|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU – TP. ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 04/2025/HNGĐ-ST Ngày: 17/3/2025 V/v "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP. ĐÀ NẴNG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phan Thị Huệ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Sanh
Ông Phạm Công Lương
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Trâm- Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ly Na- Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 17/3/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 208/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn, chia tài sản khi ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/QĐXXST-HNGĐ ngày 03/3/2025, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Nguyễn Phước Uyên T - sinh năm 1981 (Có mặt)
* Bị đơn: Ông Lê Văn L - sinh năm 1981 (Có mặt)
Cùng địa chỉ: A Ỷ, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn là bà Nguyễn Phước Uyên T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Lê Văn L tự nguyện kết hôn vào năm 2006, có đăng ký kết hôn tại UBND phường H (nay là phường B), quận H, thành phố Đà Nẵng theo Giấy chứng nhận kết hôn số 15 ngày 07/3/2006.
Sau kết hôn, vợ chồng sống tại địa chỉ A Ỷ, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2024 thì xảy ra mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, không hoà hợp, vợ chồng không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi nhau. Từ tháng 6 năm 2024 bà T đã đưa con gái về nhà cha mẹ ruột bà sống tại địa chỉ 5 Ông Í, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng còn ông L và con trai Lê Nguyễn Hoàng Q sống tại nhà riêng của vợ chồng tại địa chỉ A Ỷ, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay không ai có trách nhiệm gì với nhau. Nay bà T xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Lê Văn L.
- Về con chung: Bà và ông Lê Văn L có 02 con chung là Lê Nguyễn Hoàng L1, sinh ngày 10/5/2009 và Lê Nguyễn Hoàng Q, sinh ngày 06/9/2010. Ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung Lê Nguyễn Hoàng L1 và Lê Nguyễn Hoàng Q và yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi 02 con mỗi tháng 5.000.000 đồng (mỗi con 2.500.000 đồng) cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
- Về tài sản chung: Bà và ông Lê Văn L có tài sản chung là nhà và đất tại A Ỷ, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng bà yêu cầu Tòa án giải quyết giao nhà và đất cho trên ông L, ông L thối trả lại cho bà 50%. Ngày 07/01/2025 bà đã có đơn rút yêu cầu chia tài sản chung là nhà và đất trên để bà và ông L tự thỏa thuận không yêu cầu tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Bà xác định bà và ông L không có nợ chung, không yêu cầu tòa án giải quyết.
* Tại bản tự khai, trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa ông Lê Văn L trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông thống nhất với trình bày của bà T về thời gian kết hôn, điều kiện kết hôn cũng như nơi chung sống của vợ chồng sau khi kết hôn. Về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng, ông xác định trong quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn nhưng không trầm trọng vẫn có thể hàn gắn được, ông vẫn còn yêu thương vợ con và có trách nhiệm với gia đình mong Tòa án hòa giải cho vợ chồng ông được đoàn tụ.
- Về con chung: Ông xác nhận vợ chồng ông có 02 con chung là Lê Nguyễn Hoàng L1, sinh ngày 10/5/2009 và Lê Nguyễn Hoàng Q, sinh ngày 06/9/2010. Ông không đồng ý ly hôn nên ông không có ý kiến với con chung. Trường hợp Tòa án giải quyết cho ly hôn ông có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng dưỡng 02 con chung không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con chung
- Về tài sản chung: Ông xác định ông và bà Nguyễn Phước Uyên T có tài sản chung là nhà và đất tại A Ỷ, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. Bà T rút yêu cầu chia tài sản chung nên ông không có ý kiến gì đối với tài sản chung.
- Về nợ chung: Ông xác định ông và bà Nguyễn Phước Uyên T không có nợ chung và không có ý kiến gì.
* Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, phát biểu:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng kể từ khi Tòa án thụ lý cho đến trước khi HĐXX vào nghị án là đảm bảo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Tòa án áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Phước Uyên T đối với ông Lê Văn L.
Về quan hệ hôn nhân: Xử: Cho bà Nguyễn Phước U Thư được ly hôn đối với ông Lê Văn L.
Về con chung: Giao con chung Lê Nguyễn Hoàng L1, sinh ngày 10/5/2009 cho bà Nguyễn Phước U Thư trực tiếp nuôi dưỡng và giao con chung Lê Nguyễn Hoàng Q, sinh ngày 06/9/2010 cho ông Lê Văn L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Ông L và bà T không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
Về tài sản chung: Nguyên đơn có đơn rút yêu cầu chia tài sản là nhà và đất tại A Ỷ, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, đề nghị HĐXX đình chỉ xem xét, giải quyết đối với yêu cầu này
Về nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX có đủ cơ sở để nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của bà Nguyễn Phước Uyên T và ông Lê Văn L là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại các Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Phước Uyên T và ông Lê Văn L đăng ký kết hôn tại UBND phường H (nay là phường B), quận H, thành phố Đà Nẵng theo giấy chứng nhận kết hôn số 15, ngày 07/03/2006, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Xét thấy, hôn nhân giữa hai ông bà phù hợp với các quy định của pháp luật về điều kiện và thủ tục kết hôn, nên đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Bà Nguyễn Phước Uyên T cho rằng sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng luôn bất đồng quan điểm, sống không hoà hợp, không có tiếng nói chung, vợ chồng thường xuyên cãi nhau nên từ tháng 6 năm 2024 đến nay vợ chồng sống ly thân nhau, bà T cùng cháu Lê Nguyễn Hoàng L1 về sống cùng ba mẹ ruột bà tại tại địa chỉ 5 Ông Í, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng còn ông L và con trai Lê Nguyễn Hoàng Q sống tại nhà riêng của vợ chồng tại địa chỉ A Ỷ, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. Từ đó đến nay vợ chồng phần ai nấy sống, không ai quan tâm đến ai, không có trách nhiệm gì với nhau. Quá trình giải quyết Toà án đã hoà giải nhiều lần và tại phiên toà bà T xác định không còn tình cảm với ông L cương quyết yêu cầu Toà án giải quyết cho bà được ly hôn. Tại biên bản xác minh do Tổ trưởng tổ E, phường H Bắc cung cấp vợ chồng bà T và ông L có sinh sống tại địa phương, quá trình chung sống tại địa phương bà T và ông L có mâu thuẫn với nhau không địa phương không rõ nhưng hiện tại chỉ có ông L và cháu Nguyễn Hoàng Q sống tại địa chỉ A Ỷ, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, còn bà T và cháu Lê Nguyễn Hoàng L1 đi đâu địa phương không rõ. Đối với ông Lê Văn L không đồng ý ly hôn với bà Nguyễn Phước Uyên T, ông thừa nhận vợ chồng có mâu thuẩn nhưng ông vẫn còn yêu thương vợ con, ông L nhiều lần nói bà T quay về chung sống hàn gắn tình cảm vợ chồng để nuôi dạy con cái nhưng bà T không đồng ý và ông L cũng không có giải pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng và bỏ mặc mâu thuẫn.
Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa bà Nguyễn Phước Uyên T và ông Lê Văn L thực tế đã có mâu thuẫn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Phước Uyên T đối với ông Lê Văn L.
Về con chung: Bà Nguyễn Phước Uyên T và ông Lê Văn L xác định có 02 con chung là Lê Nguyễn Hoàng L1, sinh ngày 10/5/2009 và Lê Nguyễn Hoàng Q, sinh ngày 06/9/2010.
Ly hôn, bà T và ông L đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung Lê Nguyễn Hoàng L1 và Lê Nguyễn Hoàng Q, bà T yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 5.000.000 đồng (mỗi con 2.500.000 đồng) cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Ông L không yêu cầu bà T phải cấp dưỡng nuôi 02 con chung con.
Xét thấy, cha mẹ đều có quyền trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng con cái, ông L và bà T đều có điều kiện để nuôi dưỡng con chung. Hiện cháu Lê Nguyễn Hoàng L1, sinh ngày 10/5/2009 đang ở cùng với bà T và cháu Lê Nguyễn Hoàng Q, sinh ngày 06/9/2010 đang ở với ông L từ khi vợ chồng sống ly thân cho đến nay, do đó để không làm ảnh hưởng phát triển ổn định, toàn diện và học tập của các cháu, không làm xáo trộn cuộc sống của các cháu nên HĐXX xử giao con chung Lê Nguyễn Hoàng L1, sinh ngày 10/5/2009 cho bà Nguyễn Phước U Thư trực tiếp nuôi dưỡng và giao con chung Lê Nguyễn Hoàng Q, sinh ngày 06/9/2010 cho ông Lê Văn L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi là phù hợp không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con cho bên nào. Ly hôn, các bên vẫn có quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung: Bà T đã có đơn rút yêu cầu chia tài sản chung, ông L không có ý kiến gì nên HĐXX đình chỉ xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Bà Nguyễn Phước Uyên T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[3]Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng bà Nguyễn Phước Uyên T phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Nguyễn Phước Uyên T đã nộp tại biên lai thu số 0004800 ngày 21/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Hải Châu. Hoàn trả cho bà Nguyễn Phước Uyên T số tiền 20.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí chia tài sản chung bà T đã nộp tại biên lai thu số 0004800 ngày 21/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
[4] Xét những đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tại phiên tòa hôm nay là có cơ sở, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam.
Căn cứ Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự năm 201.5
Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn, chia tài sản khi ly hôn” của bà Nguyễn Phước Uyên T đối với ông Lê Văn L.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Phước U Thư được ly hôn đối với ông Lê Văn L.
- Về con chung: Giao con chung Lê Nguyễn Hoàng L1, sinh ngày 10/5/2009 cho bà Nguyễn Phước U Thư trực tiếp nuôi dưỡng và giao con chung Lê Nguyễn Hoàng Q, sinh ngày 06/9/2010 cho ông Lê Văn L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Ông L và bà T không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau. Ly hôn, các bên vẫn có quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung: Đình chỉ yêu cầu chia tài sản chung là nhà và đất tại A Ỷ, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng của bà Nguyễn Phước Uyên T đối với ông Lê Văn L.
- Về nợ chung: Không có.
- Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng bà Nguyễn Phước Uyên T phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Nguyễn Phước Uyên T đã nộp tại biên lai thu số 0004800 ngày 21/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Hải Châu. Hoàn trả cho bà Nguyễn Phước Uyên T số tiền tạm ứng án phí chia tài sản chung 20.000.000 đồng đã nộp tại biên lai thu số 0004800 ngày 21/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Hải Châu.
- Về thời hạn kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên Phan Thị Huệ |
Bản án số 04/2025/HNGĐ-ST ngày 17/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU – TP. ĐÀ NẴNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 04/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU – TP. ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn, chia tài sản khi ly hôn” của bà Nguyễn Phước Uyên Thư đối với ông Lê Văn Long. Xử: 1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Phước Uyên Thư được ly hôn đối với ông Lê Văn Long. 2. Về con chung: Giao con chung Lê Nguyễn Hoàng Linh, sinh ngày 10/5/2009 cho bà Nguyễn Phước Uyên Thư trực tiếp nuôi dưỡng và giao con chung Lê Nguyễn Hoàng Quân, sinh ngày 06/9/2010 cho ông Lê Văn Long trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Ông Long và bà Thư không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau. Ly hôn, các bên vẫn có quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. 3. Về tài sản chung: Đình chỉ yêu cầu chia tài sản chung là nhà và đất tại 182 Ỷ Lan Nguyên Phi, phường Hòa Cường Bắc, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng của bà Nguyễn Phước Uyên Thư đối với ông Lê Văn Long. 4. Về nợ chung: Không có. 5. Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng bà Nguyễn Phước Uyên Thư phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Nguyễn Phước Uyên Thư đã nộp tại biên lai thu số 0004800 ngày 21/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Hải Châu. Hoàn trả cho bà Nguyễn Phước Uyên Thư số tiền tạm ứng án phí chia tài sản chung 20.000.000 đồng đã nộp tại biên lai thu số 0004800 ngày 21/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Hải Châu. 6. Về thời hạn kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
