Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2025/DS-ST

Ngày: 14-3-2025

V/v tranh chấp về thừa kế tài

sản và bồi thường thiệt hại

ngoài hợp đồng do tài sản bị

xâm phạm

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Dũng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Bùi Trưng
  2. Bà Huỳnh Thị Tuyết Nga

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọc Như - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa:

Bà Bùi Thị Thanh Hiền - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 07 và 14 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 55/2021/TLST-DS, ngày 15 tháng 12 năm 2021, về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do tài sản bị xâm phạm”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2024/QĐXXST-DS ngày 15/4/2024, Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa 269/TB-TA ngày 02/5/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 86/2024/QĐST –DS ngày 28/5/2024, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 38/2024/QĐST –DS ngày 12/6/2024, Quyết định tạm đình chỉ số 92/2024/QÐST-DS ngày 12/7/2024, Quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự số 125/2024/QÐST – DS ngày 11/11/2024, Thông báo thời gian mở phiên tòa số 02/TB – TA ngày 02/01/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2025/QÐST – DS ngày 15/01/2025, Thông báo 44/TB - TA ngày 07/02/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi, giữa:

1. Nguyên đơn: Bà Tôn Thị Đ, sinh năm 1968; địa chỉ: Khu dân cư S, tổ dân phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Tôn Thị Đ: Ông Trần Anh T, là luật sư của Công ty L2 – Chi nhánh Q; địa chỉ: Số C N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.

2. Bị đơn: Ông Tôn Long C, sinh năm 1958; địa chỉ: Tổ dân phố D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Tôn Thị M, sinh năm 1965; địa chỉ: Khu dân cư S, tổ dân phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi.
  2. Ông Tôn Long T1, sinh năm 1971; địa chỉ: Số E P, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
  3. Người đại diện theo ủy quyền của ông Tôn Long T1: Ông Tôn Long C, sinh năm 1958; địa chỉ: Tổ dân phố D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi (theo văn bản ủy quyền ngày 10/01/2025)

  4. Ông Đặng Thái S, sinh năm 1963; địa chỉ: Khu dân cư S, tổ dân phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi.
  5. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Đặng Thái S: Ông Trần Anh T, là luật sư của Công ty L2 – Chi nhánh Q; địa chỉ: Số C N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.

  6. Bà Nguyễn Thị Thu D, sinh năm 1958; địa chỉ: Tổ dân phố D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi.
  7. Bà Trần Thị H (chết)
  8. Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà H:

    • Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1972; địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi.
    • Ông Nguyễn Tấn Đ1; địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi.
    • Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1974; địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi.
    • Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1980; địa chỉ: Đ, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương.
    • Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1986; địa chỉ: Ấp X, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
    • Ông Nguyễn T3, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi.
    • Bà Nguyễn Thị T4, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn D, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi.
    • Ông Nguyễn Đắt T5, sinh năm 1978; địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi.
  9. Anh Đặng Thái N, sinh năm 1988
  10. Cháu Đặng Nữ Hạo D1, sinh ngày 29/7/2015
  11. Người đại diện hợp pháp của cháu D1 là anh Đặng Thái N, là cha đẻ của cháu D1.

  12. Chị Đặng Thị B, sinh năm 1992
  13. Cháu Đặng Minh H3, sinh ngày 13/3/2017
  14. Cháu Đặng Thị Quỳnh N1, sinh năm 2019
  15. Người đại diện hợp pháp của cháu H3, cháu N1 là chị Đặng Thị B (là mẹ đẻ của cháu H3, cháu N1).

  16. Chị Đặng Thị Ngân C1, sinh năm 1994
  17. Cùng địa chỉ: Khu dân cư S, tổ dân phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi.

  18. Ủy ban nhân dân huyện T; địa chỉ: Thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi.
  19. Người đại diện theo pháp luật: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T.

4. Người làm chứng:

  1. Bà Nguyễn Thị T6; địa chỉ: Khu dân cư A, Tổ dân phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi.
  2. Ông Lê Văn Á, sinh năm 1965; địa chỉ: Khu dân cư A, Tổ dân phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi.
  3. Ông Nguyễn Danh T7, sinh năm 1981; địa chỉ: Khu dân cư S, Tổ dân phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi.

Bà Tôn Thị Đ, ông Đặng Thái S, ông Trần Anh T, ông Tôn Long C, bà Tôn Thị M, anh Đặng Thái N, chị Đặng Thị B, ông Nguyễn T3, ông Nguyễn Đắt T5 có mặt; bà Nguyễn Thị Thu D, chị Đặng Thị Ngân C1, bà Nguyễn Thị H1, ông Nguyễn Tấn Đ1, bà Nguyễn Thị V, bà Nguyễn Thị T2, bà Nguyễn Thị H2, bà Nguyễn Thị T4, bà Nguyễn Thị T6, ông Lê Văn Á, ông Nguyễn Danh T7 vắng mặt; Ủy ban nhân dân huyện T vắng mặt có đơn xin phép vắng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung, các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Tôn Thị Đ trình bày:

Cụ Tôn Long M1 và cụ Trần Thị M2 có 04 người con gồm: Ông Tôn Long C, bà Tôn Thị M, ông Tôn Long T1 và bà (Tôn Thị Đ). Ngoài ra, cụ M1, cụ M2 không có người con nào khác, kể cả con riêng, con nuôi.

Cụ M1 chết năm 1991, cụ M2 chết năm 1986 không để lại di chúc, không có nghĩa vụ gì về tài sản.

Nguồn gốc thửa đất 203, tờ bản đồ số 7, thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi (viết tắt là thửa 203) là của cha mẹ bà là ông Tôn Long M1 và bà Trần Thị M2 tạo lập sau năm 1975, có diện tích 4.000m². Đến năm 2010, Nhà nước thu hồi một phần đất để mở đường nên diện tích còn lại 3.200,5m².

Sau khi kết hôn, vợ chồng bà về ở cùng với cụ M1, cụ M2. Cha mẹ bà có cho vợ chồng bà diện tích 300m² để làm nhà ở trên đất nhưng chỉ cho bằng miệng, không có giấy tờ gì. Năm 1995, ông C có mua 01 diện tích đất ở chợ T8 và làm nhà ở. Nhà đất của cha mẹ để lại, anh em thống nhất giao lại cho em trai Tôn Long Thanh quản L nhưng do ông T1 đi làm ăn tại thành phố Hồ Chí Minh nên nhà của cha mẹ không có ai ở. Được anh chị em đồng ý, vợ chồng bà vào ở tại ngôi nhà này. Tuy nhiên, do nhà vách đất sụp đổ không ở được nên vào năm 2000 vợ chồng bà có sửa chữa xây gạch xung quanh, xây vách ngăn buồng, xây thêm nhà bếp; diện tích nhà trên và buồng khoảng 48m², diện tích nhà bếp 12m². Đến năm 2010, gia đình bà thuộc hộ nghèo nên được Nhà nước xét trợ cấp tiền để xây dựng nhà ở theo Dự án 167 của Chính phủ. Khi đến UBND xã nhận giấy hỗ trợ tiền về xây nhà thì bà mới biết là ông Tôn Long C được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 203 nêu trên. Để có đất xây dựng nhà theo Dự án 167 của Chính phủ, UBND xã T yêu cầu ông Tôn Long C viết giấy giao cho vợ chồng bà 100m² để vợ chồng bà xây dựng nhà ở và vợ chồng bà xây dựng ngôi nhà cấp 4 bên cạnh nhà cũ của cha mẹ như hiện nay.

Tháng 6 năm 2020, ông Tôn Long C yêu cầu vợ chồng bà phải trả nhà của cha mẹ cho ông C. Năm 2021, ông Tôn Long C thuê người đập phá toàn bộ nhà ở và công trình phụ nhà của cha mẹ để lại trong đó có phần tài sản vợ chồng và xây dựng thêm vào năm 2000.

Thửa đất 203, tờ bản đồ số 7, thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi là di sản của cha mẹ ông Tôn Long M1, bà Trần Thị M2 để lại. Việc UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Tôn Long C, bà Nguyễn Thị Thu D là không đúng pháp luật. Việc ông C tự ý đập phá ngôi nhà cũ của cha mẹ trong đó có phần nhà do vợ chồng ông bà xây dựng thêm mà không có sự đồng ý của vợ chồng bà là không đúng. Hiện nay trên đất có các tài sản gồm 01 ngôi nhà cấp 4 của vợ chồng bà xây dựng, 01 ngôi nhà cấp 4 của bà Trần Thị H, các cây cối trên đất của vợ chồng bà trồng. Bà xác định phía sau ngôi nhà của vợ chồng bà (nằm về phía Đông của thửa 203) cách hàng rào khoảng 3-4 mét có 06 ngôi mộ đất, không có bia, không xây mộ, không đắp đất, chỉ có 01 viên đá để làm dấu (06 ngôi mộ này nằm rải rác).

Đối với phần đất hiện nay có ngôi nhà của cụ Trần Thị H thì bà thống nhất để cho các con của cụ H phần diện tích đất 100m² tại vị trí có ngôi nhà của cụ H, không yêu cầu chia thừa kế đối với phần diện tích đất 100m² tại vị trí đất có ngôi nhà này.

Trong quá trình giải quyết vụ án bà yêu cầu ông Tôn Long C phải bồi thường thiệt hại cho vợ chồng bà do ông C đập phá phần nhà do vợ chồng bà xây dựng tổng số tiền 65.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bà xét thấy ngôi nhà được vợ chồng bà sửa chữa, nâng cấp từ năm 2000, đến năm 2020 thì ông C mới có hành vi đập phá ngôi nhà này nên bà khấu hao thời gian sử dụng ngôi nhà là 30%. Vì vậy, bà chỉ yêu cầu ông C bồi thường thiệt hại cho vợ chồng bà với số tiền 45.500.000 đồng.

Tại phiên tòa, bà tự nguyện tháo dỡ một phần mái hiên phía trước ngôi nhà để tạo điều kiện khi Tòa chia thừa kế thửa 203 thì diện tích đất tiếp giáp với đường nhựa sẽ nhiều hơn, thuận tiện hơn cho các đồng thừa kế khác khi nhận diện tích đất chia thừa kế.

Bà yêu cầu giải quyết:

  • Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH 6330, thửa đất số 203, tờ bản đồ số 7, tại tổ dân phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi, do UBND huyện T cấp cho hộ ông Tôn Long C, bà Nguyễn Thị Thu D ngày 29/5/2017.
  • Chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản là quyền sử dụng thửa đất số 203, tờ bản đồ số 07, nêu trên thành 04 kỷ phần cho các đồng thừa kế gồm ông Tôn Long C, bà Tôn Thị M, bà Tôn Thị Đ và ông Tôn Long T1; bà yêu cầu chia bằng hiện vật. Phần diện tích đất được chia có cây cối trên đất thì người được nhận phần đất đó được thụ hưởng; bà không có yêu cầu, tranh chấp gì. Trường hợp phần diện tích đất được chia có tài sản của người khác thì người được nhận phần diện tích đất được quyền sở hữu tài sản đó và thanh toán bằng giá trị cho chủ tài sản.
  • Buộc ông Tôn Long C phải bồi thường thiệt hại cho vợ chồng bà do ông Tôn L1 Có đập phá phần nhà do vợ chồng bà xây dựng tổng số tiền 45.500.000 đồng.

Tại Đơn trình bày ý kiến ngày 25/12/2021, ngày 25/12/2022, biên bản lấy lời khai ngày 09/3/2022, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, bị đơn ông Tôn Long C trình bày:

Về quan hệ huyết thống gia đình, ông thống nhất trình bày của nguyên đơn.

Về nguồn gốc thửa đất số 203, tờ bản đồ số 7, tại tổ dân phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi (sau đây gọi tắt là thửa 203) là của cha mẹ ông được thừa hưởng của ông bà để lại. Từ trước năm 1960, cụ M1, cụ M2 đã làm nhà ở trên đất này (kết cấu nhà tranh, vách đất).

Năm 1967, cụ M1, cụ M2 xây dựng lại ngôi nhà mới gồm một nhà chính cấu cột kèo bằng gỗ, vách đất, lợp ngói, 05 gian cửa bằng gỗ mít và 01 nhà ngang có kết cấu cột gỗ, lợp tranh, vách đất, tổng diện tích gần 200m² và sinh sống cùng các con tại ngôi nhà này cho đến khi chết.

Năm 1986, bà Tôn Thị Đ có chồng là ông Đặng Thái S. Do không có chỗ ở nên bà Đ có xin cha mẹ làm ngôi nhà tạm để ở. Sau khi cha mẹ chết, nhà đất của cha mẹ để lại giao lại cho em trai Tôn Long T1. Tuy nhiên, do ông T1 đi làm ăn xa, không có ai ở. Ngôi nhà tạm của bà Đ hư hỏng nên bà Đ có hỏi và được các anh em đồng ý cho vợ chồng bà Đ vào ở tại ngôi nhà của cha mẹ để lại.

Trong quá trình ở tại ngôi nhà này, bà Đ có sửa chữa xây gạch xung quanh, phá dỡ nhà ngang để xây dựng mới nhà bếp. Năm 2010, vợ chồng bà Tôn Thị Đ xây dựng ngôi nhà mới bên cạnh ngôi nhà của cha mẹ để lại, diện tích xây dựng khoảng 250m² và ở cho đến nay. Sau khi dọn vào nhà mới để ở thì bà Đ trả lại ngôi nhà của cha mẹ cho ông nhưng do ông không ở nên vợ chồng bà Đ sử dụng ngôi nhà này để chất gỗ và đồ đạc.

Sau khi cha mẹ chết thì ông là người trực tiếp quản lý, kê khai đăng ký và thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước thửa đất này. Năm 1999, ông là người đi đăng ký kê khai và được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình ông đối với thửa đất số 630, tờ bản đồ số 5; năm 2014, Nhà nước cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông theo dự án Vlap thì thửa đất số 630 biến động thành thửa đất số 203, tờ bản đồ số 7, diện tích 3.200,5m², loại đất BHK, không có đất ở. Ông khiếu nại việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà không có đất ở nên năm 2017, Ủy ban nhân dân huyện T cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông thửa đất số 203, tờ bản đồ số 7, diện tích 3.200,5m², trong đó có 400m² đất ở và 2800,5m² đất BHK.

Ông xác định thửa đất số 203 hiện nay là của cha mẹ để lại. Ông đồng ý chia di sản theo quy định của pháp luật nhưng yêu cầu vợ chồng bà Tôn Thị Đ phải tháo dỡ ngôi nhà hiện nay bà Đ đang ở, trả lại mặt bằng để chia đều cho các anh chị em nhận hiện vật.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ông yêu cầu nếu chia thừa kế thì đề nghị trích công sức bảo quản, giữ gìn di sản cho ông theo quy định của pháp luật vì tuy ông không trực tiếp ở trên đất nhưng ông là người quản lý, trồng cây trên đất, rào ranh mốc giới để bảo vệ đất đồng thời tiến hành đăng ký, kê khai để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và thực hiện nghĩa vụ về đất đai đối với Nhà nước. Tuy nhiên, tại phiên tòa, ông không yêu cầu trích công sức bảo quản, giữ gìn di sản cho ông và ông đồng ý chia đều thừa đất số 203 cho các đồng thừa kế.

Đối với yêu cầu của nguyên đơn buộc ông phải bồi thường thiệt hại cho vợ chồng bà Tôn Thị Đ do ông đập phá ngôi nhà trên của cha mẹ, trong đó có phần nhà bà Đ sửa chữa và xây dựng thêm, số tiền 45.500.000 đồng thì ông không đồng ý vì vợ chồng bà Đ ở ngôi nhà cha mẹ chỉ ở tạm; việc bà Đ sửa chữa nhà chính, tháo dỡ nhà ngang để xây dựng nhà bếp trên phần nhà của cha mẹ để lại là để phục vụ cho sinh hoạt của bà Đ. Trước khi tháo dỡ, ông đã thông báo cho vợ chồng bà Đ, ông S di chuyển cây gỗ của ông S, bà Đ ra khỏi ngôi nhà này và yêu cầu bà Đ, ông S tháo dỡ để ông xây dựng lại nhà thờ trên nền nhà này, nhưng bà Đ, ông S không tự nguyện tháo dỡ nên ông tháo dỡ để xây dựng lại nhà thờ ông bà cha mẹ. Sau khi tháo dỡ xong, ông định xây dựng nhà thờ nhưng bà Đ tranh chấp mãi đến nay nên không xây dựng được. Do đó, ông không đồng ý bồi thường số tiền 45.500.000 đồng cho ông S, bà Đ.

Đối với phần đất hiện nay có ngôi nhà của cụ Trần Thị H thì ông thống nhất trình bày của nguyên đơn để cho những người con của cụ H tiếp tục quản lý, sử dụng phần diện tích đất ở 100m² tại vị trí có ngôi nhà của cụ H, không yêu cầu chia thừa kế đối với phần diện tích đất này. Trường hợp Tòa án chia thừa kế bằng hiện vật cho ông T1 và bà M có phần tài sản của ông trên diện tích được chia này, thì giữa ông, ông T1 và bà M tự giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại đơn trình bày ý kiến ngày 30/3/2022, ngày 11/12/2023, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Tôn Long T1 và người đại diện theo ủy quyền của ông Tôn Long T1 là ông Tôn Long C trình bày:

Ông thống nhất trình bày của bà Đ, ông C về quan hệ gia đình. Nguồn gốc thửa đất 203 là của cha mẹ để lại. Bà Đ có trình bày là khi cha, mẹ còn sống, lúc này có cho vợ chồng bà Tôn Thị Đ là 300m², cho bằng miệng là không đúng. Năm 2019, sau khi bà Tôn Thị Đ bàn giao lại ngôi nhà của cha mẹ cho ông Tôn Long C để quản lý, thì căn nhà để trống, thấy không có người ở nên vợ chồng bà Tôn Thị Đ dùng để chứa gỗ trong nhà. Sau đó, căn nhà bị xuống cấp nên tất cả anh em thống nhất tháo dỡ để sửa chữa lại nhà mới, thờ cúng ông, bà nhưng vợ chồng bà Tôn Thị Đ không tự nguyện di dời nên ông C mới thuê người tháo dỡ. Sau khi tháo dỡ thì anh chị em ông định xây dựng lại nhà thờ, nhưng bà Đ khiếu nại, tranh chấp nên không tiến hành xây dựng được. Do đó, việc ông S, bà Đ yêu cầu ông C bồi thường số tiền 45.500.000 đồng là không có căn cứ.

Ông thống nhất yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản là quyền sử dụng đất thửa đất số 203 thành 04 kỷ phần cho các đồng thừa kế; yêu cầu bà Đ phải tháo dỡ những công trình xây dựng và cây trồng có liên quan trên đất để trả lại mặt bằng chung, để chia đều cho anh chị em. Hiện nay ông đang ở nhà thuê tại thành phố Hồ Chí Minh và không có chỗ ở tại huyện T, nên ông đề nghị chia thừa kế bằng hiện vật để ông có đất xây dựng nhà ở.

Đối với phần đất hiện nay có ngôi nhà của cụ Trần Thị H thì ông thống nhất trình bày của nguyên đơn để cho các con của cụ H tiếp tục quản lý, sử dụng phần diện tích đất ở 100m² tại vị trí có ngôi nhà của cụ H, không yêu cầu chia thừa kế đối với phần diện tích đất này.

Tại Biên bản lấy lời khai ngày 14/3/2022, đơn trình bày ý kiến ngày 11/12/2023, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Tôn Thị M trình bày:

Thống nhất trình bày của ông Tôn Long C về quan hệ gia đình, nguồn gốc đất; thống nhất trình bày của ông C, bà Đ và ông T1 về phần đất ở 100m² tại vị trí có ngôi nhà của cụ Trần Thị H để cho các con của cụ H tiếp tục quản lý, sử dụng. Bà yêu cầu chia di sản thừa kế theo pháp luật, yêu cầu được nhận hiện vật. Việc bà Đ, ông S yêu cầu ông C phải bồi thường 45.500.000 đồng do ông C tháo dỡ nhà cha mẹ có phần sửa chữa nhà của bà Đ, ông S là không đúng. Vì khi năm 2010, vợ chồng bà Đ xây nhà mới nên không còn ở ngôi nhà cũ của cha mẹ để lại nữa, ngôi nhà này vợ chồng bà Đ làm nơi chất đồ đạc và chứa cây gỗ, nhà đã xuống cấp. Năm 2020 bà, ông C và ông T1 có bàn bạc với bà Đ, ông S tháo dỡ nhà cũ của cha mẹ để làm lại nhà mới thờ cúng ông bà cha mẹ, nhưng bà Đ, ông S không tự nguyện tháo dỡ nên ông C mới thuê người đến tháo dỡ ngôi nhà này. Sau khi tháo dỡ xong do bà Đ tranh chấp nên ông C và các anh chị em bà không xây dựng lại ngôi nhà này được.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 09/3/2022, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thu D trình bày:

Bà thống nhất trình bày và yêu cầu của ông Tôn Long C. Bà xác định nguồn gốc thửa đất số 203 là của cha mẹ chồng bà là ông Tôn Long M1, bà Trần Thị M2 để lại. Bà không trực tiếp ở trên đất và không có công sức gì trong việc giữ gìn, tôn tạo di sản nên không có yêu cầu gì về việc trích công sức, bảo quản, giữ gìn di sản cho bà.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Thái S, anh Đặng Thái N, chị Đặng Thị Ngân C1, chị Đặng Thị Bích thống N2 trình bày và yêu cầu của bà Tôn Thị Đ.

Tại các đơn trình bày ngày 03/11/2024 và tại phiên tòa sơ thẩm người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Trần Thị H là ông Nguyễn T3, bà Nguyễn Thị H1, ông Nguyễn Đắt T5, bà Nguyễn Thị V trình bày: Cha mẹ của các ông bà là Nguyễn K (đã chết từ lâu không rõ năm) và bà Trần Thị H (chết năm 2024). Các ông bà không tranh chấp gì đối với thửa 203. Trường hợp các ông bà Tôn Long C, Tôn Long T1, Tôn Thị M, Tôn Thị Đ thống nhất để lại cho mẹ của các ông bà là bà Trần Thị H diện tích đất 100m² đất ở nằm trong thửa 203 thì các ông bà thống nhất, không có ý kiến gì, không tranh chấp gì đối với phần này.

Những người kế thừa quyền, nghĩa vụ của bà H là các ông bà Nguyễn Tấn Đ1, Nguyễn Thị T2, Nguyễn Thị H2, Nguyễn Thị T4 đã được Tòa án tổng đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không có văn bản trình bày.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện T trình bày:

Theo bản đồ 299 thì thửa đất 630, tờ bản đồ số 5, thị trấn T có diện tích 1.004m². Đến năm 2014, đo đạc thành lập bản đồ địa chính theo dự án V đã đo bao thửa đất số 609 và một phần thửa đất 571, cùng tờ bản đồ số 5, thị trấn T thành 01 thửa đất số 203, tờ bản đồ số 7, thị trấn T, diện tích 3.200,5m².

Năm 1999, việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân dựa vào chủ sử dụng đất đã kê khai đăng ký trong sổ mục kê, sổ địa chính. Theo đó, bộ sổ mục kê và bộ sổ địa chính lập năm 1999 được lưu trữ tại 3 cấp (xã, huyện, tỉnh) thì thửa đất số 630, tờ bản đồ số 5 do ông Tôn Long C kê khai, đăng ký. Việc cấp GCNQSDĐ cho hộ ông Tôn Long C theo hình thức Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất đối với đất có nguồn gốc của cha mẹ để lại, là đúng quy định của pháp luật. Thửa đất này không thuộc diện cân đối theo Nghị định 64/CP.

Năm 2014, cấp đổi GCNQSDĐ dựa trên hồ sơ xét duyệt đủ điều kiện của UBND thị trấn T trình lên, đối chiếu với bản đồ địa chính mới thành lập đã được Sở T9 thẩm định ngày 25/12/2014 để trình UBND huyện cấp đổi GCNQSDĐ. Năm 2017, cấp GCNQSDĐ sau thu hồi do cấp sai mục đích sử dụng.

Trong hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng dất cho hộ ông Tôn Long C các năm 1999, 2014 và 2017 không thể hiện có mồ mả nên UBND huyện đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho toàn bộ diện tích thửa đất 203. Theo kết quả kiểm tra và cung cấp thông tin của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Q- chi nhánh huyện T thì diện tích cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Tôn Long C bao gồm cả mồ mả.

Lý do không trừ mồ mả: Do sự dẫn đạc của hộ dân nên đơn vị tư vấn đã đo bao phần mồ mả và thành lập bản đồ địa chính không thể hiện mồ mả trên thửa đất.

* Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Tôn Thị Đ, ông Đặng Thái S là luật sư Trần Anh T trình bày:

Nguồn gốc thửa 203 là di sản của ông Tôn Long M1 và bà Trần Thị M2. Ông M1, bà M2 chết không để lại di chúc và không có nghĩa vụ về tài sản nên bà Đ đề nghị chia thừa kế theo pháp luật đối với thửa 203 cho 4 đồng thừa kế là bà Đ, ông C, ông T1, bà M. Thửa 203 là di sản của cha mẹ để lại cho các đồng thừa kế nhưng ông C đăng ký kê khai và đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không đúng pháp luật nên đề nghị hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 203 cấp cho hộ ông C, bà D. Ngoài ra, bà Đ, ông S còn yêu cầu ông C phải bồi thường thiệt hại cho vợ chồng bà do ông đập phá phần nhà do vợ chồng bà xây dựng tổng số tiền 65.000.000 đồng, vì sau khi ông bà ở nhà cha mẹ thì năm 2000 ngôi nhà xuống cấp nên ông bà có sửa chữa xây gạch xung quanh, xây vách ngăn buồng, xây thêm nhà bếp; diện tích nhà trên và buồng khoảng 48m², diện tích nhà bếp 12m² nên việc ông C đập phá nhà của ông bà thì ông C phải bồi thường cho ông bà. Tuy nhiên, khấu hao nhà xây dựng năm 2000, đến năm 2020 ông C đập phá nên giá trị sử dụng còn lại là 70%, thành tiền là 45.500.000 đồng.

Đối với phần đất hiện nay có ngôi nhà của cụ Trần Thị H đang ở thì bà Đ thống nhất để cho các con của cụ H phần diện tích đất ở 100m² tại vị trí có ngôi nhà của cụ H, không yêu cầu chia thừa kế đối với phần diện tích đất 100m² tại vị trí đất có ngôi nhà này.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện đúng theo qui định tại Điều 26, Điều 34, 37, 48, 51, 68, 97, 98, 99, 104, 174, 175, 203, 205, 208, 209, 210, 211, 220 Bộ luật Tố tụng dân sự về xác định thẩm quyền giải quyết; thụ lý vụ án; xác định quan hệ tranh chấp; xác định tư cách người tham gia tố tụng; thu thập chứng cứ; việc tống đạt giao nhận các văn bản tố tụng cho các đương sự; chuyển giao hồ sơ văn bản đến Viện kiểm sát; thời hạn chuẩn bị xét xử. Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về thủ tục xét xử sơ thẩm.

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Đối với người tham gia tố tụng thì bà Tôn Thị Đ, ông Đặng Thái S, ông Trần Anh T, ông Tôn Long C, bà Tôn Thị M, anh Đặng Thái N, chị Đặng Thị B, ông Nguyễn T3, ông Nguyễn Đắt T5, Ủy ban nhân dân huyện T chấp hành đúng Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; bà Nguyễn Thị Thu D, chị Đặng Thị Ngân C1, bà Nguyễn Thị H1, ông Nguyễn Tấn Đ1, bà Nguyễn Thị V, bà Nguyễn Thị T2, bà Nguyễn Thị H2, bà Nguyễn Thị T4 không chấp hành đúng theo quy định tại các điều 70, 72, 73 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung: Sau khi phân tích, đánh giá các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến công khai tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đ về việc:

+ Chia di sản thừa kế của cụ M1, cụ M2 để lại là thửa đất số số 203, tờ bản đồ số 7, diện tích theo đo đạc thực tế sau khi trừ đi diện tích 194,6m² có mồ mả và diện tích 100m² đất của bà Trần Thị H, phần diện tích còn lại được chia đều cho 04 đồng thừa kế gồm: ông C, bà Đ, bà M, ông T1 theo hướng phân tích trên.

+ Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH6330, tại thửa đất số 203, tờ bản đồ số 7, diện tích 3.200,5m² tại tổ dân phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi do UBND huyện T cấp ngày 29/5/2017 đứng tên ông Tôn Long C và bà Nguyễn Thị Thu D.

- Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Đ về việc buộc bị đơn ông Tôn Long C bồi thường thiệt hại với số tiền là 45.500.000đồng.

- Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng khác đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Đề nghị tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị Thu D, chị Đặng Thị Ngân C1, bà Nguyễn Thị H1, ông Nguyễn Tấn Đ1, bà Nguyễn Thị V, bà Nguyễn Thị T2, bà Nguyễn Thị H2, bà Nguyễn Thị T4 đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt. Do đó, căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người nêu trên.

[1.2] Về xác định quan hệ tranh chấp: Theo nội dung yêu cầu khởi kiện, nguyên đơn yêu cầu giải quyết hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH 6330, thửa đất số 203, tờ bản đồ số 7, tại tổ dân phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi, do UBND huyện T cấp cho hộ ông Tôn Long C, bà Nguyễn Thị Thu D ngày 29/5/2017 (gọi tắt là thửa đất số 203); chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản là quyền sử dụng thửa đất số 203, tờ bản đồ số 07, nêu trên thành 04 kỷ phần cho các đồng thừa kế gồm ông Tôn Long C, bà Tôn Thị M, bà Tôn Thị Đ và ông Tôn Long T1; buộc ông Tôn Long C phải bồi thường thiệt hại cho vợ chồng ông Đặng Thái S bà Tôn Thị Đ do ông Tôn L1 Có đập phá phần nhà do vợ chồng bà xây dựng tổng số tiền 45.500.000 đồng.

Tại thông báo về việc thụ lý và trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã xác định quan hệ tranh chấp về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do tài sản bị xâm phạm”; đồng thời việc giải quyết vụ án có liên quan đến việc xem xét hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông Tôn Long C, bà Nguyễn Thị Thu D nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi, phù hợp với quy định tại các Điều 26, 34, 37 và 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Quá trình giải quyết vụ án bà Tôn Thị Đ yêu cầu ông Tôn Long C bồi thường cho vợ chồng bà số tiền 65.000.000 đồng do ông C đập phá, tháo dỡ nhà của vợ chồng bà. Tại phiên tòa, bà Đ thay đổi yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu ông C bồi thường số tiền 45.500.000 đồng. Xét thấy, việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của bà Đ không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[1.4] Về thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế: Theo các Trích lục khai tử số 16/TLKT-BS và số 17/TLKT-BS cùng ngày 20/01/2021 do Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi cung cấp cho các đương sự, thể hiện cụ Tôn Long M1 chết ngày 05/10/1991 và cụ Trần Thị M2 chết ngày 19/9/1986. Ngày 03/3/2021, bà Tôn Thị Đ có đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ M1, cụ M2. Căn cứ Điều 36 của Pháp lệnh thừa kế năm 1990; tiểu mục b, mục 10 Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Khoản 1 Điều 623, điểm d, khoản 1, Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 4, Điều 4, Nghị quyết số 02/2016/NQ-HĐTP ngày 30/6/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì yêu cầu khởi kiện của bà Tôn Thị Đ còn thời hiệu.

[2] Về nội dung:

[2.1] Các bên đương sự đều thừa nhận: Cụ Tôn Long M1 và cụ Trần Thị M2 có bốn người con chung là ông Tôn Long C, bà Tôn Thị M, ông Tôn Long T1 và bà Tôn Thị Đ. Ngoài ra, cụ M1, cụ M2 không có con riêng, con nuôi nào khác. Căn cứ Điều 679 Bộ luật dân sự 1995 (nay là Điều 613 Bộ luật dân sự năm 2015), Hội đồng xét xử xác định hàng thừa kế thứ nhất của cụ M1, cụ M2 là ông Tôn Long C, bà Tôn Thị M, ông Tôn Long T1 và bà Tôn Thị Đ.

[2.2] Về di sản:

[2.2.1] Theo các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện và quá trình giải quyết vụ án các đương sự đều thừa nhận: Nguồn gốc thửa 203 do cụ Tôn Long M1 và cụ Trần Thị M2 tạo lập, sử dụng làm nhà ở và để lại từ năm 1987. Thửa đất này không cân đối theo Nghị định 64/CP. Theo Sổ mục kê lập năm 1999 thể hiện thửa đất 630 (nay là thửa 203) do ông Tôn Long C đăng ký kê khai. Sau khi cụ M1, cụ M2 chết, ông Tôn Long C làm thủ tục đăng ký cấp GCNQSDĐ, được UBND huyện T cấp GCNQSDĐ lần đầu, số vào sổ cấp GCNQSDĐ 0921 QSDĐ, ngày 30/8/1999, đối với thửa đất số 630, tờ bản đồ số 5, diện tích 1.004m², xã T, huyện T cho hộ ông Tôn Long C. Năm 2014, đo đạc thành lập bản đồ địa chính mới tỷ lệ 1/1000, đo đạc theo hiện trạng và đo bao: thửa đất số 630, thửa 609 và một phần thửa 571, tờ bản đồ số 5 được cấp đổi thành thửa 203, tờ bản đồ số 7, diện tích 3.200,5m² cho hộ ông C. Năm 2017, UBND huyện T thu hồi GCNQSDĐ thửa 203 vì cấp sai mục đích sử dụng đất. Ngày 21/02/2017, ông C có đơn đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa đất đăng ký là thửa 203, diện tích 3.200,5m² và được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB 090847, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 6330 ngày 29/5/2017, đối với thửa đất số 203, diện tích 3.200,5m² (trong đó có 400m² đất ở và 2.800,5m² đất trồng cây hằng năm khác) cho hộ ông Tôn Long C và bà Nguyễn Thị Thu D.

[2.2.2] Các đương sự thừa nhận nguồn gốc thửa đất 203, tờ bản đồ số 7, diện tích 3.200,5m², tọa lạc tại thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi, theo bản đồ địa chính năm 2013 là thửa đất 630 là của cụ M1, cụ M2 tạo lập. Nguyên đơn trình bày, sau năm 1975 cụ M1, cụ M2 tạo lập một thửa đất, có diện tích khoảng 4.000m² tại thị trấn T, huyện T và hai cụ đã xây dựng nhà trên đất và sống cùng các con cho đến khi hai cụ chết. Sau khi chết, hai cụ không để lại di chúc hay nghĩa vụ về tài sản. Sau khi bà lập gia đình với ông Đặng Thái S năm 1986, vợ chồng bà không có chỗ ở nên cha mẹ bà có nói bằng miệng sẽ cho vợ chồng bà 300m² đất để sinh sống nằm trong diện tích đất của cha mẹ nên vợ chồng bà làm nhà cách ngôi nhà của cha mẹ 50 mét (hiện nay ngôi nhà này không còn).Việc cha mẹ hứa cho đất như trên nguyên đơn thừa nhận không có căn cứ chứng minh. Năm 1995 nhà tranh của vợ chồng bà bị sập nên ông C, ông T1 nói vợ chồng bà về ở nhà của cha mẹ để tiện vừa trông coi nhà, vừa trông coi vườn của cha mẹ thì vợ chồng bà đồng ý. Ngôi nhà của cha mẹ xây dựng đã lâu nên năm 2000 vách đất bị sập, không ở được, ông T1, ông C đồng ý để vợ chồng bà sửa nhà để tiếp tục ở. Đến năm 2010, gia đình bà được Nhà nước xét trợ cấp tiền để xây dựng nhà ở theo Dự án 167 của Chính phủ thì bà mới biết thửa 203 đã được cấp GCNQSDĐ cho ông Tôn Long C.

Mặt khác, theo Công văn số 3084/UBND-TN, ngày 28/9/2023 của Ủy ban nhân dân huyện T (BL 280, 281) cung cấp thông tin thể hiện, UBND huyện T không cân đối thửa 630, tờ bản đồ số 5 theo Nghị định 64/CP của Chính phủ.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ông C thừa nhận khi đăng ký kê khai để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu, ông tự ý đi đăng ký kê khai không có sự ủy quyền hoặc đồng ý bằng văn bản của các đồng thừa kế khác. Do đó, việc UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu, và sau đó ông Tôn Long C làm thủ tục cấp đổi, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 203 là không đúng pháp luật.

Ngoài ra, trên thửa đất còn có nhiều ngôi mộ nằm rải rác trên toàn bộ thửa đất 203, theo Sơ đồ địa chính thửa đất 203 đo đạc thực tế thì diện tích mộ xây và mộ đất có tổng diện tích là 194,6m².

Do đó, có căn cứ xác định thửa đất số 203 có diện tích đo đạc thực tế 3.144,9m², sau khi trừ diện tích các ngôi mộ 194,6m², còn lại là: 2.950,3m² tọa lạc tại thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi là di sản của cụ M1, cụ M2 để lại.

[2.2.3] Về tài sản trên đất: Các đương sự thừa nhận trên thửa đất số 230 có 01 ngôi nhà cấp 4 do vợ chồng bà Đ xây dựng năm 2010 và ngôi nhà cấp 4, công trình phụ của bà Trần Thị H. Trước đây trên thửa 230 có ngôi nhà cấp 4 do cụ M1, cụ M2 xây dựng; năm 2000 vợ chồng bà Đ đã sửa chữa ngôi nhà của cụ M1, cụ M2, đến năm 2020 ông C đã tháo dỡ ngôi nhà này. Như vậy, gia đình bà Đ ông S đã xây dựng nhà kiên cố và sống trên thửa đất này từ trước đến nay các đồng thừa kế khác không tranh chấp. Do đó, xét yêu cầu của ông Tôn Long C, Tôn Thị M và Tôn Long T1 yêu cầu gia đình bà Đ ông S tháo dỡ toàn bộ nhà này để chia thừa kế đất cho 04 đồng thừa kế là không có căn cứ chấp nhận.

Ngoài ra trên thửa đất có cây lâu năm và trồng keo do vợ chồng bà Đ ông S và ông C trồng. Tường rào xung quanh thửa 230 có một phần do ông C làm, phần còn lại là của vợ chồng bà Đ ông S.

Như vậy các tài sản trên đất không phải là di sản của cụ M1, cụ M2 để lại.

[2.3] Về giá trị di sản: Theo chứng thư thẩm định giá số CTDDNQNG 0140822 ngày 30/12/2022 của Công ty trách nhiệm hữu hạn T10 thì đơn giá 01m² đất ở là 1.855.292 đồng, đơn giá 01m² đất trồng cây hằng năm khác là 687.292 đồng.

Như vậy, di sản của cụ M1, cụ M2 để lại có giá trị như sau: Quyền sử dụng thửa đất số 203, diện tích đo đạc thực tế sau khi trừ diện tích các ngôi mộ là 2.950,3m² (trong đó có 400m² đất ở và 2.550,3m² đất trồng cây hằng năm khác). Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, các đương sự đều thống nhất không yêu cầu chia di sản của cụ M1, cụ M2 tại vị trí nhà của cụ Trần Thị H với diện tích 100m² đất ở nằm trong thửa 203, và giao diện tích đất này cho các con của bà H quản lý, sử dụng. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này (về diện tích 100m², giới cận, giới hạn bởi các điểm của 100m² đất này có sơ đồ bản vẽ kèm theo và là một bộ phận không tách rời bản án này).

Như vậy, di sản của cụ M2, cụ M1 còn lại là 2.850,3m² (trong đó có 300m² đất ONT và 2.550,3m² đất BHK), có giá trị là 2.309.388.387 đồng.

[3] Về phân chia di sản:

[3.1] Cụ M1, cụ M2 chết không để lại di chúc và không có nghĩa vụ về tài sản. Do đó, di sản của cụ M1, cụ M2 được chia theo pháp luật cho các đồng thừa kế là ông Tôn Long C, ông Tôn Long T1, bà Tôn Thị M, bà Tôn Thị Đ, mỗi người được hưởng một kỷ phần thừa kế là: 2.850,3m²/4 = 712,575m² (trong đó có 75m² đất ONT và 637,575m² đất BHK), tương ứng với giá trị: 2.309.388.387đ/4 = 577.347.096 đồng.

[3.2] Xét chia di sản thừa kế bằng hiện vật:

Ông Tôn Long C, ông Tôn Long T1, bà Tôn Thị Đ, bà Tôn Thị M đều có yêu cầu nhận kỷ phần thừa kế bằng hiện vật. Xét thấy, ông Tôn Long C hiện nay đã có nhà ở ổn định tại thị trấn T, huyện T; tuy nhiên ông là con trai trưởng và trực tiếp canh tác thửa đất này từ trước đến nay, hiện nay ông đang có nhu cầu xây dựng lại nhà thờ trên nền nhà cũ để thờ cúng ông bà cha mẹ. Ông Tôn Long T1 hiện nay chưa có chỗ ở, đang làm ăn và thuê nhà ở trọ tại thành phố Hồ Chí Minh, thực tế ông có nhu cầu có đất để làm nhà; bà Tôn Thị Đ đã làm nhà và đang sinh sống trên thửa 203 này từ trước đến nay. Bà Tôn Thị M thừa nhận từ khi có chồng thì đã có nhà ở ổn định tại nơi khác và không trực tiếp canh tác trên thửa đất này. Mặt khác, diện tích đo đạc thực tế là 3.144,9m², tuy nhiên trên thửa đất này có rất nhiều ngôi mộ nằm rải rác trên toàn bộ thửa đất, có diện tích 194m². Ngoài ra, theo quy định tại Điều 5 về diện tích tối thiểu sau khi tách thửa đối với đất ở tại Quyết định số 34/2024/QĐ-UBND ngày 14/10/2024 của UBND tỉnh Q ban hành quy định điều kiện, diện tích tối thiểu của việc tách thửa đất, hợp thửa đất đối với từng loại đất trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi thì tại khu vực huyện T là 100m². Do đó, xét nhu cầu nhận thừa kế bằng hiện vật của ông Tôn Long C, Tôn Thị Đ và Tôn Long T1 là có căn cứ chấp nhận. Đối với bà Tôn Thị M được nhận thừa kế bằng giá trị do các ông Tôn Long C, Tôn Thị Đ và Tôn Long T1 có nghĩa vụ thanh toán lại giá trị cho bà M tương ứng với phần diện tích đất được chia.

Căn cứ vào thực tế sử dụng đất và tránh rất nhiều ngôi mộ nằm rải rác trên toàn bộ thửa đất khi chia thừa kế bằng hiện vật cho ông C, ông T1 và bà Đ, về vị trí, diện tích cụ thể của từng người được chia như sau:

  • Trừ 100m² đất ONT tại vị trí có nhà và các công trình phụ của cụ Trần Thị H được ký hiệu Y4, được giới hạn bởi các điểm 11,12, 13, 14, K14, K13, K12, K10, K9, 11.
  • Chia cho bà Tôn Thị Đ diện tích 1.083,7m² (trong đó có 100m² đất ONT và 983,7m² đất BHK). Trong diện tích đất này có 81m² đất mộ xây và 4,5m² mộ đất. Do đó, diện tích bà Tôn Thị Đ được quyền quản lý, sử dụng là 998,2m² (trong đó có 100m² đất ONT và 898,2m² đất BHK) được ký hiệu là Y3, được giới hạn bởi các điểm 9, 10, K9, K10, K11, K12, K13, K14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, K4, K5,K6,K7, K8, 9. Trên phần diện tích đất chia cho bà Đ hiện nay có nhà, vật kiến trúc và các cây cối khác của gia đình bà Đ tiếp tục quản lý, sở hữu.
  • Chia cho ông Tôn Long T1 diện tích 1.039,7m² (trong đó có 100m² đất ONT và 939,7m² đất BHK). Trong diện tích đất này có 55,8m² đất mộ xây và 34,1m² mộ đất. Do đó, diện tích ông Tôn Long T1 được quyền quản lý, sử dụng là 949,8m² (trong đó có 100m² đất ONT và 849,8m² đất BHK) được ký hiệu là Y2, được giới hạn bởi các điểm 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, K8, K7, K6, K5, K4, 28, K3, K2, K1, 55, 56, 57, 1. Trên phần diện tích đất chia cho ông Tôn Long T1 về hướng N (đường nhựa) có một số trụ bê tông kéo lưới B40 và một phần diện tích nền xi măng của vợ chồng ông Đặng Thái S và Tôn Thị Đ. Tại phiên tòa, ông S và bà Đ đồng ý tự tháo dỡ các lọai tài sản này. Về hướng Bắc phần diện tích đất chia cho ông T1 có một số trụ bê tông kéo lưới B40 của ông Tôn Long C. Tại phiên tòa ông C xác định phần tài sản của ông có trên phần diện tích đất chia cho ông T1 thì giữa ông và ông T1 tự giải quyết. Ngoài ra trên phần diện tích đất được chia cho ông T1 có một số cây cối, ông T1 được quyền sở hữu các loại cây này.
  • Chia cho ông Tôn Long C diện tích 918,5m² (trong đó có 100m² đất ONT và 818,5m² đất BHK). Trong diện tích đất này có 16,2m² đất mộ xây. Do đó, diện tích ông Tôn Long C được quyền quản lý, sử dụng là 902,3m² (trong đó có 100m² đất ONT và 802,3m² đất BHK) được ký hiệu là Y1, được giới hạn bởi các điểm 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, K1, K2, K3, 29. Trên phần diện tích đất chia cho ông Tôn Long C tài sản của ông C gồm cây keo, trụ bê tông kéo lưới B40... ông C được quyền quản lý, sở hữu.
  • Chia di sản thừa kế bằng giá trị cho bà Tôn Thị M như sau:
  • Bà Tôn Thị Đ phải có nghĩa vụ thanh toán lại giá trị quyền sử dụng đất cho bà Tôn Thị M diện tích 285,625 m² (trong đó có 25m² đất ONT và 260,625m² đất BHK), tương ứng với giá trị: 225.507.778 đồng;

    Ông Tôn Long T1 phải có nghĩa vụ thanh toán lại giá trị quyền sử dụng đất cho bà Tôn Thị M diện tích 237,225 m² (trong đó có 25m² đất ONT và 212,225m² đất BHK), tương ứng với giá trị: 192.242.844 đồng

    Ông Tôn Long C phải có nghĩa vụ thanh toán lại giá trị quyền sử dụng đất cho bà Tôn Thị M diện tích 189,725m² (trong đó có 25m² đất ONT và 164,725m² đất BHK), tương ứng với giá trị: 159.596.474 đồng.

[4] Xét yêu cầu của bà Tôn Thị Đ yêu cầu ông Tôn Long C phải bồi thường thiệt hại cho ông S, bà Đ số tiền 45.500.000 đồng do ông C đập phá nhà vào năm 2020, trong đó có phần diện tích của ông S, bà Đ sửa chữa:

Các bên đương sự đều thừa nhận vào năm 2000 ông S, bà Đ có sửa chữa lại nhà của cụ M1, cụ M2 như xây gạch xung quanh, xây buồng, xây nhà bếp mái lợp tôn, nền láng xi măng để ở. Khi sửa chữa thì được sự đồng ý của các đồng thừa kế của cụ M1, cụ M2.

Phía nguyên đơn thừa nhận vào năm 2010, gia đình nguyên đơn xây dựng nhà mới như hiện nay, còn nhà sửa chữa lại của cụ M1, cụ M2 thì phía nguyên đơn không sử dụng để ở mà chỉ để làm nơi chứa đồ đạc và gỗ của gia đình nguyên đơn. Quá trình giải quyết vụ án, các đồng thừa kế của cụ M1, cụ M2 gồm ông C, bà M và ông T1 đều xác định: Vào năm 2020, do nhà cũ của cha mẹ (trong đó có phần sửa chữa của ông S, bà Đ) bị xuống cấp, sụp đổ nên ông C, bà M và ông T1 đã thông báo cho ông S, bà Đ dỡ dọn gỗ và đồ đạc trong nhà này để ông C, bà M và ông T1 tháo dỡ nhà cũ xây dựng nhà thờ, nhưng ông S, bà Đ không đồng ý dỡ dọn, nên ông C đã thuê người tháo dỡ toàn bộ nhà này. Sau khi tháo dỡ thì toàn bộ vật liệu ông C để tại nền nhà này.

Tòa án đã yêu cầu ông S, bà Đ cung cấp chứng cứ chứng minh giá trị nhà bị thiệt hại 65.000.000 đồng tại thời điểm ông C tháo dỡ nhà (năm 2020), nhưng ông S bà Đ không cung cấp được chứng cứ. Ông S bà Đ cung cấp chứng cứ của ông Lê Văn Á xác nhận có nhận xây dựng nhà cho ông S, bà Đ vào năm 2000 với số tiền công là 20.000.000 đồng, và đơn làm chứng của bà Nguyễn Thị T6 có bán vật liệu xây dựng cho ông S, bà Đ vào năm 2000 với số tiền 45.000.000 đồng. Tính từ thời điểm sửa chữa (năm 2000) xây gạch xung quanh, nền láng xi măng, nhà bếp lợp tôn (loại nhà tạm) đến năm 2010 thì gia đình nguyên đơn không còn sử dụng nhà này nữa, mãi đến năm 2020 ông C đập phá, dỡ dọn là 20 năm nên giá trị sử dụng ngôi nhà này không còn nữa. Mặt khác, trước khi dỡ dọn ngôi nhà này thì ông C, bà M và ông T1 đã thông báo trước cho ông S, bà Đ. Do đó, việc bà Đ yêu cầu ông C phải bồi thường thiệt hại số tiền 45.500.000 đồng là không có căn cứ chấp nhận.

[5] Xét yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB 090847, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 6330 đối với thửa đất số 203, tờ bản đồ số 7, diện tích 3.200,5m², tại thị trấn T, huyện T do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho ông Tôn Long C, bà Nguyễn Thị Thu D ngày 29/5/2017, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Như đã nhận định tại mục [2.2.2] thì việc ông C tự ý đi đăng ký kê khai để được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận lần đầu, và sau đó ông Tôn Long C làm thủ tục cấp đổi, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 203 không được sự đồng ý hoặc ủy quyền bằng văn bản của các đồng thừa kế của cụ M1, cụ M2 là trái pháp luật. Do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên của nguyên đơn.

[6] Về chi phí tố tụng: Tổng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và thẩm định giá tài sản 16.000.000 đồng. Ông Tôn Long C, ông Tôn Long T1, bà Tôn Thị M, bà Tôn Thị Đ mỗi người phải chịu 4.000.000 đồng.

Bà Tôn Thị Đ đã nộp tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc, thẩm định giá tài sản với số tiền là 16.000.000 đồng và đã chi phí xong nên ông Tôn Long C, ông Tôn Long T1, bà Tôn Thị M mỗi người phải hoàn trả lại cho bà Tôn Thị Đ số tiền 4.000.000 đồng.

[7] Về án phí: Ông Tôn Long C và bà Tôn Thị M là người cao tuổi, đã có đơn xin miễn án phí hợp lệ nên được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm. Ông Tôn Long T1 phải chịu 27.093.884 đồng [(577.347.096 đồng – 400.000.000 đồng) x 4% +20.000.000 đồng] án phí dân sự sơ thẩm.

Bà Tôn Thị Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên phần tài sản được hưởng là 27.093.884 đồng [(577.347.096 đồng – 400.000.000 đồng) x 4% +20.000.000 đồng]. Ngoài ra, bà Tôn Thị Đ còn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ông C bồi thường số tiền 45.500.000 đồng không được chấp nhận là: 2.275.000 đồng (45.500.000₫ x 5%). Tổng cộng bà Tôn Thị Đ phải chịu 29.368.884 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà Tôn Thị Đ đã nộp là 11.625.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0000679 ngày 03/12/2021 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi. Do đo, bà Tôn Thị Đ còn phải nộp 17.743.884 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

[8] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[9] Xét ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Đặng Thái S và bà Tôn Thị Đ phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử (phần chia thừa kế) nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 26, các Điều 34, 147, 157, 165, 227, 228, khoản 1 Điều 244, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 634, 636, 637, 678, 679 của Bộ luật Dân sự năm 1995; các Điều 612, 613, 614, khoản 1 Điều 623, Điều 650, Điều 651, Điều 660, Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Điều 12, Điều 14, Điều 26, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Tôn Thị Đ, về việc:
    • Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB 090847, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 6330 đối với thửa đất số 203, tờ bản đồ số 7, diện tích 3.200,5m², tại thị trấn T, huyện T do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho hộ ông Tôn Long C và bà Nguyễn Thị Thu D vào ngày 29/5/2017.
    • Xác định hàng thừa kế thứ nhất của cụ Tôn Long M1 và cụ Trần Thị M2 gồm có: Tôn Long C, Tôn Thị M, Tôn Long T1 và Tôn Thị Đ.
    • Ghi nhận sự tự nguyện của các đồng thừa kế của cụ Tôn Long M1 và cụ Trần Thị M2 gồm có: Tôn Long C, Tôn Thị M, Tôn Long T1 và Tôn Thị Đ về việc để lại diện tích 100m² đất ONT tại vị trí có nhà và các công trình phụ của cụ Trần Thị H cho các con của cụ H gồm các ông, bà Nguyễn Thị H1, Nguyễn Tấn Đ1, Nguyễn Thị V, Nguyễn Thị T2, Nguyễn Thị H2, Nguyễn T3, Nguyễn Thị T4 và Nguyễn Đắt T5 được quyền quản lý, sử dụng; được ký hiệu Y4, được giới hạn bởi các điểm 11,12, 13, 14, K14, K13, K12, K10, K9, 11.
    • Xác định di sản thừa kế của cụ Tôn Long M1 và cụ Trần Thị M2 là thửa đất số 203, tờ bản đồ số 7, diện tích đo đạc thực tế là 2.850,3m² (đã trừ diện tích mộ là 194,6m² và trừ 100m² đất ONT cho các con của cụ Trần Thị H) tại thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi (trong đó có 300m² đất ONT và 2.550,3 m² đất BHK).
    • Tổng giá trị di sản thừa kế của Tôn Long M1 và cụ Trần Thị M2 là: 2.309.388.387 đồng (hai tỷ, ba trăm lẻ chín triệu,ba trăm tám mươi tám nghìn, ba trăm tám bảy đồng).
    • Chia cho bà Tôn Thị Đ diện tích 1.083,7m² (trong đó có 100m² đất ONT và 983,7m² đất BHK). Trong diện tích đất này có 81m² đất mộ xây và 4,5m² mộ đất. Do đó, diện tích bà Tôn Thị Đ được quyền quản lý, sử dụng là 998,2m² (trong đó có 100m² đất ONT và 898,2m² đất BHK) được ký hiệu là Y3, được giới hạn bởi các điểm 9, 10, K9, K10, K11, K12, K13, K14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, K4, K5,K6,K7, K8, 9. Trên phần diện tích đất chia cho bà Đ hiện nay có nhà, vật kiến trúc và các cây cối khác của gia đình bà Đ tiếp tục quản lý, sở hữu.
    • Chia cho ông Tôn Long T1 diện tích 1.039,7m² (trong đó có 100m² đất ONT và 939,7m² đất BHK). Trong diện tích đất này có 55,8m² đất mộ xây và 34,1m² mộ đất. Do đó, diện tích ông Tôn Long T1 được quyền quản lý, sử dụng là 949,8m² (trong đó có 100m² đất ONT và 849,8m² đất BHK) được ký hiệu là Y2, được giới hạn bởi các điểm 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, K8, K7, K6, K5, K4, 28, K3, K2, K1, 55, 56, 57, 1. Trên phần diện tích đất chia cho ông Tôn Long T1 về hướng N (đường nhựa) có một số trụ bê tông kéo lưới B40 và một phần diện tích nền xi măng của vợ chồng ông Đặng Thái S và Tôn Thị Đ. Tại phiên tòa, ông S và bà Đ đồng ý tự tháo dỡ các lọai tài sản này. Về hướng Bắc phần diện tích đất chia cho ông T1 có một số trụ bê tông kéo lưới B40 của ông Tôn Long C. Tại phiên tòa ông C xác định phần tài sản của ông có trên phần diện tích đất chia cho ông T1 thì giữa ông và ông T1 tự giải quyết.Ngoài ra trên phần diện tích đất được chia cho ông T1 có một số cây cối, ông T1 được quyền sở hữu các loại cây này.
    • Chia cho ông Tôn Long C diện tích 918,5m² (trong đó có 100m² đất ONT và 818,5m² đất BHK). Trong diện tích đất này có 16,2m² đất mộ xây. Do đó, diện tích ông Tôn Long C được quyền quản lý, sử dụng là 902,3m² (trong đó có 100m² đất ONT và 802,3m² đất BHK) được ký hiệu là Y1, được giới hạn bởi các điểm 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, K1, K2, K3, 29. Trên phần diện tích đất chia cho ông Tôn Long C tài sản của ông C gồm cây keo, trụ bê tông kéo lưới B40... ông C được quyền quản lý, sở hữu.
    • Chia di sản thừa kế bằng giá trị cho bà Tôn Thị M như sau:
    • Bà Tôn Thị Đ phải có nghĩa vụ thanh toán lại giá trị quyền sử dụng đất cho bà Tôn Thị M diện tích 285,625 m² (trong đó có 25m² đất ONT và 260,625m² đất BHK), tương ứng với giá trị: 225.507.778 đồng;

      Ông Tôn Long T1 phải có nghĩa vụ thanh toán lại giá trị quyền sử dụng đất cho bà Tôn Thị M diện tích 237,225 m² (trong đó có 25m² đất ONT và 212,225m² đất BHK), tương ứng với giá trị: 192.242.844 đồng

      Ông Tôn Long C phải có nghĩa vụ thanh toán lại giá trị quyền sử dụng đất cho bà Tôn Thị M diện tích 189,725m² (trong đó có 25m² đất ONT và 164,725m² đất BHK), tương ứng với giá trị: 159.596.474 đồng.

      Các đương sự có trách nhiệm liên hệ với cơ quan quản lý đất đai để kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

      (Việc phân chia thừa kế có sơ đồ bản vẽ kèm theo. Sơ đồ này là một bộ phận không tách rời bản án này).

  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Tôn Thị Đ về việc yêu cầu ông Tôn Long C phải bồi thường thiệt hại số tiền 45.500.000 đồng (bốn mươi lăm triệu năm trăm nghìn đồng).
  3. Về chi phí tố tụng: Tổng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và thẩm định giá tài sản 16.000.000 đồng. Ông Tôn Long C, ông Tôn Long T1, bà Tôn Thị M, bà Tôn Thị Đ mỗi người phải chịu 4.000.000 đồng.
  4. Bà Tôn Thị Đ đã nộp tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc, thẩm định giá tài sản với số tiền là 16.000.000 đồng và đã chi phí xong nên ông Tôn Long C, ông Tôn Long T1, bà Tôn Thị M mỗi người phải hoàn trả lại cho bà Tôn Thị Đ số tiền 4.000.000 đồng.

  5. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
  6. Về án phí: Ông Tôn Long C và bà Tôn Thị M là người cao tuổi, đã có đơn xin miễn án phí hợp lệ nên được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm. Ông Tôn Long T1 phải chịu 27.093.884 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  7. Bà Tôn Thị Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 29.368.884 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà Tôn Thị Đ đã nộp là 11.625.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0000679 ngày 03/12/2021 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi. Do đo, bà Tôn Thị Đ còn phải nộp 17.743.884 đồng (mười bảy triệu, bảy trăm bốn mươi ba nghìn, tám trăm tám mươi tư đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

  8. Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
  9. Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Quảng Ngãi;
  • - Cục THADS tỉnh Quảng Ngãi;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, Tòa Dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đức Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2025/DS-ST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI về tranh chấp về thừa kế tài sản và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do tài sản bị xâm phạm

  • Số bản án: 04/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp về thừa kế tài sản và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do tài sản bị xâm phạm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về thừa kế tài sản và bồi thường thiệt hại
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger