Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NGŨ HÀNH SƠN

TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 04 /2025/HNGĐ-ST

Ngày: 12 - 3 - 2025

V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Anh
  • - Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tuấn Ngọc
  • Ông Nguyễn Dũng
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn.TP Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Ngọc Thùy Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 03 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 69/2024/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2025/QÐST - HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2025;Quyết định hoãn phiên tòa số 69/2025/QĐ - HPT ngày 26 tháng 02 năm 2025 giữa:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1990. Địa chỉ: Tổ B, phường H, quận N, TP Đà Nẵng. Có mặt.

- Bị đơn: Ông Phạm Minh L, sinh năm 1984. Địa chỉ: Tổ B, phường H, quận N, TP Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện gửi đến Toà án và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn trình bày:

Bà Nguyễn Thị C và ông Phạm Minh L kết hôn vào năm 2012, hôn nhân được xây dựng trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND phường H,quận N,Thành phố Đà Nẵng. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại địa bàn phường H, quận N, TP Đà Nẵng. Vợ chồng sống hạnh phúc, đến năm 2020 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã nhau dẫn đến lạnh nhạt tình cảm. Vợ chồng ông bà đã từng nộp đơn xin ly hôn đến Tòa án, qua quá trình tòa án hòa giải đã rút đơn để cùng nhau đoàn tụ, tuy nhiên đến nay mâu thuẫn này vẫn không thay đổi. Nay bà C xác định cuộc sống hôn nhân không thể níu kéo thêm, không còn tình cảm yêu thương ông L nữa, bà yêu cầu Toà án giải quyết được ly hôn với ông Phạm Minh L.

Về con chung: Bà và ông Phạm Minh L có 01 con chung tên là Phạm Thị Thu N, sinh ngày 11/9/2012. Ly hôn bà C có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con Phạm Thị Thu N cho đến khi con đủ 18 tuổi, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu giải quyết

Về nợ chung: Không có

* Bị đơn ông Phạm Minh L vắng mặt có ý kiến thể hiện tại hồ sơ:

Về thời gian điều kiện kết hôn ông thống nhất như bà C trình bày, trước đây bà C đã 01 lần nộp đơn sau đó Tòa án hòa giải vợ chồng chung sống lại cho đến nay và cuộc sống cũng bình thường không có mâu thuẫn gì lớn. Mặt khác bà C thường xuyên công việc đi đâu làm gì ông không kiểm soát được, thường xuyên đi sớm về khuya không có lý do, ông có nói nhưng không thay đổi. Nay bà C làm đơn ly hôn, ông xác định vẫn còn yêu thương bà C, nguyện vọng ông xin đoàn tụ.

Về con chung: 01 con chung tên là Phạm Thị Thu N, sinh ngày 11/9/2012. Ly hôn ông có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con, không yêu cầu bà C cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Ông bà có bỏ một phần vào xây nhà trên đất của mẹ vợ, tuy nhiên sự việc này để ông bà giải quyết riêng chưa yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

* Tại phiên tòa hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án gồm:

1. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thẩm tra viên, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

  • * Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử:
  • Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm này thấy rằng về cơ bản Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 BLTTDS. Thẩm phán đã xác định đúng về thẩm quyền thụ lý vụ án, thời hiệu khởi kiện, quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng theo quy định của BLTTDS.
  • - Việc thu thập chứng cứ: Về cơ bản việc thu thập chứng cứ đảm bảo theo đúng Điều 95 BLTTDS.
  • - Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của BLTTDS về việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Việc cấp, tống đạt các văn bản tố tụng cho VKS và người tham gia tố tụng theo đúng quy định tại Điều 170, 171, 177, 178, 203, 205, 210 BLTTDS.
  • - Về thời hạn chuẩn bị xét xử Tòa án thực hiện đảm bảo theo quy định tại Điều 203 BLTTDS.
  • * Việc tuân theo pháp luật của HĐXX, Thư ký tại phiên tòa:
  • Tại phiên Tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện nguyên tắc xét xử, thủ tục phiên tòa sơ thẩm theo đúng quy định tại chương II, chương XIV BLTTDS. Thư ký được phân công đã thực hiện đúng theo quy định tại Điều 51 BLTTDS.

2. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án:

Từ khi thụ lý cho đến thời điểm này, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 71, 72 BLTTDS. Bị đơn chưa thực hiện đúng.

Căn cứ vào Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình Việt Nam; căn cứ Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn, nuôi con chung của bà Nguyễn Thị C đối với ông Phạm Minh L.

  • - Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị C được ly hôn ông Phạm Minh L.
  • - Về con chung: Đề nghị giao con Phạm Thị Thu N, sinh ngày 11/9/2012 cho bà Nguyễn Thị C được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi, ông Phạm Minh L không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
  • - Về tài sản chung và nợ chung: Do ông L vắng mặt nên không xác định được có hay không tài sản chung và nợ chung nên tách ra giải quyết khi các bên đương sự có yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và qua kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Về thẩm quyền giải quyết, tranh chấp ly hôn và nuôi con chung thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông Phạm Minh L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt nên căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông.

[2] Về nội dung vụ án: Bà Nguyễn Thị C và ông Phạm Minh L kết hôn vào năm 2012, hôn nhân được xây dựng trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, quận N, Thành phố Đà Nẵng. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại địa bàn phường H, quận N, TP Đà Nẵng. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2020 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã nhau dẫn đến lạnh nhạt tình cảm với nhau. Vợ chồng ông bà đã từng nộp đơn xin ly hôn đến Tòa án, qua quá trình hòa giải đã rút đơn để cùng nhau đoàn tụ, tuy nhiên đến nay bà C xác định cuộc sống hôn nhân không thể níu kéo thêm được nữa và không còn tình cảm yêu thương ông L nữa, bà yêu cầu Toà án giải quyết được ly hôn với ông Phạm Minh L.

Về phía ông L xác định trước đây bà C đã 01 lần nộp đơn sau đó Tòa án hòa giải vợ chồng chung sống lại cho đến nay, cũng bình thường không có mâu thuẫn gì lớn. Mặt khác bà C thường xuyên công việc đi đâu làm gì ông không kiểm soát được, thường xuyên đi sớm về khuya không có lý do. Nay bà C làm đơn ly hôn, ông xác định vẫn còn yêu thương bà C, nguyện vọng ông xin đoàn tụ.

[3] Xét yêu cầu của các đương sự thì thấy: Hạnh phúc gia đình chỉ thực sự đạt được khi cả vợ chồng cùng có niềm tin và tình yêu, sự thông cảm và chia sẻ cùng nhau trong cuộc sống nhưng đến nay cả hai ông bà đã không còn giữ được điều này. Đồng thời trước đây bà C đã nộp đơn xin ly hôn và được tòa án hòa giải đoàn tụ tuy nhiên đến nay ông bà cũng không tìm được tiếng nói chung, cũng như không có giải pháp để cùng nhau dung hòa mâu thuẫn cải thiện lại quan hệ vợ chồng. Mặt khác ông L đã được tòa án triệu tập nhiều lần để hòa giải, tuy nhiên ông vẫn vắng mặt thể hiện ý thức bỏ mặc cho sự níu kéo chính cuộc hôn nhân của mình. Do đó thấy mâu thuẫn của vợ chồng đã thật sự trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, thấy có níu kéo cũng không đem lại kết quả gì nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà C đối với ông L là phù hợp với điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[4] Về con chung: Bà C và ông L xác định có 01 con chung tên là Phạm Thị Thu N, sinh ngày 11/9/2012. Ly hôn, cả bà Nguyễn Thị C và ông Phạm Minh L đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con Phạm Thị Thu N cho đến khi con đủ 18 tuổi và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

Xét yêu cầu của các đương sự về việc xin được nuôi con chung thì thấy: Việc yêu cầu xin được nuôi con của ông bà đều là chính đáng, tuy nhiên giao con cho ai trông nom, nuôi dưỡng đều phải dựa vào quyền lợi mọi mặt của con, đảm bảo được sự phát triển của con cả về thể chất lẫn tinh thần, hiện tại cháu N đang có cuộc sống sinh hoạt ổn định, thấy không nhất thiết phải thay đổi xáo trộn cuộc sống của cháu và cũng phù hợp với ý kiến, nguyện vọng của cháu là muốn ở với mẹ, nên yêu cầu xin được nuôi con của bà C là phù hợp Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình nên HĐXX chấp nhận. Yêu cầu của ông L không được chấp nhận.

Do bà C không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên không đề cập giải quyết.

[5] Về tài sản chung: Bà C không yêu cầu giải quyết và nợ chung bà C xác định không có, tuy nhiên tại phiên tòa do ông L vắng mặt nên không có cơ sở xác định vợ chồng có hay không tài sản chung và nợ chung nên HĐXX không đề cập xem xét, tách ra sau này các đương sự nếu có yêu cầu thì giải quyết bằng vụ án khác.

[6] Án phí HNGĐ sơ thẩm: 300.000đ bà Nguyễn Thị C phải chịu khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng theo biên lai thu số 0003486 ngày 24 tháng 10 năm 2024.

Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung" của bà Nguyễn Thị C đối với ông Phạm Minh L.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị C được ly hôn ông Phạm Minh L (Giấy chứng nhận kết hôn số 55/2012, quyển số 01/2011 ngày 12/6/2012 của UBND phường H, quận N, TP . không còn hiệu lực).
  2. Về quan hệ con chung: Giao con Phạm Thị Thu N, sinh ngày 11/9/2012 cho bà Nguyễn Thị C được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi, ông Phạm Minh L không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

    Các bên vẫn được thực hiện mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi cần thiết vì lợi ích chung của con các bên có quyền xin thay đổi người nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

  3. Về tài sản chung và nợ chung: Tách ra khi có yêu cầu thì giải quyết vụ án khác.
  4. Án phí HNGĐ sơ thẩm: 300.000đ bà Nguyễn Thị C phải chịu khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng theo biên lai thu số 0003486 ngày 24 tháng 10 năm 2024.

Án xử công khai sơ thẩm báo cho các đương sự có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay. Riêng bị đơn được kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án .

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các điều 6,7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi Hành án dân sự.

Nơi nhận :

  • - Đương sự;
  • - Viện KSND quận Ngũ Hành Sơn; ĐN
  • - Chi cục THADS quận Ngũ Hành Sơn; ĐN
  • - UBND phường Hòa Quý, quận Ngũ Hành Sơn
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

đã ký

Lương Thị Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2025/HNGĐ-ST ngày 12/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 04/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger