|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 04/2025/HNGĐ-ST Ngày 11 - 3 - 2025 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Trần Minh Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Minh Tâm;
Ông Nguyễn Long Giang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Phương, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Mai Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý 240/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2024 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 06/2025/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Đặng Thị Kim L, sinh năm 1990; nơi cư trú: tổ A, ấp C, xã M, thị xã C, tỉnh Bình Phước, vắng mặt, (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: ông Huỳnh Hữu A, sinh năm 1988; nơi thường trú: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang; nơi tạm trú: tổ A, ấp D, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai nguyên đơn bà Đặng Thị Kim L trình bày:
Bà L và ông Huỳnh Hữu A là vợ chồng. Bà L và ông A có đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã M huyện (nay là thị xã ) C, tỉnh Bình Phước vào ngày 15 tháng 10 năm 2018 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 32. Sau khi kết hôn, bà Q và ông A sinh sống tại tổ A, ấp D, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương. Thời gian đầu, vợ chồng sống hạnh phúc nhưng đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân, do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cãi vã, ông A thường xuyên uống rượu, không quan tâm, chăm sóc gia đình vợ con. Từ đó, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn nhiều hơn, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung trong gia đình và không còn tin tưởng nhau trong cuộc sống, vợ chồng không còn yêu thương nhau. Do mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, bà L yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông A.
Về con chung: bà L và ông A có 02 con chung tên Huỳnh Đặng Bảo T, sinh ngày 16 tháng 11 năm 2018 và Huỳnh Đặng Bảo N, sinh ngày 30 tháng 6 năm 2021. Khi ly hôn, bà L yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung tên Huỳnh Đặng Bảo T và Huỳnh Đặng Bảo N. Bà L không yêu cầu ông A cấp dưỡng nuôi 02 con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: bà L và ông A không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chứng cứ nguyên đơn cung cấp để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện gồm: Giấy chứng nhận kết hôn (bản sao); giấy khai sinh Huỳnh Đặng Bảo N và Huỳnh Đặng Bảo T (bản sao); sao kê tài khoản tiền gửi ngân hàng.
Tòa án không tống đạt trực tiếp được các văn bản tố tụng cho ông A do ông A thường xuyên vắng mặt tại nơi cư trú. Theo kết quả xác minh ngày 08 tháng 11 năm 2024 tại Công an xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương được biết: ông A có đăng ký tạm trú tại nhà trọ bà Nguyễn Thị C, tổ A, ấp D, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương. Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho ông A theo hình thức niêm yết công khai tại nơi cư trú của ông A, trụ sở Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương và trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương. Tuy nhiên, ông A không gửi văn bản trình bày ý kiến của bị đơn về việc bà L yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con và cũng không đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, xét xử.
Theo biên bản xác minh tình trạng hôn nhân giữa bà L và ông A ngày 17 tháng 12 năm 2024 tại nơi cư trú được biết: bà L và ông A là vợ chồng, quá trình chung sống tại địa phương, bà L và ông A có phát sinh mâu thuẫn. Còn nguyên nhân mâu thuẫn thì địa phương không biết.
Tại phiên tòa: nguyên đơn, vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt); bị đơn vắng mặt.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu:
Về tố tụng: từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
Về nội dung: căn cứ vào các Điều 55, 57, 58 và 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
2
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương nhận định:
[1] Về tố tụng: bà L khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con với ông Á nên quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; ông A có nơi cư trú tại tổ A, ấp D, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đối với nguyên đơn là bà L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; đối với bị đơn là ông A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, xét xử nhưng bị đơn ông A vẫn vắng mặt, cố tình không đến Tòa án làm việc là chưa thực hiện đúng quy định về quyền và nghĩa vụ của bị đơn theo quy định pháp luật. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại các Điều 227 và 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: bà L và ông A tự nguyện kết hôn vào năm 2018, có đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã M huyện (nay là thị xã ) C, tỉnh Bình Phước vào ngày 15 tháng 10 năm 2018 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 32, quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông A là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ. Bà L yêu cầu ly hôn với ông A với lý do: vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cãi vã, ông A thường xuyên uống rượu, không quan tâm, chăm sóc gia đình vợ con. Từ đó, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn nhiều hơn, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung trong gia đình và không còn tin tưởng nhau trong cuộc sống, vợ chồng không còn yêu thương nhau.
Qua xác minh tại chính quyền địa phương nơi nguyên đơn và bị đơn cư trú được biết: bà L và ông A là vợ chồng, quá trình chung sống tại địa phương, bà L và ông A có phát sinh mâu thuẫn. Còn nguyên nhân mâu thuẫn thì địa phương không biết
X thấy, bà L và ông A phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không còn sống chung, không quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, không cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc trong gia đình, mục đích sống chung không có ý nghĩa. Bà L và ông A không có điều kiện hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do đó, yêu cầu khởi kiện của bà L đối với ông A là có căn cứ để chấp nhận và phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về con chung: bà L và ông A có 02 con chung tên Huỳnh Đặng Bảo T, sinh ngày 16 tháng 11 năm 2018 và Huỳnh Đặng Bảo N, sinh ngày 30 tháng 6 năm 2021. Khi ly hôn, bà L yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung tên Huỳnh Đặng Bảo T, Huỳnh Đặng Bảo N. Xét thấy, bà L có công việc ổn định và hiện nay con chung tên Phạm Trần Quỳnh A và Phạm Trần Anh K đang sinh sống ổn định với bà L. Do đó, tiếp tục giao 02 con chung tên Huỳnh Đặng Bảo T, Huỳnh Đặng Bảo N cho bà L trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi thành niên là chính đáng và phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
3
Về cấp dưỡng nuôi con: Quá trình giải quyết vụ án, bà L không yêu cầu ông A cấp dưỡng nuôi con 02 con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có cơ sở, phù hợp quy định của pháp luật.
[4] Về án phí hôn nhân và gia đình: nguyên đơn phải chịu theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Khoản 1 Điều 56, các Điều 57, 58 và 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đặng Thị Kim L đối với bị đơn ông Huỳnh Hữu A về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
Về hôn nhân: bà Đặng Thị Kim L được ly hôn với ông Huỳnh Hữu A.
Về con chung: giao 02 con chung tên Huỳnh Đặng Bảo T, sinh ngày 16 tháng 11 năm 2018 và Huỳnh Đặng Bảo N, sinh ngày 30 tháng 6 năm 2021 cho bà Đặng Thị Kim L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bà L không yêu cầu ông A cấp dưỡng nuôi 02 con chung tên Huỳnh Đặng Bảo T và Huỳnh Đặng Bảo N.
Sau khi ly hôn, ông Huỳnh Hữu A có quyền thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. Vì quyền và lợi ích hợp pháp của con chung, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: các đương sự không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
4
2. Về án phí hôn nhân và gia đình: bà Đặng Thị Kim L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ hết vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp trước đây theo biên lai thu tiền số: 0003854 ngày 04 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.
3. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Thảo |
5
Bản án số 04/2025/HNGĐ-ST ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 04/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đặng Thị Kim L - Huỳnh Hữu A
