Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN ND QUẬN LIÊN CHIỂU

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2025/HNGĐ-ST

Ngày 01 tháng 3 năm 2025

V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

***

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU TP ĐÀ NẴNG

Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Nguyễn Thi Thi
  • - Các Hội thẩm nhân dân:
    1. Ông Nguyễn Công Chi
    2. Ông Nguyễn Văn Cơ
  • - Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Hồ Việt Công Hưng - Cán bộ Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu – thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Vương – Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 3 năm 2025, tại Hội trường xét xử, Toà án nhân dân quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 510/2024/TLST-HNGĐ ngày 25/11/2024, về việc “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 510/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 01 năm 2025; Quyết định hoãn phiên toà số 03/2025/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Trần Đức D, sinh năm 1995; Địa chỉ: Tổ F phường H, quận L, TP Đà Nẵng. 0708.057.200.
  • - Bị đơn: Bà Võ Thị Kim V, sinh năm 2001; Địa chỉ: Tổ F phường H, quận L, TP Đà Nẵng. Vắng mặt lần 02 không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện gởi đến Tòa án, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Trần Đức D trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Đức D xác nhận ông và bà Võ Thị Kim V kết hôn năm 2020, đăng ký kết hôn tại UBND xã S, huyện S, tỉnh Kon Tum, hôn nhân tự nguyện. Trong quá trình chung sống ông D cho rằng vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vả, hiện tại vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2023 đến nay. Nay nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông Trần Đức D yêu cầu được ly hôn với bà Võ Thị Kim V;

- Về con chung: Ông Trần Đức D xác định vợ chồng có 01 con chung tên là Trần Gia H, sinh ngày 14/10/2020. Ly hôn ông D có nguyện vọng giao con chung cho bà V trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, ông D cấp dưỡng nuôi con số tiền 3.000.000đ/tháng cho đến khi con chung trưởng thành, đủ 18 tuổi.

- Về tài sản chung: Ông Trần Đức D xác định vợ chồng không có.

- Về nợ chung: Ông Trần Đức D xác định vợ chồng không có.

* Bị đơn mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng vẫn không có ý kiến gì và không có mặt tại phiên họp và hòa giải. Đương sự không yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ; Không yêu cầu Tòa án triệu tập ai.

* Qua xác minh tại địa phương thể hiện: Qúa trình chung sống ông D, bà V có xảy ra mâu thuẫn hay không thì địa phương không rõ, trên thực tế 02 vợ chồng không sống chung với nhau, không quan tâm, chăm sóc cho nhau. Về con chung ông D và bà V có 01 con chung là Trần Gia H, sinh ngày 14/10/2020.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

- Về thủ tục tố tụng:

+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay Thẩm phán, HĐXX và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, việc giải quyết vụ án được thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự, đảm bảo cho các đương sự được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.

+ Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay nguyên đơn đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, 71, 234 Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên tại phiên tòa hôm nay bị đơn vắng mặt lần thứ 2 không có lý do, nguyên đơn đã có đơn xin xét xử vắng mặt, do đó đề nghị HĐXX xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

- Về quan điểm đối với việc giải quyết vụ án: Đối với yêu cầu xin ly hôn và nuôi con chung của ông Trần Đức D đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56, 58, 81 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận. Đề nghị HĐXX xử cho ông Trần Đức D ly hôn với bà Võ Thị Kim V; Về con chung: ông bà có 01 con chung tên là Trần Gia H, sinh ngày 14/10/2020. Ly hôn, ông D có nguyện vọng giao con cho bà V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung cho đến khi con trưởng thành, đủ 18 tuổi. Ông D cấp dưỡng nuôi con số tiền 3.000.000đ/tháng. Xét yêu cầu của ông D là tự nguyện, bà V cũng không có ý kiến gì về việc này do đó đề nghị HĐXX chấp nhận; Về tài sản chung, nợ chung: Ông Trần Đức D xác nhận không có và bà Võ Thị Kim V không có ý kiến gì nên đề nghị HĐXX không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiêntòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là vụ án tranh chấp ly hôn, nuôi con chung, bị đơn bà Võ Thị Kim V có cư trú tại quận L, thành phố Đà Nẵng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bà Võ Thị Kim V vẫn vắng mặt không có lý do; Riêng nguyên đơn ông Trần Đức D đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà V, ông D.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Đức D và bà Võ Thị Kim V kết hôn năm 2020, đăng ký kết hôn tại UBND xã S, huyện S, tỉnh Kon Tum, hôn nhân tự nguyện. Trong quá trình chung sống ông D cho rằng vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vả, hiện tại vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2023 đến nay, không còn quan tâm, chăm sóc cho nhau. Do đó, ông Trần Đức D đề nghị được ly hôn với bà Võ Thị Kim V. Qua xác minh tại địa phương được biết mâu thuẫn của vợ chồng là có thật. Trong quá trình giải quyết vụ án, tại các phiên hòa giải cũng như tại phiên tòa, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bà V đều vắng mặt và cũng không trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu ly hôn của ông D. Điều này thể hiện bà V hoàn toàn không có thiện chí muốn hàn gắn hạnh phúc gia đình. Xét thấy mâu thuẫn của vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung thực tế đã không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của ông Trần Đức D đối với bà Võ Thị Kim V.

[2.2] Về con chung: Ông Trần Đức D và Bà Võ Thị Kim V có 01 con chung tên là Trần Gia H, sinh ngày 14/10/2020. Ly hôn, ông D có nguyện vọng giao con cho bà V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung cho đến khi con trưởng thành, đủ 18 tuổi. Ông D cấp dưỡng nuôi con số tiền 3.000.000đ/tháng. Xét đây là sự tự nguyện của ông D, bà V cũng không có ý kiến gì. Do đó căn cứ các điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, cần giao cháu Trần Gia H, sinh ngày 14/10/2020 cho bà Võ Thị Kim V trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Ông Trần Đức D phải cấp dưỡng nuôi con 3.000.000đ/tháng cho đến khi con trưởng thành, đủ 18 tuổi, thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ tháng 04/2025, vào ngày 05 hàng tháng.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Ông Trần Đức D xác nhận ông và bà Võ Thị Kim V không có, bà V cũng không có ý kiến gì nên HĐXX không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí: Ông Trần Đức D phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000đ án phí cấp dưỡng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a Khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và khoản 1 điều 273, của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14.

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện về việc “Ly hôn, nuôi con chung” của ông Trần Đức D đối với bà Võ Thị Kim V.

1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Đức D, sinh năm 1995 được ly hôn với bà Võ Thị Kim V, sinh năm 2001.

(Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 14 ngày 27/3/2020 của UBND xã S, huyện S, tỉnh Kon Tum không còn giá trị kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật).

2. Về quan hệ con chung: Giao con chung là Trần Gia H, sinh ngày 14/10/2020 cho bà Võ Thị Kim V trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con trưởng thành, đủ 18 tuổi. Ông Trần Đức D phải cấp dưỡng nuôi con 3.000.000đ/tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi, thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ tháng 04/2025, vào ngày 05 hàng tháng.

Các bên đương sự có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi vì lợi ích con chung, các bên đương sự có quyền xin thay đổi người nuôi con hoặc yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ thì hàng tháng còn phải chịu thêm tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với số tiền và khoảng thời gian chậm thi hành án.

3. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:

Ông Trần Đức D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0009124 ngày 25/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng.

Ông Trần Đức D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí cấp dưỡng.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND quận Liên Chiểu;
  • - Chi cục THADS quận Liên Chiểu;
  • - UBND P.Hoà Khánh Nam;
  • - Hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà




Trần Nguyễn Thi Thi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2025/HNGĐ-ST ngày 01/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU TP ĐÀ NẴNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 04/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU TP ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Đức D - Võ Thị Kim V
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger