TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
Bản án số: 04/2025/HNGĐ - PT
Ngày 07 tháng 3 năm 2025
V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình.
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Lê Thị Thu Huyền.
Các Thẩm phán:Ông Nguyễn Khắc Chiên;
Ông Trần Đình Chi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Vân- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ:Ông Trần Xuân Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử công khai vụ án Hôn nhân gia đình phúc thẩm thụ lý số: 38/2024/TLPT- HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Do Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 70/2024/HNGĐ-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ ánra xét xử phúc thẩm số: 04/2025/QĐXXPT - HNGĐ ngày 12tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 175/2025/QĐ -PT ngày 26/02/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Đinh Huy T, sinh năm 1971; địa chỉ: Khu A, xã N, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.
Bị đơn: Bà Vũ Thị N, sinh năm 1973; địa chỉ: Khu A, xã N, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Đinh Thị Hải Y, sinh năm 1993; địa chỉ: Khu A, xã N, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.
- Anh Đinh Huy H, sinh năm 1994; địa chỉ: Khu A, xã N, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.
(Ông T, chị Y, anh H có mặt, bà N vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và lời khai tại Toà án, nguyên đơn ông Đinh Huy T trình bày: Ông và bà Vũ Thị N đăng ký kết hôn năm 1993 tại UBND xã N, huyện Đ, tỉnh Vĩnh Phú (nay là tỉnh Phú Thọ) trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, không bị ai ép buộc. Quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do sống không hợp nhau, bất đồng quan điểm. Khoảng tháng 3 năm 2022 bà N bỏ đi làm giúp việc, từ đó bà N ít về nhà, điện thoại bà N chặn liên lạc. Vợ chồng sống ly thân từ đó, không còn quan tâm liên lạc với nhau. Nay ông T xác định tình cảm vợ chồng không còn nên ông T đề nghị Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà N.
- -Về con chung: Ông T xác định ông và bà N có 02 con chung là Đinh Thị Hải Y, sinh năm 1993 và Đinh Huy H, sinh năm 1994. Hiện đều đã trưởng thành, không đề nghị Tòa án giải quyết.
- -Về tài sản chung: Ông T xác định ông và bà N có khối tài sản chung gồm: Diện tích đất 600m², trong đó có 300m² đất ở, 300m² đất vườn. Thửa đất số 105, tờ bản đồ số 18, địa chỉ khu A, xã N, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Đã được UBND huyện Đ cấp GCNQSDĐ số P439405 ngày 18/8/1999 đứng tên hộ ông Đinh Huy T. Nguồn gốc đất là của bố mẹ ông T cho vợ chồng ông vào năm 1997.(Đo thực tế có diện tích là 1.126,1m², tăng so với giấy CNQSD đất là 526,1m²). Hội đồng định giá tài sản xác định trị giá là: 117.660.000đ (Một trăm mười bảy triệu, sáu trăm sáu mươi nghìn đồng). Ông T xác định thời điểm cấp giấy CNQSD đất năm 1999 hộ gia đình ông gồm 04 khẩu gồm ông T là chủ hộ cùng với bà N là vợ, và 02 người con là chị Y, anh H. Thời điểm này con gái là cháu Đinh Thị Hải Y, sinh năm 1993 và con trai là Đinh Huy H, sinh năm 1994 đều còn nhỏ không có đóng góp gì. Tài sản trên đất gồm:01 nhà 03 gian xây cấp 4, diện tích 81m²; 01 bếpdiện tích xây dựng 41,6m²; 01 Sân đổ bê tông,nền lát gạch mendiện tích 52,8m²;01 mái sân lợp tôn xốp, diện tích 52,8m². Hội đồng định giá tài sản xác định trị giá tài sản trên đất là: 145.080.000đ (Một trăm bốn mươi lăm triệu,không trăm tám mươi nghìn đồng). Ông T xác định khi làm bếp, sân, mái sân thì chị Y, anh H có đóng góp tiền cùng làm. Ông T đã nhận được kết quả của Hội đồng định giá, ông nhất trí với kết quả của Hội đồng định giá và không có thắc mắc, đề nghị gì.
- Khi ly hôn thì ông T đề nghị được sở hữu và sử dụng toàn bộ nhà và đất này, ông sẽ có trách nhiệm thanh toán tiền trị giá tài sản, theo giá của hội đồng định giá cho bà N, và thanh toán tiền công sức cho chị Y và anh H nếu chị Y và anh H đề nghị.
- + Đối với diện tích đất tăng so với giấy CNQSD đất là 526,1m². Ông T đề nghị tiếp tục được sử dụng, ông sẽ làm thủ tục kê khai đối với cơ quan nhà nước theo quy định.
- + Đối với diện tích đất lúa 784m², thửa đất số 90-1 và 91, tờ bản đồ số 22. Ông T không đề nghị Tòa án giải quyết.
- + Đối với các tài sản khác bao gồm: Mái tôn sau nhà diện tích 46,8m²;Lán tạm sau bếp diện tích 40,9m²; 02 chuồng gà diện tích 24,3m²và 39,5m²; Nhà tạm mái tôn diện tích 38,0m²; mái tôn diện tích 41,0m²;mái tôn diện tích 47,0m²; Cổng bê tông diện tích 71,0m².Các tài sản là vật dụng gia đình, cây cối trồng trên đất. Ông T không đề nghị thẩm định, định giá và giải quyết.
- - Về nợ chung: Ông T xác định không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Bị đơn bà Vũ Thị N trình bày:Bà và ông Đinh Huy T đăng ký kết hôn năm 1993 tại UBND xã N, huyện Đ, tỉnh Vĩnh Phú (nay là tỉnh Phú Thọ) trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn, vợ chồng ông bà sống cùng với gia đình ông T, đến năm 1997 thì ra ở riêng. Quá trình chung sống vợ chồng không hạnh phúc, thường xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, ông T hay chửi bới, đánh đập bà. Khoảng tháng 3 năm 2022 bà xin đi làm giúp việc cho các gia đình, không về nhà. Vợ chồng đã sống ly thân từ đó đến nay. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, ông T đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Quan điểm của bà N đồng ý ly hôn.
- -Về con chung: Bà N xác định bà và ông T có 02 con chung là Đinh Thị Hải Y, sinh ngày 11/8/1993 và Đinh Huy H, sinh ngày 02/8/1994. Hiện nay các con đều đã trưởng thành nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
- -Về tài sản chung: Bà N1 định bà và ông T có khối tài sản chung gồm: Diện tích đất 600m², trong đó có 300m² đất ở, 300m² đất vườn. Thửa đất số 105, tờ bản đồ số 18, địa chỉ khu A, xã N, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Đã được UBND huyện Đ cấp GCNQSDĐ số P439405 ngày 18/8/1999 đứng tên hộ ông Đinh Huy T. Nguồn gốc đất là của bố mẹ ông T cho vợ chồng bà vào năm 1997.(Đo thực tế có diện tích là 1.126,1m², tăng so với giấy CNQSD đất là 526,1m²). Hội đồng định giá tài sản xác định trị giá là: 117.660.000đ (Một trăm mười bảy triệu, sáu trăm sáu mươi nghìn đồng). Bà N xác định thời điểm cấp giấy CNQSD đất năm 1999 hộ gia đình gồm 04 khẩu, ông T là chủ hộ cùng với bà N là vợ, và 02 người con là chị Y, anh H. Thời điểm này con gái là cháu Đinh Thị Hải Y, sinh năm 1993 và con trai là Đinh Huy H, sinh năm 1994 đều còn nhỏ không có đóng góp gì. Tài sản trên đất gồm:01 nhà 03 gian xây cấp 4, diện tích 81m²; 01 bếpdiện tích xây dựng 41,6m²; 01 Sân đổ bê tông,nền lát gạch mendiện tích 52,8m²;01 mái sân lợp tôn xốp, diện tích 52,8m². Hội đồng định giá tài sản xác định trị giá tài sản trên đất là: 145.080.000đ (Một trăm bốn mươi lăm triệu,không trăm tám mươi nghìn đồng). Bà N xác định khi làm bếp, sân, mái sân thì chị Y, anh H có đóng góp tiền cùng làm. Bà N đã nhận được kết quả của Hội đồng định giá, bà nhất trí với kết quả của Hội đồng định giá và không có thắc mắc, đề nghị gì.
- Khi ly hôn bà N đề nghị Tòa án chia các tài sản trên theo quy định của pháp luật. Do hiện nay bà không có chỗ ở nên bà N đề nghị Tòa án chia cho bà một phần đất để bàlàm nhà lấy chỗtạo lập nơi ở và ổn định cuộc sống sau khi ly hôn. Bà đề nghị Tòa án chia cho ông T phần đất có các tài sản gồm nhà, bếp và sân, mái tôn sân. Ông T phải thanh toán một phần chênh lệch trị giá tài sản này cho bà và thanh toán tiền công sức cho chị Y, anh H phần công sức mà các con đóng góp khi làm bếp, sân, mái sân.
- + Đối với diện tích đất tăng so với giấy CNQSD đất là 526,1m². Ông T đề nghị tiếp tục được sử dụng, bà N nhất trí không có ý kiến gì.
- + Đối với diện tích đất lúa 784m², thửa đất số 90-1 và 91, tờ bản đồ số 22 bà N không đề nghị Tòa án giải quyết.
- + Đối với các tài sản khác bao gồm: Mái tôn sau nhà diện tích 46,8m²;Lán tạm sau bếp diện tích 40,9m²; 02 chuồng gà diện tích 24,3m²và 39,5m²; Nhà tạm mái tôn diện tích 38,0m²; mái tôn diện tích 41,0m²;mái tôn diện tích 47,0m²; Cổng bê tông diện tích 71,0m².Các tài sản là vật dụng gia đình, cây cối trồng trên đất. Bà N không đề nghị thẩm định, định giá và giải quyết,sau này vào phần đất của ai được chia thì người đó được sử dụng.
- - Về nợ chung: Bà N1 định không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Đinh Thị Hải Y, anh Đinh Huy H (con gái và con trai của ông T, bà N) trình bày:Chị Y và anh H là con đẻ của ông Đinh Huy T và bà Vũ Thị N. Hiện nay ông T và bà N đang giải quyết ly hôn, chia tài sản chung trong vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình tại Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng.Năm 1999 gia đình được UBND huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P489405 ngày 18/8/1999 đứng tên hộ ông Đinh Huy T đối diện tích đất 1384m² gồm: Thửa đất số 105, tờ bản đồ số 18, diện tích 600m² (có 300m² đất ở, 300m² đất vườn);Thửa đất số 90-1 và 91, tờ bản đồ số 22, diện tích 748m²đất lúa. Địa chỉ khu A, xã N, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1999 thì hộ gia đình ông T gồm 04 nhân khẩu là ông Đinh Huy T chủ hộ, vợ là Vũ Thị N, 02 con là Đinh Thị Hải Y, Đinh Huy H. Nguồn gốc đất là củabố mẹ đẻ ông T cho vợ chồng ông T, bà N đất để làm nhà, nên đây là tài sản của ông T và bà N,lúc đó chị Y, anh H còn nhỏ,không có đóng góp gì, nên không đề nghị chia. Chị Y, anh Hoàngđề nghị Tòa án chia cho ông T và bà N theo quy định của pháp luật. Quá trình ông T, bà N xây dựng bếp và công trình phụ trợ, anh H có đóng góp số tiền 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) vào năm 2015. Nay anh H đề nghị Tòa án giao toàn bộ tài sản gồm quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cho ông Đinh Huy T trực tiếp quản lý sử dụng. Nếu ông T được quyền quản lý sử dụng tài sản gắn liền trên đất thì phải thanh toán cho anh H số tiền 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng). Chị Y có đóng góp cùng bố mẹ xây dựng nhà bếp tuy nhiên do thời gian đã lâu nên chị không nhớ cụ thể số tiền. Nay chị Y đề nghị Tòa án giao toàn bộ tài sản gồm quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất cho ông Đinh Huy T trực tiếp quản lý sử dụng, chị không yêu cầu ông T thanh toán tiền công sức cho chị.Do bận công việc nên chị Y, anh H đề nghị Tòa án giải quyết và xét xử vắng mặt.
Qúa trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành thẩm định, định giá tài sản xác định: Ngày 18/8/1999 UBND huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P489405 cho hộ ông Đinh Huy T đối diện tích đất 1.384m²gồm các thửa đất: Thửa đất số 105, tờ bản đồ số 18, diện tích 600m², trong đó có 300m² đất ở, 300m² đất vườn vàThửa đất lúa 90-1 và 91, tờ bản đồ số 22, diện tích 784m².Địa chỉ khu A, xã N, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hộ gia đình ông T gồm 04 khẩu gồm ông T là chủ hộ cùng với bà N là vợ, và 02 người con là Đinh Thị Hải Y, sinh năm 1993 và Đinh Huy H, sinh năm 1994.
- + Đối vớithửa đất số 105, tờ bản đồ số 18, diện tích 600m², trong đó có 300m² đất ở, 300m² đất vườn (đo thực tế có diện tích là 1.126,1m², tăng so với giấy CNQSD đất là 526,1m², hộ ông T sử dụng ổn định, không tranh chấp với ai). Hội đồng định giá tài sản xác định trị giá là 300.000đ/1m² đất ở x 300m² = 90.000.000₫ (Chín mươi triệu đồng) và 92.200đ/1m² đất vườn x 300m² = 27.660.000₫ (Hai mươi bảy triệu, sáu trăm sáu mươi nghìn đồng). Tổng trị giá đất là: 117.660.000₫ (Một trăm mười bảy triệu, sáu trăm sáu mươi nghìn đồng). Diện tích đất tăng so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Hội đồng định giá không thẩm định và định giá.
- + Đối với thửa đất lúa 90-1 và 91, tờ bản đồ số 22, diện tích 784m². Các đương sự thống nhất không đề nghị Thẩm định, định giá nên Hội đồng định giá không tiến hành thẩm định, định giá.
- + Tài sản trên đất đã đượcHội đồng định giá tài sản xác định gồm:01 nhà 03 gian xây cấp 4, diện tích 81m², trị giá là 81.000.000đ (Tám mươi mốt triệu đồng); 01 bếpdiện tích xây dựng 41,6m²trị giá là 37.440.000₫ (Ba mươi bảy triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng); 01 Sân đổ bê tông,nền lát gạch mendiện tích 52,8m2,trị giá là 10.560.000đ (Mười triệu năm trăm sáu mươi nghìn đồng);01 mái sân lợp tôn xốp, diện tích 52,8m², trị giá là 15.780.000₫ (Mười lăm triệu bảy trăm tám mươi nghìn đồng). Tổng trị giá tài sản trên đất là 145.080.000đ (Một trăm bốn mươi lăm triệu,không trăm tám mươi nghìn đồng).
- + Đối với các tài sản khác bao gồm: Mái tôn sau nhà diện tích 46,8m²;Lán tạm sau bếp diện tích 40,9m²; 02 chuồng gà diện tích 24,3m²và 39,5m²; Nhà tạm mái tôn diện tích 38,0m²;Mái tôn diện tích 41,0m²;Mái tôn diện tích 47,0m²; Cổng bê tông diện tích 71,0m².Các tài sản là vật dụng gia đình, cây cối trồng trên đất. Các đương sự không đề nghị thẩm định, định giá nên Hội đồng định giá không tiến hành thẩm định, định giá.
Tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số70/2024/HNGĐ-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 1, Điều 28, điểm a, khoản 1, Điều 35, điểm a, khoản 1, Điều 39, khoản 2, 4 điều 147, điều 157, khoản 2 điều 158, khoản 2 điều 165, khoản 2 điều 166, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 33, Điều 38; khoản 1 điều 51, Điều 55, Điều 59, Điều 61, Điều 62 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a, b khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 về thu, nộp và sử dụng, án phí, lệ phí Toà án;
Xử: Công nhận thuận tình ly hôn giữa ông Đinh Huy T và bà Vũ Thị N.
- -Về con chung: Không đề nghị Tòa án giải quyết.
- -Về tài sản chung:
- + Giao cho ông Đinh Huy T được quyền sở hữu và sử dụng diện tích đất 385 m², trong đó có 200m² đất ở và 185m² đất vườn, có các cạnh theo chỉ giới 36-24-25-3A-3-26-27-28-29-30-15-31-38-37-35-36 (ký hiệu là S2).Là một phần của thửa đất số 105, tờ bản đồ số 18, địa chỉ khu A, xã N, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P439405 do UBND huyện Đ cấp ngày 18/8/1999 tên chủ sử dụng hộ ông Đinh Huy T. Tài sản trên diện tích đất này gồm: 01 nhà 03 gian xây cấp 4, tường xây gạch chỉ, trát xi măng không sơn, nền lát gạch men, mái lợp tôn xốp, diện tích xây dựng 81m²; 01 bếp tường xây gạch chỉ, trát xi măng không sơn, nền lát gạch men, mái lợp tôn xốp, diện tích xây dựng 41,6m²; 01 sân đổ bê tông, nền lát gạch men diện tích 52,8m²; 01 mái sân lợp tôn xốp, diện tích 52,8m2. Tổng trị giá đất và tài sản trên đất là: 222.137.000₫ (Hai trăm hai mươi hai triệu, một trăm ba mươi bảy nghìn đồng). (Có sơ đồ hiện trạng thửa đất kèm theo).
- + Giao cho bà Vũ Thị N2 quyền sở hữu và sử dụng diện tích đất 191,2m² trong đó có 100m² đất ở và 91,2m² đất vườn, có các cạnh theo chỉ giới: 31-32-33-34-22-35-37-38-31 (ký hiệu là S1). Là một phần của thửa đất số 105, tờ bản đồ số 18, địa chỉ khu11, xã N, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P439405 do UBND huyện Đ cấp ngày 18/8/1999 tên chủ sử dụng hộ ông Đinh Huy T. Có trị giá là 38.408.640đ (Ba mươi tám triệu, bốn trăm linh tám nghìn, sáu trăm bốn mươi đồng). Trên diện tích đất này có 01 lán tôn diện tích 47m². (Có sơ đồ hiện trạng thửa đất kèm theo).
- + Để ra 23,8 m² đất vườn, sử dụng làm đường đi chung có các cạnh theo chỉ giới 1-23-22-35-36-1 (ký hiệu là S3).Là một phần của thửa đất số 105, tờ bản đồ số 18, địa chỉ khu A, xã N, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P439405 do UBND huyện Đ cấp ngày 18/8/1999 tên chủ sử dụng hộ ông Đinh Huy T.Trị giá 2.194.360đ (Hai triệu một trăm chín mươi tư nghìn, ba trăm sáu mươi đồng).(Có sơ đồ hiện trạng thửa đất kèm theo).
- + Ông Đinh Huy T, bà Vũ Thị N, có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền làm các thủ tục để được đứng tên nhà và đất được giao quyền sử dụng và sở hữu theo quy định của pháp luật.
- + Ông Đinh Huy T phải có nghĩa vụ thanh toán tiền chênh lệch giá trị tài sản cho bà Vũ Thị N số tiền là: 48.360.000₫ (Bốn mươi tám triệu, ba trăm sáu mươi nghìn đồng) và thanh toán tiền công sức đóng góp cho anh Đinh Huy H số tiền là 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng). Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.
- + Đối với phần diện tích đất 526,1m² nằm ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có các cạnh theo chỉ giới: 1-2-3A-3-4-5-6-7-8-9-10-11-12-13-14-15-16-17-18-19-20-21-34-22-23-1. Ông Đinh Huy T có trách nhiệm liên hệ với cơ quan có thẩm quyền, kê khai, làm các thủ tục để tiếp tục được sử dụng.(Có sơ đồ hiện trạng thửa đất kèm theo).
- 4.Về nợ chung: Không đề nghị nên không đặt ra giải quyết.
- Ngoài ra bản án còn tuyên vềchi phí tố tụng, án phí,tuyên quyền kháng cáo theo luật định.
Kháng cáo: Ngày 04 tháng 10 năm 2024ông Đinh Huy T Là nguyên đơnKháng cáo Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 70/2024/HNGĐ - ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng và đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại theo trình tự phúc thẩm, theo hướngông T đề nghị được sở hữu, sử dụng tài sản chung của vợ chồng và thanh toán chênh lệch tài sản cho bà N, ông không đồng ý chia bằng hiện vật.
Tại phiên tòa phúc thẩmông Đinh Huy T giữ nguyên nội dung kháng cáo và trình bày nguồn gốc của bố mẹ ông cho, đồng ý chia cho bà N nhưng thanh toán cho bà N bằng tiền mặt, không đồng ý chia đất cho bà N.
Tại phiên tòaĐại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm:
Về tố tụng Thẩm phán,Thư ký, Hội đồng xét xử tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật về tố tụng.
Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo củaông Đinh Huy T. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 70/2024/HNGĐ-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng.Về án phí dân sự phúc thẩm:Ông Đinh Huy T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đợc xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, Tòa án nhận định như sau:
- Về tố tụng: Kháng cáo của ông Đinh Huy T được thực hiện trong thời hạn quy định nên đủ điều kiện xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
- Xét nội dung kháng cáo của ông Đinh Huy T về việc đề nghị được sở hữu, sử dụng tài sản chung của vợ chồng và thanh toán chênh lệch tài sản cho bà N, ông không đồng ý chia bằng hiện vật, Hội đồng xét xử xét thấy:Nguồn gốc thửa đất là của bố mẹ ông T để lại. Năm 1999 Ủy ban nhân dân huyện Đ đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình ông T nên xác định đây là tài sản chung của hộ gia đình. Tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hộ gia đình ông T gồm có 04 người là ông T, bà N, chị Y và anh H. Tuy nhiên thời điểm được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chị Y và anh H còn nhỏ, chưa đóng góp được gì, các công trình xây dựng là do vợ chồng ông T xây dựng. Ông T hiện đang sinh sống ổn định trên ngôi nhà mà ông T, bà N đã xây dựng, kể từ khi ông T, bà N sống ly thân, thì ông T là người trực tiếp trông nom, quản lý khối tài sản này nên cần chia cho ông T phần diện tích đất và phần tài sản nhiều hơn bà N. Xét về việc điều kiện thực tế thì hiện nay bà N không có nhà ở, nguyện vọng của bà N xin được chia một phần đất để làm nhà ở ổn định sau khi ly hôn là phù hợp. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét giao cho ông T sở hữu và sử dụng diện tích đất nhiều hơn bà N, ông T không phải thanh toán tiền chênh lệch trị giá đất cho bà N, chia cho bà N một phần diện tích đất phù hợp, không ảnh hưởng đến công trình xây dựng trên đất để bà N tạo lập nơi ở sau khi ly hôn là phù hợp. Do vậy kháng cáo của ông T đề nghị được sở hữu, sử dụng tài sản chung của vợ chồng và thanh toán chênh lệch tài sản cho bà N là không có căn cứ nên không được chấp nhận.
Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử không chấp kháng cáo của ôngĐinh Huy T1. Giữ nguyên Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 70/2024/HNGĐ-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.
- Về án phí dân sựphúc thẩm: Do kháng cáo của ông Đinh Huy T không được chấp nhận nên ông T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự. Không châp nhận kháng cáo của ông Đinh Huy T. Giữ nguyênBản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 70/2024/HNGĐ-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.
Căn cứ vào khoản 1, Điều 28, điểm a, khoản 1, Điều 35, điểm a, khoản 1, Điều 39, khoản 2, 4 Điều 147, Điều 148,Điều 157, khoản 2 điều 158, khoản 2 Điều 165, khoản 2 điều 166, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 33, Điều 38; khoản 1 điều 51, Điều 55, Điều 59, Điều 61, Điều 62 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a, b khoản 5 Điều 27, khoản 1 Điều 29Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 về thu, nộp và sử dụng, án phí, lệ phí toà án.
- Xử: Công nhận thuận tình ly hôn giữa ông Đinh Huy T và bà Vũ Thị N.
- Về con chung: Không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung:
- + Giao cho ông Đinh Huy T được quyền sở hữu và sử dụng diện tích đất 385 m², trong đó có 200m² đất ở và 185m² đất vườn, có các cạnh theo chỉ giới 36-24-25-3A-3-26-27-28-29-30-15-31-38-37-35-36 (ký hiệu là S2).Là một phần của thửa đất số 105, tờ bản đồ số 18, địa chỉ khu A, xã N, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P439405 do UBND huyện Đ cấp ngày 18/8/1999 tên chủ sử dụng hộ ông Đinh Huy T. Tài sản trên diện tích đất này gồm: 01 nhà 03 gian xây cấp 4, tường xây gạch chỉ, trát xi măng không sơn, nền lát gạch men, mái lợp tôn xốp, diện tích xây dựng 81m²; 01 bếp tường xây gạch chỉ, trát xi măng không sơn, nền lát gạch men, mái lợp tôn xốp, diện tích xây dựng 41,6m²; 01 sân đổ bê tông, nền lát gạch men diện tích 52,8m²; 01 mái sân lợp tôn xốp, diện tích 52,8m2. Tổng trị giá đất và tài sản trên đất là: 222.137.000đ (Hai trăm hai mươi hai triệu, một trăm ba mươi bảy nghìn đồng). (Có sơ đồ hiện trạng thửa đất kèm theo).
- + Giao cho bà Vũ Thị N2 quyền sở hữu và sử dụng diện tích đất 191,2m² trong đó có 100m² đất ở và 91,2m² đất vườn, có các cạnh theo chỉ giới: 31-32-33-34-22-35-37-38-31 (ký hiệu là S1). Là một phần của thửa đất số 105, tờ bản đồ số 18, địa chỉ khu11, xã N, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P439405 do UBND huyện Đ cấp ngày 18/8/1999 tên chủ sử dụng hộ ông Đinh Huy T. Có trị giá là 38.408.640đ (Ba mươi tám triệu, bốn trăm linh tám nghìn, sáu trăm bốn mươi đồng). Trên diện tích đất này có 01 lán tôn diện tích 47m². (Có sơ đồ hiện trạng thửa đất kèm theo).
- + Để ra 23,8 m² đất vườn, sử dụng làm đường đi chung có các cạnh theo chỉ giới 1-23-22-35-36-1(ký hiệu là S3). Là một phần của thửa đất số 105, tờ bản đồ số 18, địa chỉ khu A, xã N, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P439405 do UBND huyện Đ cấp ngày 18/8/1999 tên chủ sử dụng hộ ông Đinh Huy T.Trị giá 2.194.360₫ (Hai triệu một trăm chín mươi tư nghìn, ba trăm sáu mươi đồng).(Có sơ đồ hiện trạng thửa đất kèm theo).
- + Ông Đinh Huy T, bà Vũ Thị N, có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền làm các thủ tục để được đứng tên nhà và đất được giao quyền sử dụng và sở hữu theo quy định của pháp luật.
- + Ông Đinh Huy T phải có nghĩa vụ thanh toán tiền chênh lệch giá trị tài sản cho bà Vũ Thị N số tiền là: 48.360.000đ (Bốn mươi tám triệu, ba trăm sáu mươi nghìn đồng) và thanh toán tiền công sức đóng góp cho anh Đinh Huy H số tiền là 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng). Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.
- + Đối với phần diện tích đất 526,1m² nằm ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có các cạnh theo chỉ giới: 1-2-3A-3-4-5-6-7-8-9-10-11-12-13-14-15-16-17-18-19-20-21-34-22-23-1. Ông Đinh Huy T có trách nhiệm liên hệ với cơ quan có thẩm quyền, kê khai, làm các thủ tục để tiếp tục được sử dụng.(Có sơ đồ hiện trạng thửa đất kèm theo).
- Về nợ chung: Không đề nghị nên không đặt ra giải quyết.
- Về chi phí tố tụng: Bà Vũ Thị N tự nguyện xin chịu toàn bộ tiền chi phí tố tụng số tiền là: 6.000.000đ (Sáu triệu đồng). Xác nhận bà N đã nộp đủ.
- Về án phí:
- + Ông Đinh Huy T, bà Vũ Thị N mỗi người phải chịu 75.000đ (Bảy mươi lăm nghìn đồng), tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
- + Án phí chia tài sản: Ông Đinh Huy T phải chịu7.688.850đ (Bảy triệu, sáu trăm tám mươi tám nghìn, tám trăm năm mươi đồng). Bà Vũ Thị N phải chịu4.338.432đ (Bốn triệu, ba trăm ba mươi tám nghìn, bốn trăm ba mươi hai đồng).
- - Án phí nghĩa vụ về tài sản chung: Ông T phải chịu 1.000.000đ (Một triệu đồng).
- - Tổng cộngông Đinh Huy T phải chịu tiền án phí là: 8.763.850đ (Tám triệu, bảy trăm sáu mươi ba nghìn, tám trăm năm mươi đồng). Xác nhận ông T đã nộp tiền tạm ứng án phí là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai số 0002163 ngày 26/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đoan Hùng. Ông T còn phải nộp 8.463.850₫ (Tám triệu, bốn trăm sáu mươi ba nghìn, tám trăm năm mươi đồng). Bà Vũ Thị N phải chịu tiền án phí là: 4.413.432 đ (Bốn triệu bốn trăm mười ba nghìn, bốn trăm ba mươi hai đồng).
- - Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Đinh Huy T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng)tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa số: 0002329 ngày 04/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đoan Hung, tỉnh Phú Thọ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Thị Thu Huyền |
9
10
Bản án số 04/2025/HNGĐ - PT ngày 07/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 04/2025/HNGĐ - PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 07/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn giữa ông T và bà N
