 192 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, quy định: “trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng họ không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú, trụ sở mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện thì Thẩm phán không trả lại đơn khởi kiện mà xác định người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cố tình giấu địa chỉ và tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung” và xác định địa chỉ số T, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội là địa chỉ cư trú cuối cùng của ông Đ theo quy định tại khoản 3 Điều 5, Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, Tòa án tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung.
Bị đơn ông Nguyễn Đức Đ không đến Tòa án. Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các Thông báo, quyết định của Tòa án yêu cầu ông Đ đến Tòa án làm việc và các Quyết định, Thông báo khác theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự để triệu tập đương sự nhưng ông Đ vẫn vắng mặt không có lý do tại tất cả các buổi làm việc của Toà án. Do ông Đ không thực hiện nghĩa vụ của đương sự nên phải chịu hậu quả theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ mà Ngân hàng giao nộp và do Tòa án thu thập theo quy định tại Điều 97 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để giải quyết vụ án.
Tòa án đã có Quyết định đưa vụ án ra xét xử vào hồi 08h30' ngày 28/02/2025 nhưng bị đơn ông Đ vẫn vắng mặt không có lý do. Tòa án đã có Quyết định hoãn phiên tòa và ấn định thời gian xét xử vụ án vào hồi 08h30' ngày 21/3/2025. Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn ông Đ vẫn vắng mặt không có lý do.
Đồng thời, Tòa án đã áp dụng Điều 180 của Bộ luật tố tụng dân sự để nguyên đơn tiến hành thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng về thời gian tham gia phiên tòa, nhưng Ngân hàng có Văn bản về việc từ chối đăng tin. Tòa án đã tiến hành thủ tục đăng tin trên cổng thông tin điện tử của Tòa án về thời gian mở phiên tòa, nhưng tại phiên tòa hôm nay bị đơn ông Nguyễn Đức Đ vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông Đ là có căn cứ và đúng quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2]. Về nội dung và hiệu lực của Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng:
Ngày 17/11/2022 ông Nguyễn Đức Đ có ký với Ngân hàng TMCP Á Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông Nguyễn Đức Đ, A đã đồng ý cấp Thẻ tín dụng số 436599 - 1385, với hạn mức sử dụng là 100.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Hai bên ký hợp đồng tự nguyện, người ký kết là người có thẩm quyền và có đầy đủ năng lực hành vi dân sự theo pháp luật. Hợp đồng có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết. Các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng như cam kết.
Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông Đ đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 204.971.665 đồng. Trong quá trình thực hiện Hợp đồng, từ ngày kích hoạt Thẻ đến ngày 24/10/2023 ông Nguyễn Đức Đ đã thanh toán cho A số tiền 107.460.781 đồng, cụ thể theo từng thời điểm như sau:
- - Ngày 11/01/2023, thanh toán 400.000 đồng;
- - Ngày 14/03/2023, thanh toán 100.000.000 đồng;
- - Ngày 19/04/2023, thanh toán 10.780 đồng;
- - Ngày 27/04/2023, thanh toán 7.043.473 đồng;
- - Ngày 19/06/2023, thanh toán 6.528 đồng;
Thứ tự thanh toán áp dụng theo Điều 27 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của A, kể từ ngày chuyển nợ quá hạn sẽ thanh toán theo thứ tự gốc trước, lãi sau.
Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông Nguyễn Đức Đ vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông Nguyễn Đức Đ vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều nào tại Hợp đồng nào), ngày 20/10/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng Thẻ của ông Nguyễn Đức Đ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 21 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).
Lãi quá hạn: 45%/năm, cụ thể như sau:
Lãi suất quá hạn được tính trên số tiền nợ gốc 97.517.412 đồng. Lãi quá hạn: 45%/năm x 97.517.412 đồng x số ngày (tính từ ngày 20/10/2023 đến ngày 15/01/2025) = 453 ngày: 365/năm = 54.462.804 đồng (Theo khoản 5.5 Điều 5 Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng và Công văn số 343 ngày 28/9/2020 kèm Phụ lục 3: Biểu phí lãi suất Thẻ tín dụng cá nhân có hiệu lực kể từ ngày 15/4/2021 và Công văn số 343 ngày 28/9/2020 kèm Phụ lục 3 Biểu phí lãi suất Thẻ tín dụng cá nhân có hiệu lực kể từ ngày 14/7/2023).
Tính đến ngày xét xử 21/3/2025 ông Đ còn nợ Ngân hàng tổng cộng cả gốc và lãi là 179.847.528 đồng (Một trăm bảy mươi chín triệu, tám trăm bốn mươi bảy nghìn, năm trăm hai mươi tám đồng), trong đó: Nợ gốc là 117.569.972 đồng và nợ lãi quá hạn là 62.277.556 đồng.
Ngân hàng đề nghị Tòa án buộc ông Đ phải trả cho Ngân hàng toàn bộ khoản tiền nợ gốc và tiền lãi quá hạn như Ngân hàng đã tính toán nêu trên theo Hợp đồng các bên đã cam kết và buộc ông Đ phải tiếp tục chịu lãi suất cho đến khi tất toán xong toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng.
Từ căn cứ và nhận định nêu trên, xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên được chấp nhận. Buộc ông Nguyễn Đức Đ phải trả cho Ngân hàng TMCP Á số tiền tạm tính đến ngày 21/3/2025 là 179.847.528 đồng (Một trăm bảy mươi chín triệu, tám trăm bốn mươi bảy nghìn, năm trăm hai mươi tám đồng), trong đó: Nợ gốc là 117.569.972 đồng và nợ lãi quá hạn là 62.277.556 đồng.
Ông Đ còn phải tiếp tục trả tiền lãi suất tính từ ngày 22/3/2025 đến khi ông Đ tất toán xong toàn bộ số nợ cho Ngân hàng.
[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn ông Nguyễn Đức Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận.
Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Á không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận. Nguyên đơn được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[4]. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 179; Điều 180; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 235; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- - Điều 280; Điều 429; Điều 466; Điều 468; Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015;
- - Điều 90; Điều 91; Điều 95; Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng;
- - khoản 3 Điều 5, Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- - Điều 2; Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008;
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Á đối với bị đơn ông Nguyễn Đức Đ, về việc “Tranh chấp phát sinh từ Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng”.
- Buộc bị đơn ông Nguyễn Đức Đ phải trả cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP Á tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm 21/3/2025 là 179.847.528 đồng (Một trăm bảy mươi chín triệu, tám trăm bốn mươi bảy nghìn, năm trăm hai mươi tám đồng), trong đó:
- + Nợ gốc là 117.569.972 đồng
- + Nợ lãi quá hạn là 62.277.556 đồng
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, kể từ sau ngày tuyên án sơ thẩm theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng cho đến khi tất toán xong toàn bộ số nợ.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bị đơn ông Nguyễn Đức Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 8.992.000 đồng (Tám triệu, chín trăm chín mươi hai nghìn đồng).
- Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Á không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại nguyên đơn Ngân hàng TMCP Á 3.760.000 đồng (Ba triệu, bảy trăm sáu mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí mà Ngân hàng đã nộp theo Biên lai số 0069169 ngày 06/12/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội.
- Quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai có mặt bà Nguyễn Thị T1 là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Á, vắng mặt bị đơn ông Nguyễn Đức Đ.
Tòa án báo cho nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn ông Nguyễn Đức Đ vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Hiền Hòa |
Bản án số 04/2025/DS-ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp phát sinh từ hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng
- Số bản án: 04/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp phát sinh từ Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP A. và ông Nguyễn Đức Đ. tranh chấp phát sinh từ hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng
