Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN CÁI RĂNG

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 04/2025/KDTM.
Ngày: 14/3/2025
V/v “tranh chấp HĐ mua bán hàng hóa”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Mỹ Nhung

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Phạm Văn Vĩ.

2/ Ông Nguyễn Vũ Hải Đăng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nhâm Thị Thanh Trang, Thư ký Tòa án nhân dân quận Cái Răng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cái Răng tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Quốc, Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cái Răng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 36/2024/TLST-KDTM, ngày 02 tháng 12 năm 2024. Về tranh chấp “Hợp đồng mua bán hàng hóa”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2025/QĐST- DS, ngày 24 tháng 02 năm 2025. Giữa các đương sự:

1/ Nguyên đơn: Công ty TNHH L1

Trụ sở: ấp R, xã C, huyện T, tỉnh An Giang.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Quách Kim L, SN 1964

Đại diện ủy quyền: Ông Phạm Trường S, sinh năm 1988

Địa chỉ: Tổ F, ấp S, xã N, huyện H, tỉnh Kiên Giang. (Giấy ủy quyền ngày 12/11/2024). Có mặt

2/ Bị đơn: Công ty TNHH C

Trụ sở: O32, đường số A, khu dân cư L, khu đô thị N, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ. (địa chỉ cũ: 45A3, KDC H, khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ)

Người đại diện theo pháp luật: Bà Bùi Thị N, sinh năm 1957

Chức vụ: Giám đốc (SĐT 0913.683.xxx). Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 15/8/2024 và quá trình giải quyết vụ án, đại diện nguyên đơn Công ty TNHH L1 trình bày:

Trong thời gian từ năm 2021 đến năm 2022, Công ty TNHH L1 (viết tắt Công ty L1) với Công ty TNHH C (viết tắt Công ty C) có ký Hợp đồng mua bán (vv mua bán đá các loại) ngày 14/7/2022. Theo thỏa thuận, nguyên đơn đã cung cấp đá xây dựng các loại cho bị đơn và Công ty C đã thanh toán tiền nhiều lần nhưng chưa dứt điểm. Tính đến ngày 31/7/2022 bị đơn đã thanh toán và còn nợ lại 1.036.758.841 đồng (Một tỷ, không trăm ba mươi sáu triệu, bảy trăm năm mươi tám nghìn, tám trăm bốn mươi mốt đồng) chưa thanh toán. Hai bên có làm Bảng đối chiếu công nợ ngày 01/8/2022.

Do đó, Công ty TNHH L1 khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH C thực hiện nghĩa vụ trả nợ mua đá các loại cho Công ty TNHH L1 với tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 01/8/2022 là 1.036.758.841 đồng (Một tỷ, không trăm ba mươi sáu triệu, bảy trăm năm mươi tám nghìn, tám trăm bốn mươi mốt đồng). Nguyên đơn không yêu cầu tính lãi do chậm thanh toán.

Quá trình giải quyết vụ án, tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bị đơn Công ty TNHH C có tình vắng mặt không đến. Sau khi tiến hành các thủ tục cần thiết, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử công khai vắng mặt bị đơn.

Tại phiên tòa hôm nay: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu buộc bị đơn phải trả số tiền hàng còn nợ là 1.036.758.841 đồng (Một tỷ, không trăm ba mươi sáu triệu, bảy trăm năm mươi tám nghìn, tám trăm bốn mươi mốt đồng), không yêu cầu tính lãi. Tuy nhiên, trong giai đoạn thi hành án nếu bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì yêu cầu trả lãi chậm thanh toán theo qui định cho đến khi thanh toán hết nợ.

Bị đơn Công ty TNHH C vẫn tiếp tục vắng mặt không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: là phù hợp quy định pháp luật, không phát hiện vi phạm.

- Về nội dung giải quyết vụ án: Căn cứ vào lời trình bày tại phiên tòa hôm nay của phía nguyên đơn và các chứng cứ khác đã được thu thập hợp pháp trong hồ sơ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn có nghĩa vụ thanh toán số tiền mua hàng hóa còn nợ là 1.036.758.841 đồng (Một tỷ, không trăm ba mươi sáu triệu, bảy trăm năm mươi tám nghìn, tám trăm bốn mươi mốt đồng) và tiền lãi chậm thanh toán trong giai đoạn thi hành án theo yêu cầu của nguyên đơn. Nội dung cụ thể trình bày theo bài phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Việc mua bán đá xây dựng các loại giữa các đương sự được lập văn bản thể hiện bằng Hợp đồng mua bán (vv mua bán đá các loại) ngày 14/7/2022 (BL 13-14). Nguyên đơn đã thực hiện việc bán và giao hàng hóa theo thỏa thuận. Bị đơn đã nhận hàng nhưng không thực hiện việc đúng thoả thuận thanh toán tiền mua hàng hóa cho nguyên đơn. Và đến ngày 01/8/2022 hai bên cùng đã đối chiếu xác nhận công nợ, theo đó bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền 1.036.758.841 đồng (Một tỷ, không trăm ba mươi sáu triệu, bảy trăm năm mươi tám nghìn, tám trăm bốn mươi mốt đồng) (BL 16). Do các bên không thực hiện đúng nghĩa vụ đã thỏa thuận nên xảy ra tranh chấp; cả hai bên đều có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận. Nên đây là quan hệ tranh chấp kinh doanh, thương mại về “Hợp đồng mua bán hàng hóa” được ngành Luật thương mại và Luật dân sự điều chỉnh và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khi các đương sự có yêu cầu theo qui định tại khoản 1 Điều 30 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Xét yêu cầu của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:

Trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bị đơn vẫn luôn vắng mặt. Song căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, cụ thể là Bảng đối chiếu công nợ ngày 01/8/2022 (BL 16 - bản gốc) do nguyên đơn cung cấp, có chữ ký và đóng dấu của cả hai bên. Theo đó thì Công ty TNHH C do bà Nguyễn Thị Hồng P đại diện còn nợ lại Công ty TNHH L1 số tiền mua bán đá xây dựng các loại là 1.036.758.841 đồng (Một tỷ, không trăm ba mươi sáu triệu, bảy trăm năm mươi tám nghìn, tám trăm bốn mươi mốt đồng).

[3] Bị đơn đã được nhận hàng nhưng lại không chịu thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận của hợp đồng, có tính né tránh nghĩa vụ trả nợ. Theo xác nhận của Phòng đăng ký kinh doanh – Sở K thì ngày 14/7/2023, công ty đã đăng ký thay đổi địa chỉ trụ sở là O32, đường số A, KDC lô số D, khu đô thị N, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ và thay đổi người đại diện pháp luật là Bà Bùi Thị N (BL 30-31); nhưng xác minh của Công an phường H thì Công ty không còn hoạt động tại địa chỉ trên thời gian nào thì không rõ (BL 27). Bị đơn đã thay đổi địa chỉ, thay đổi người đại diện pháp luật, thậm chí không còn hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký cũng không thông báo với địa phương cũng như không thông báo cho bên biết biết là vi phạm nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng.

[4] Tại các địa chỉ này, Tòa án đã thực hiện việc niêm yết công khai Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về các phiên họp công khai chứng cứ, hòa giải và Biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ. Thẩm chí nguyên đơn đã thực hiện việc Thông báo tìm kiếm trên các phương tiện thông tin đại chúng (BL 63-67) nhưng bị đơn vẫn không liên hệ giải quyết quyền kiến, thái độ xem thường pháp luật. Coi như phía bị đơn đã tước bỏ quyền tự tham gia tố tụng của mình và mặc nhiên chấp nhận toàn bộ yêu cầu của phía nguyên đơn. Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn có trách nhiệm trả số tiền nợ mua hàng hóa 1.036.758.841 đồng (Một tỷ, không trăm ba mươi sáu triệu, bảy trăm năm mươi tám nghìn, tám trăm bốn mươi mốt đồng) là hoàn toàn có cơ sở chấp nhận theo qui định tại Điều 50, Điều 55 Luật thương mại và Điều 440 Bộ luật dân sự.

[5] Về lãi suất do chậm thanh toán: nguyên đơn không yêu cầu nên không xem xét.

[6] Thời hạn và phương thức trả nợ thuộc thẩm quyền của Cục thực thi hành án dân sự quận Cái Răng nên Hội đồng xét xử không điều chỉnh. Tuy nhiên, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

[7] Bị đơn phải chịu án phí trên phần nghĩa vụ phải thực hiện 36.000.000 đồng + 3%(1.036.758.841 đồng – 800.000.000 đồng) = 43.102.765 đồng (Bốn mươi ba triệu, một trăm lẻ hai nghìn, bảy trăm sáu mươi lăm đồng).

Nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

  • - Điều 30, 35, 39, 147, 227, 228, 264, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
  • - Điều 24, 50, 55 và 306 Luật thương mại;
  • - Điều 357, 430, 440, 468 Bộ luật dân sự.
  • - Căn cứ Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH L1. Buộc bị đơn Công ty TNHH C do bà Bùi Thị N đại diện có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty TNHH L1 số tiền nợ mua hàng hóa là 1.036.758.841 đồng (Một tỷ, không trăm ba mươi sáu triệu, bảy trăm năm mươi tám nghìn, tám trăm bốn mươi mốt đồng) khi án có hiệu lực.

Ghi nhận nguyên đơn không yêu cầu tính lãi suất do chậm thanh toán.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2/ Nguyên đơn Công ty TNHH L1 được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp 21.551.000 đồng (Hai mươi mốt triệu, năm trăm năm mươi mốt nghìn đồng) theo biên lai số 0003894 ngày 14/11/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.

Bị đơn Công ty TNHH C do bà Bùi Thị N đại diện phải chịu 43.102.765 đồng (Bốn mươi ba triệu, một trăm lẻ hai nghìn, bảy trăm sáu mươi lăm đồng) án phí KDTM sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án đối với Công ty TNHH L1; kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết theo qui định đối với Công ty TNHH C do bà Bùi Thị N đại diện thì các đương sự được quyền kháng cáo để xin xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Cần Thơ.
  • - VKSND Q.Cái Răng.
  • - Cơ quan Thi hành án.
  • - Người TGTT.
  • - Lưu HS – BA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thái Mỹ Nhung

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thái Mỹ Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2025/KDTM ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hđ mua bán hàng hóa

  • Số bản án: 04/2025/KDTM
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp HĐ mua bán hàng hóa
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cty N mua hàng không thanh toán đủ bị kiện yêu cầu thanh toán nợ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger