TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI LĂNG TỈNH QUẢNG TRỊ Bản án số: 04/2025/HNGĐ-ST Ngày 18/3/2025 “V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI LĂNG, TỈNH QUẢNG TRỊ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Hoan
Các Hội thẩm nhân dân: + Bà Trương Thị Kim Anh
+ Bà Phạm Thị Tuyết
Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Kim Hưng – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Lăng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phúc Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 130/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2025/QĐXX-HNGĐ ngày 04 tháng 02 năm 2025, Quyết định hoãn phiên toà số 04/2025/QĐÐST-HNGĐ ngày 26/02/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Võ Thị X, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn M, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Trần Như Ý, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn M, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 11/11/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, chị Võ Thị X trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Như Ý kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào ngày 01/6/2018 tại Ủy ban nhân dân thị trấn Á, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam. Trong quá trình chung sống, vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, cãi vã không thể hàn gắn, nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau. Chị và anh Ý không chung sống với nhau từ tháng 7/2024 cho đến nay. Chị X xác định không còn tình cảm nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Như Ý.
Về nuôi con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Trần Nhất Minh L, sinh ngày 07/5/2019. Chị X có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Minh L. Không yêu cầu anh Ý phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 04/12/2024 và tại các phiên hoà giải ngày 16/12/2024, ngày 23/12/2024, bị đơn anh Trần Như Ý trình bày:
Quá trình vợ chồng chung sống có xảy ra mâu thuẫn nhưng không đến mức trầm trọng, anh mong muốn xin được đoàn tụ. Về con chung: Có 01 con chung là cháu Trần Nhất Minh L, sinh ngày 07/5/2019. Trường hợp phải ly hôn thì anh Ý đề nghị Toà án giải quyết việc nuôi con chung theo quy định của pháp luật. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 28, 35, 39, 68, 96, 97, 175, 177, 178, 195, 196, 203, 220 của Bộ luật Tố tụng dân sự, cụ thể: Xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, quan hệ tranh chấp, tư cách tham gia tố tụng, xác minh, thu thập chứng cứ, tuân thủ quy định của pháp luật về thời hạn thụ lý vụ án, thời hạn chuẩn bị xét xử và thực hiện việc chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát trước khi tham gia phiên tòa. Thư ký thực hiện việc tống đạt hợp lệ tất cả văn bản tố tụng cho đương sự.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 và 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại các Điều 70 và 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên toà mà không có lý do. Vì vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng quy định.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện, cho chị Võ Thị X được ly hôn với anh Trần Như Ý.
Về nuôi con chung: Giao cháu Trần Nhất Minh L, sinh ngày 07/5/2019 cho chị Võ Thị X trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Trần Như Ý không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
Về án phí: Chị Võ Thị X phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Sau khi xem xét yêu cầu của nguyên đơn, xác định đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú thôn M, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng theo quy định tại khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ tất cả các văn bản tố tụng cho nguyên đơn và bị đơn. Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan hệ hôn nhân: Qua xem xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy rằng: Chị X và anh Ý kết hôn trên cơ sở tự nguyện tại Ủy ban nhân dân thị trấn Á, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam vào ngày 01/6/2018, trong quá trình chung sống, vợ chồng thường xảy ra mẫu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau. Tại biên bản xác minh ngày 04/12/2024, Hội liên hiệp phụ nữ xã H cung cấp thông tin: Trong sinh hoạt hàng ngày, do bất đồng quan điểm sống nên giữa chị X và anh Ý thường xảy ra mâu thuẫn, hiện nay vợ chồng sống ly thân. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, anh Ý chỉ đến gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải và xin được đoàn tụ nhưng chị X kiên quyết xin ly hôn.
Xét thấy, mục đích hôn nhân giữa chị X và anh Ý không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Vì vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Võ Thị X.
- Về nuôi con chung: Chị X và anh Ý có 01 con chung là cháu Trần Nhất Minh L, sinh ngày 07/5/2019. Chị X có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Minh L, không yêu cầu anh Ý phải cấp dưỡng nuôi con. Chị X cũng đã cung cấp cho Toà án bảng lương của bản thân với mức lương trên 6.000.000đồng/tháng. Tại biên bản xác minh ngày 04/12/2024, Hội liên hiệp phụ nữ xã H cung cấp thông tin: Chị Võ Thị X là giáo viên Mầm non của trường Mầm non xã H, cháu Minh L hiện nay đang sinh sống với chị X. Thấy rằng, cháu Minh L đang còn nhỏ, cần được sự chăm sóc của người mẹ, chị X có công việc ổn định, có đủ điều kiện để nuôi dưỡng, chăm sóc con cái. Vì vậy, giao cháu Trần Nhất Minh L cho chị X trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là hợp lý, anh Trần Như Ý không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Võ Thị X và anh Trần Như Ý đều không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Chị Võ Thị X phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị X được ly hôn anh Trần Như Ý.
- Về nuôi con chung: Giao cháu Trần Nhất Minh L, sinh ngày 07/5/2019 cho chị Võ Thị X trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Trần Như Ý không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Võ Thị X phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng tại biên lai thu số 0000311 ngày 26/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Lăng. Chị X đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đức Hoan |
Bản án số 04/2025/HNGĐ-ST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI LĂNG, TỈNH QUẢNG TRỊ về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 04/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI LĂNG, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ Võ Thị X-Trần Nh ly hôn, nuôi con
