|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 04/2025/HNGĐ-ST
Ngày 06-3-2025
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Quỳnh Như
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Phin;
- Ông Trần Ngọc Hải.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Khiêm - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Linh- Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 91/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 ngày 12 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐXX-ST ngày 07 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2025/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Trần Thị Kim D, sinh năm 1981; nơi ĐKNKTT: Số 34/38 An Đà, phường Lạch Tray, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Số 35E/161 Thiên Lôi, phường Vĩnh Niệm, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng; vắng mặt
- - Bị đơn: Anh Đỗ Đình Đ, sinh năm 1982; nơi cư trú: Số 46 Cao Thắng, Hạ Lý (nay là phường Thượng Lý), quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng; vắng mặt
NỘI D VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn chị Trần Thị Kim D trình bày: Chị Trần Thị Kim D và anh Đỗ Đình Đ kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND phường Hạ Lý (nay là phường Thượng Lý), quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng ngày 22/02/2006. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm nên chị D đã cùng các con về sinh sống tại nhà bố mẹ đẻ của chị và hiện nay chị và các con đã chuyển ra sinh sống tại địa chỉ số 35E/161 Thiên Lôi, phường Vĩnh Niệm, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, hiện tại vợ chồng đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị D làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đỗ Đình Đ.
Về con chung: Anh chị có hai con chung là cháu Đỗ Trần Quỳnh Anh, sinh ngày 13/9/2006 và cháu Đỗ Trần Phương Anh, sinh ngày 09/8/2012. Đối với cháu Quỳnh Anh hiện nay đã đủ 18 tuổi, có khả năng lao động nên chị không đề nghị Tòa án giải quyết. Đối với cháu Phương Anh: Ly hôn, chị D đề nghị Tòa án giao con cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng vì hiện nay cháu sinh sống cùng chị, được chị chăm lo về mọi mặt.
Về cấp dưỡng nuôi con chị đề nghị tự thỏa thuận với anh Đ, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị D đề nghị tự thỏa thuận với anh Đ, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn là anh Đỗ Đình Đ: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng đã tống đạt hợp lệ các thông báo, Quyết định của Tòa án nhưng anh Đ đều vắng mặt nên Tòa án không tiến hành lấy được lời khai của anh; mặt khác, anh Đ cũng không có văn bản thể hiện quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của chị D, tại phiên tòa lần 1 và lần 2 anh Đ đều vắng mặt.
- Xác minh tại chính quyền địa phương thể hiện: Chị D và anh Đ là vợ chồng, quá trình chung sống có mâu thuẫn gì thì địa phương không nắm được. Nay chị D có đơn xin ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung: Anh chị có hai con chung, đề nghị Tòa án xem xét để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho cháu. Về tài sản chung: Địa phương không nắm được anh chị có những tài sản chung gì.
Ý kiến của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng thành phố Hải Phòng: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án; nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 266; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82; 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Kim D, xử chị D được ly hôn anh Đỗ Đình Đ. Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung là Đỗ Trần Phương Anh, sinh ngày 09/8/2012 cho chị D được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con trưởng thành hoặc có thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Đối với cháu Đỗ Trần Quỳnh Anh, sinh ngày 13/9/2006 hiện nay đã đủ 18 tuổi, có khả năng lao động, chị D không yêu cầu nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị D và anh Đ tự thỏa thuận nên không đề nghị Tòa án giải quyết. Về tài sản chung: Anh chị tự thỏa thuận nên không đề nghị Tòa án giải quyết. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng án phí theo quy định của pháp luật. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền: Đây là vụ án về ly hôn, tranh chấp nuôi con. Bị đơn là anh Đỗ Đình Đ có đăng ký hộ khẩu thường trú và sinh sống tại quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa nguyên đơn và bị đơn vắng mặt nhưng nguyên đơn có đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn là anh Đỗ Đình Đ vắng mặt mặc dù đã được tống đạt, thông báo hợp lệ. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Kim D và anh Đỗ Đình Đ kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Hạ Lý (nay là phường Thượng Lý), quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng vào ngày 22/02/2006 là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, phát sinh mâu thuẫn, đến nay vợ chồng đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập anh Đ đến Tòa án để lấy lời khai về việc chị D có đơn xin ly hôn, nhưng anh Đ không hợp tác, cũng không có văn bản thể hiện quan điểm của mình. Không có mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và không có mặt tại phiên tòa. Điều này thể hiện anh Đ không có ý thức hàn gắn, đoàn tụ vợ chồng. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên xử cho chị Trần Thị Kim D được ly hôn anh Đỗ Đình Đ là phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
[4] Về con chung: Chị D và anh Đ có hai con chung là cháu Đỗ Trần Quỳnh Anh, sinh ngày 13/9/2006 và cháu Đỗ Trần Phương Anh, sinh ngày 09/8/2012. Đối với cháu Quỳnh Anh đến nay đã đủ 18 tuổi, có khả năng lao động, chị D không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Đối với cháu Phương Anh: Căn cứ vào lời khai của chị D và các tài liệu do Tòa án thu thập thể hiện cháu đang sinh sống cùng với mẹ là chị D tại nhà ở phường Vĩnh Niệm, quận Lê Chân, Hải Phòng, cháu là con gái nên cần được chị D chăm sóc, chỉ bảo. Cháu Phương Anh có đơn đề nghị được sinh sống cùng mẹ. Mặt khác, anh Đ không có lời khai thể hiện quan điểm về việc nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử giao cháu Đỗ Trần Phương Anh cho chị Trần Thị Kim D được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con trưởng thành hoặc có thay đổi khác theo quy định của pháp luật là phù hợp.
[5] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị D xác nhận chị và anh Đ tự thỏa thuận, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
[6] Về tài sản chung: Chị D xác nhận chị và anh Đ tự thỏa thuận, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị Kim D là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 266; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82; 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Kim D.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Kim D được ly hôn anh Đỗ Đình Đ.
2. Về con chung: Giao con chung là cháu Đỗ Trần Phương Anh, sinh ngày 09/8/2012 cho chị Trần Thị Kim D trực tiếp nuôi dưỡng. Việc nuôi con chung của chị D được thực hiện cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp, người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Đối với con Đỗ Trần Quỳnh Anh, đến nay đã trưởng thành (đủ 18 tuổi), có khả năng lao động, chị D không đề nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Trần Thị Kim D và anh Đỗ Đình Đ tự thỏa thuận, không đề nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
4. Về tài sản chung: Chị Trần Thị Kim D và anh Đỗ Đình Đ tự thỏa thuận, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị Kim D phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Chị D được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai số 0002632 ngày 20 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng; chị đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Trần Thị Kim D và anh Đỗ Đình Đ (vắng mặt) tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Quỳnh Như |
Bản án số 04/2025/HNGĐ-ST ngày 06/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 04/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dung- Đức
